C. Mô tả tính chất các đơn vị đất

MÔ TẢ TÍNH CHẤT CÁC ĐƠN VỊ ĐẤT

Nội dung

  1. 1 I. Nhóm đất phù sa (Fluvisols):
    1. 1.1 I.1. Diện tích và phân bố:
    2. 1.2 I.2. Đặc điểm phát sinh, phân loại và đặc điểm hình thái:
    3. 1.3 I.3. Tính chất lý hóa học đất phù sa:
    4. 1.4 I.4. Khả năng sử dụng:
  2. 2 II. Nhóm đất Gley (Gleysols):
    1. 2.1 II.1. Diện tích và phân bố:
    2. 2.2 II.2. Đặc điểm phát sinh, phân loại và đặc điểm hình thái:
    3. 2.3 II.3. Tính chất lý hóa học đất Gley:
    4. 2.4 II.4. Khả năng sử dụng:
  3. 3 III. Nhóm đất tầng mỏng (Leptosols):
    1. 3.1 III.1. Diện tích và phân bố:
    2. 3.2 III.2. Đặc điểm phát sinh, phân loại và đặc điểm hình thái:
    3. 3.3 III.3. Tính chất và khả năng sử dụng:
  4. 4 IV Nhóm đất cát (Arenosols):
    1. 4.1 IV.1. Diện tích và phân bố:
    2. 4.2 IV.2. Đặc điểm phát sinh, phân loại và đặc điểm hình thái:
    3. 4.3 IV.4. Tính chất lý hóa học:
    4. 4.4 IV.5. Khả năng sử dụng:
  5. 5 V. Nhóm đất đá bọt (Andosols):
    1. 5.1 V.1. Diện tích và phân bố:
    2. 5.2 V.2. Đặc điểm phát sinh, phân loại và đặc điểm hình thái:
    3. 5.3 V.3. Tính chất lý hóa học:
    4. 5.4 V.4. Khả năng sử dụng:
  6. 6 VI. Nhóm đất đen (Luvisols):
    1. 6.1 VI.1. Diện tích và phân bố:
    2. 6.2 VI.2. Đặc điểm phát sinh, phân loại và đặc điểm hình thái:
    3. 6.3 VI.3. Tính chất lý hóa học:
    4. 6.4 VI.4. Khả năng sử dụng:
  7. 7 VII. Nhóm đất nâu (Lixisols):
    1. 7.1 VII.1. Diện tích và phân bố:
    2. 7.2 VII.2. Đặc điểm phát sinh, phân loại và đặc điểm hình thái:
    3. 7.3 VII.3. Tính chất lý hóa học:
    4. 7.4 VII.4. Khả năng sử dụng:
  8. 8 VIII. Nhóm đất xám (Acrisols):
    1. 8.1 VIII.1. Diện tích và phân bố:
    2. 8.2 VIII.2. Đặc điểm phát sinh, phân loại và đặc điểm hình thái:
    3. 8.3 VIII.3. Tính chất lý hóa học:
    4. 8.4 VIII.4. Khả năng sử dụng:
  9. 9 IX. Nhóm đất đỏ (Ferralsols):
    1. 9.1 IX.1. Diện tích và phân bố:
    2. 9.2 IX.2. Đặc điểm phát sinh, phân loại và đặc điểm hình thái:
    3. 9.3 IX.3. Tính chất lý hóa học:
    4. 9.4 IX.4. Khả năng sử dụng:
  10. 10 X. Nhóm đất loang lổ (Plinthosols):
    1. 10.1 X.1. Diện tích và phân bố:
    2. 10.2 X.2. Đặc điểm phát sinh, phân loại và đặc điểm hình thái:
    3. 10.3 X.3. Tính chất lý hóa học:
    4. 10.4 X.4. Khả năng sử dụng:

Phần II đã trình bày về phương pháp và kết quả phân loại đất tỉnh Đồng Nai. Phần này sẽ mô tả tính chất các đơn vị phân loại đất (Soil unit) đã được khoanh vẽ trên bản đồ đất tỉnh Đồng Nai về các nội dung sau:

(1) Quy mô và phạm vi phân bố.

(2) Đặc điểm phát sinh và phân loại đất trong từng nhóm đất chính

(3) Đặc điểm lý hóa học đất của nhóm đất.

(4) Khả năng sử dụng của nhóm đất.

Chú thích một số từ ngữ viết tắt từ đây trở xuống:

- Dung lượng trao đổi cation:              CEC

- Độ no bazơ:                                      BS

- Hữu cơ trong đất:                             OC

- Độ chua hoạt tính:                            pHH2O

- Độ chua trao đổi:                              pHKCl

- Diện tích tự nhiên:                            DTTN

- Gam đất:                                           gđ

- Gam sét:                                            gs                    

I. Nhóm đất phù sa (Fluvisols):

I.1. Diện tích và phân bố:

Nhóm đất phù sa có diện tích 27.929 ha, chiếm 4,76% tổng diện tích tự nhiên, phân bố ở các khu vực đồng bằng ven sông Đồng Nai và cát phẳng thủy triều miền duyên hải, thuộc các huyện Nhơn Trạch, Long Thành, Vĩnh Cửu và thành phố Biên Hòa.

I.2. Đặc điểm phát sinh, phân loại và đặc điểm hình thái:

Các đất hình thành trên các trầm tích sông hoặc sông - biển hiện đại, quá trình thổ nhưỡng xảy ra yếu, đất còn thể hiện rõ đặc tính xếp lớp của trầm tích; thỏa mãn các yêu cầu của vật liệu phù sa được xếp vào nhóm đất phù sa. Ở Đồng Nai, trầm tích sông hoặc trầm tích biển hiện đại có các thành phần: sét, bột, cát, sạn sỏi và vật chất hữu cơ. Căn cứ chỉ tiêu phân loại cấp 2 & 3, nhóm đất phù sa được chia thành 3 đơn vị đất cấp 2 (Soil units) và 9 đơn vị đất cấp 3 (Sub - soil units) căn cứ vào các đặc tính Eutric, Umbric, Thionic, gleyic và salic.

I.3. Tính chất lý hóa học đất phù sa:

Về thành phần cơ giới:

Đất phù sa có thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng:

(i) Đất phù sa trung tính ít chua có thành phần cơ giới nhẹ, thịt pha cát mịn đến thịt pha sét; tỷ lệ cấp hạt sét đạt 20 - 30%, cấp hạt thịt khoảng 30 - 40%, phần còn lại chủ yếu là cát mịn.

(ii) Đất phù sa giàu mùn có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến nặng; tỷ lệ cấp hạt sét thay đổi từ 32 - 52%; đất có biểu hiện tích tụ cấp hạt thịt mịn ở tầng chuyển tiếp AB.

(iii) Đất phèn (phù sa phèn) có thành phần cơ giới nặng; tỷ lệ các cấp hạt trong đất, tùy khu vực và tầng đất, biến động trong khoảng 21 - 43% sét, 20 - 40% thịt và 30 - 40% cát.

Về tính chất lý hóa học:

(i) Đất phù sa trung tính ít chua, độ chua từ chua nhẹ đến ít chua. Trong đó, độ chua hoạt tính (pHH20) khoảng 5,5 - 6,0; độ chua trao đổi (pHKCl) khoảng 5,0 - 5,5; độ chua tiềm tàng chỉ đạt 4 - 6 me/100gam đất (gđ). Cation kiềm tương đối khá đặc biệt là Ca++ (6 - 7 me/100 gam sét (gs). Dung lượng trao đổi (CEC) và độ no bazơ (BS) vào loại trung bình (CEC 17 - 20 me/100 gam sét hoặc 13 - 14 me/100g đất; BS 38 - 56%).

(ii) Đất phù sa giầu mùn từ chua vừa đến ít chua. Trong đó, đất phù sa mùn ít chua có (pHH20) đạt 5,5 - 6,0; (pHKCl) khoảng 5,0 - 5,5, độ chua tiềm tàng chỉ đạt 4 - 7me/100gđ; đất phù sa mùn Gley có pHH2O đạt 5,0 - 5,5, pHKCl khoảng 4,5 - 5,0, độ chua tiềm tàng khoảng 8 - 10 me/100gđ. Dung lượng trao đổi Cation khá cao, đạt 20 - 24 me/100gđ và khoảng 14 - 16 me/100gđ. Độ no Bazơ (BS) có sự phân biệt rõ giữa 2 đơn vị đất phụ. Ở đất phù sa mùn ít chua BS đạt 50 - 55%, đất phù sa mùn Gley BS chỉ đạt 40 - 45%.

(iii) Đất phèn có độ chua hoạt tính và trao đổi có sự phân biệt rất rõ giữa các đất mặn và đất không mặn, và giữa tầng phèn và tầng không phèn. Ở lớp đất mặt, đất phèn không mặn rất chua, pHH20 chỉ đạt 4,0 - 4,5 và pHKCl khoảng 3,5 - 4,0; đất phèn mặn ít chua, pHH20 khoảng 4,5 - 5,5 và pHKCl khoảng 4,0 - 4,5. Ở các tầng phèn, mặn hoặc không mặn, đất đều rất chua, pHH20 chỉ đạt 2,5 - 3,0 và pHKCl xuống đến 2,0 - 2,5. Độ chua tiềm tàng trong các tầng đất đều đạt trị số rất cao 14 - 15 me/100gđ, thậm chí lên đến 15 - 20 me/100gđ trong các tầng chứa phèn. Sulphate hoà tan (SO42 - ) ở các tầng đất phèn đạt trị số khá cao: 0,15 - 0,22%, trong khi đó ở các tầng không phèn, lượng SO42- chỉ đạt 0,01 - 0,02%. Dung lượng trao đổi Cation cao, lên đến 25 - 30 me/100gs và 18 - 20 me/100gđ. Trong phức hệ trao đổi, các Cation kiềm ở lớp đất mặt đạt tỷ lệ trung bình khá: 50 - 55%, trong khi ở các tầng đất phèn chỉ đạt 20 - 30%. Trong các Cation kiềm, Na+ & Mg2+ đạt mức cao đến rất cao (Na+: 1 - 3 me/100gđ, Mg2+: 3 - 4 me/100gđ); Ca2+ & K+ chỉ đạt mức thấp đến rất thấp (Ca2+: 3 - 4 me/100gđ, K+: 0,4 - 0,6 me/100gđ).

Về đặc tính nông học:

Nhìn chung đất phù sa tương đối giầu mùn, đạm, kali nhưng nghèo lân: mùn từ 2 - 4%, riêng đất phù sa trung tính mùn thấp hơn chút ít (1 - 2% OC), ngược lại đất phù sa phèn rất giầu chất hữu cơ (5 -10% OC). Đạm từ 0,1 - 0,25% N. Kali 0,6 - 1,6% K2O. Lân tổng số từ 0,05 - 0,08% P2O5. Riêng đất phèn lân càng nghèo 0,03 - 0,04% P2O5. Khả năng giữ lân của đất phù sa thấp 20 - 30%, nhưng khả năng giữ lân của đất phèn lại cao » 50%. Nên ở đất phèn lân dễ tiêu rất thấp 1 - 3 mg/100g đất.

I.4. Khả năng sử dụng:

Phẫu diện điển hình tại Cù Lao Phố (xã Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa) có hàm lượng một số chất vi lượng trong một kg đất như sau: Co = 4,89 mg, Cu = 7,61mg, Zn = 6,66 mg, Mn = 60,79 mg, Mo = 0,004 mg, B = 0,012 mg...

Với đất phù sa không phèn, khả năng sử dụng chính là trồng lúa 2 - 3 vụ, ngoài ra còn có khả năng trồng hoa màu, rau và cây ăn trái. Riêng đất phù sa phèn việc sử dụng còn phụ thuộc vào bản chất, độ sâu tầng phèn và mức độ xâm nhập mặn. Ở đất phèn nông, mặn, ưu thế chính là trồng rừng ngập mặn hoặc nuôi tôm. Đất phèn sâu, mặn, có thể nuôi tôm hoặc ngăn rửa mặn để trồng lúa nước. Đất phèn nông: Ưu thế chính là trồng lúa nước. Đất phèn sâu: có thể trồng lúa nước hoặc hoa màu cạn vào mùa khô.

II. Nhóm đất Gley (Gleysols):

II.1. Diện tích và phân bố:

Nhóm đất Gley có diện tích 26.758 ha, chiếm 4,56% tổng diện tích tự nhiên. Phân bố trong các thung lũng vùng núi, ngập nước theo mùa hoặc các khu vực đồng bằng thấp xa sông; thuộc các huyện Tân Phú, Định Quán, Vĩnh Cửu, Long Thành và Nhơn Trạch.

II.2. Đặc điểm phát sinh, phân loại và đặc điểm hình thái:

Nhóm đất Gley không đồng nhất được hình thành từ các sản phẩm Deluvi, Proluvi hoặc Coluvi; không còn chịu ảnh hưởng của trầm tích mới Alluvi; phân bố ở địa hình thấp, có mực nước ngầm nông; trong vòng 0 - 50cm quá trình Gley chiếm ưu thế. Hình thái phẫu diện kiểu AC hoặc A(B)C. Trong đó, tầng (B) nếu có, là tầng biến đổi yếu về màu sắc hoặc cấu trúc.

Các lớp đất, kể cả ở các tầng B và C, dù có biến đổi hay không, vẫn còn mang rõ bản chất của trầm tích ban đầu, và do có mực nước ngầm nông nên hầu hết chúng bị Gley mạnh. Căn cứ chỉ tiêu phân loại cấp 2 & 3, nhóm đất Gleysols được chia thành 2 đơn vị đất cấp 2 (Soil units) và 3 đơn vị đất cấp 3 (Sub - soil units) căn cứ vào các đặc tính Umbric, Eutric, Dystric, Thionic, Gleyic.

II.3. Tính chất lý hóa học đất Gley:

Về thành phần cơ giới:

(i) Đất Gley giầu mùn có thành phần cơ giới thay đổi từ thịt pha cát mịn đến sét. Nhìn chung đa số có cơ giới nặng, sét pha thịt mịn đến sét. Hầu hết đất Gley giầu mùn - ít chua có thành phần cơ giới nặng hơn so với đất Gley giầu mùn - chua.

(ii) Đất Gley phèn có thành phần cơ giới nặng, thuộc cấp thịt pha sét đến sét. Tỷ lệ sét trong các tầng đất cao: 35 - 45%, và biến đổi không quy luật theo độ sâu cột đất.

Về tính chất lý hóa học:

(i) Ở đất Gley giầu mùn, ít chua, trị số các loại độ chua ở tầng đất mặt đạt, pHH20: 5,5 - 6,0; pHKCl: 4,1 - 4,6; độ chua thủy phân: 3 - 7 me/100g trong đất; ở các tầng sâu đạt, pHH20: 6,5 - 7,0; pHKCl: 5,0 - 5,5 và độ chua thủy phân đạt 2 - 5 me/100gđ. Ở đất Gley giầu mùn - chua, độ chua cao hơn hẳn so với đơn vị phụ kế trên; ở tầng đất mặt pHH20 chỉ đạt 5,0 - 5,5; pHKCl: 4,5 - 5,0 và độ chua thủy phân khoảng 10 - 12me/100g. Dung lượng trao đổi Cation cao: 20 - 30 me/100g trong sét và khoảng 13 - 17 me/100g trong đất. Tỷ lệ các Cation kiềm trong phức hệ trao đổi có sự phân biệt rõ giữa 2 đơn vị đất phụ. Ở đất Gley mùn, ít chua, Cation kiềm chiếm 40 - 50%, ở lớp đất mặt và 50 - 90% ở các lớp đất sâu; trong khi, ở đất Gley mùn, chua các tỷ lệ theo thứ tự nói trên chỉ đạt 35 - 45% và 20 - 30%.

(ii) Ở đất Gley phèn, độ chua trong đất có liên quan chặt chẽ giữa các tầng chứa phèn và tầng không chứa phèn; ở các tầng không phèn đất chua vừa, pHH20 khoảng 4,5 - 5,0, pHKCl khoảng 4,0 - 4,5, độ chua thủy phân khoảng 6 - 7 me/100g đất; ở các tầng phèn, đất chua mạnh, pHH20 khoảng 4,0 - 4,5, pHKCl khoảng 3,0 - 4,0, độ chua thủy phân lên đến 12 - 15 me/100g. Dung lượng trao đổi Cation khá cao, trong đất lên đến 20 - 24 me/100g và 16 - 18 me/100g. Tuy nhiên, trong phức hệ trao đổi, tỷ lệ các Cation kiềm và kiềm thổ ở lớp đất mặt chỉ đạt 35 - 45%, và thấp hơn nữa, chỉ khoảng 18 - 22% trong các lớp đất phèn.

Về đặc tính nông học:

(i) Đất Gley giầu mùn có hàm lượng mùn và đạm trong đất khá đến giầu, đa số đạt được 1,5 - 2,5% OC và 0,15 - 0,30% N. Lân tổng số thay đổi từ 0,04 - 0,08%, đạt giá trị thấp ở đất Gley giầu mùn - chua và cao hơn ở đất Gley giầu mùn - ít chua. Mức độ giữ chặt lân, nhìn chung, thấp, thay đổi 20 - 30%. Lân dễ tiêu thấp, khoảng 2 - 4mg/100g. Kali tổng số thấp: 0,4 - 1,5%.

(ii) Đất Gley phèn có hàm lượng mùn và đạm giầu đến rất giầu, lên đến 3,0 - 6,0% OC và 0,25 - 0,40% N. Lân tổng số nghèo đến rất nghèo, chỉ đạt 0,03 - 0,04%. Mức độ giữ chặt lân (PR) ở các lớp đất mặt đạt trung bình: 30 - 40%; ở các lớp đất phèn, phần lớn lân bị giữ chặt, chỉ số PR lên đến 80 - 90%. Vì vậy, lân dễ tiêu hầu như chỉ đạt mức rất thấp: 2 - 3 mg/100g. Kali tổng số trung bình thấp: 0,8 - 1,3%. Phẫu diện điển hình ở thành phố Biên Hòa có hàm lượng dễ tiêu một số chất vi lượng (tính theo 1 kg đất): Co = 1,89 mg, Cu = 7,36 mg, Zn = 5,90 mg, Mn = 23,28 mg, Mo = 0,006 mg, B = 0,012 mg...

II.4. Khả năng sử dụng:

Đất Gley chủ yếu thích hợp cho bố trí lúa nước hoặc các cây trồng cạn ngắn ngày mùa khô, cũng có thể thoát thủy hoặc lên líp để trồng một số cây dài ngày hơn như mía, khóm, chuối.

III. Nhóm đất tầng mỏng (Leptosols):

III.1. Diện tích và phân bố:

Đất tầng mỏng có diện tích 3.180 ha, chiếm 0,54% tổng diện tích đất tự nhiên. Phân bố chủ yếu ở các khu vực núi dốc thuộc huyện Xuân Lộc và ít diện tích đất đồi ở Biên Hòa.

III.2. Đặc điểm phát sinh, phân loại và đặc điểm hình thái:

Ở một số khu vực núi dốc, hình thành từ các đá có tốc độ phong hóa chậm, như các đá macma acid hoặc đá cát..., thảm thực vật che phủ kém, quá trình bào mòn bề mặt đất xảy ra mạnh mẽ. Nếu như tầng đất hữu hiệu chỉ còn £ 30 cm, hoặc có 80% mảnh đá cho tới độ sâu 75 cm, đất được xếp vào nhóm đất tầng mỏng. Ở Đồng Nai, nhóm đất này hình thành chủ yếu trên đá granit. Ngoài ra, một ít diện tích đất đồi, do có kết von dày đặc ngay trên bề mặt đất, cũng được xếp vào nhóm đất tầng mỏng này, nhằm gộp các đất có cùng chung một yếu tố hạn chế ở mức độ cao về độ dày tầng đất hữu hiệu.

Căn cứ chỉ tiêu phân loại cấp 2 và 3, nhóm đất tầng mỏng được chia thành 1 đơn vị đất cấp 2 (Soil units) và 2 đơn vị đất cấp 3 (Sub - soil unit) căn cứ vào các đặc tính Dystric, lithic và hyperferric.

III.3. Tính chất và khả năng sử dụng:

Đất tầng mỏng ở có diện tích nhỏ (0,54% TDTTN) có những hạn chế ở mức độ cao về độ dày tầng đất và phân bố ở địa hình dốc mạnh, do đó, ít có ý nghĩa cho sử dụng nông nghiệp. Về hướng sử dụng, đề nghị nên trồng, tu bổ và bảo vệ rừng.

IV Nhóm đất cát (Arenosols):

IV.1. Diện tích và phân bố:

Đất cát có diện tích 613 ha, chiếm 0,10% tổng diện tích tự nhiên. Phân bố thành các dải hẹp - kéo dài, ở phía Nam huyện Nhơn Trạch, phần tiếp giáp giữa bậc thềm phù sa cổ và trầm tích biển trẻ.

IV.2. Đặc điểm phát sinh, phân loại và đặc điểm hình thái:

Đất cát hình thành trên các trầm tích biển gió, các sản phẩm dốc tụ, lũ tích hoặc từ sản phẩm phong hóa của các đá giàu thạch anh như đá cát, đá quarzit, đá granit... Nếu như có thành phần cơ giới thô hơn hoặc bằng cát pha thịt, trong suốt độ sâu 0 - 100 cm hoặc nông hơn nếu gặp tầng đá nền, được xếp vào nhóm đất cát (Arenosols). Ở Đồng Nai, đất được xếp vào nhóm đất cát là những đất được hình thành từ trầm tích biển gió với thành phần là cát bột cùng các vật chất hữu cơ.

Ở cấp phân vị thứ 2 và 3, đất cát ở Đồng Nai được xếp vào đơn vị đất phụ Dystri - Cambic Arenosols (Đất cát mới biến đổi chua). Hình thái phẫu diện kiểu A(B)C. Trong đó, tầng (B) là tầng mới biến đổi theo hướng tích tụ sét, sắt, nhôm; có tỷ lệ sét cao hơn so với tầng A, có các tông màu vàng đỏ và có bão hòa Base < 50%.

IV.4. Tính chất lý hóa học:

Về thành phần cơ giới:

Đất cát có thành phần cơ giới nhẹ, từ cấp cát trung bình pha thịt đến cát mịn pha thịt. Tỷ lệ sét trong đất, đặc biệt là trong lớp đất mặt, rất thấp, chỉ đạt 4 - 6%. Có biểu hiện gia tăng sét theo độ sâu ở mức thấp; tỷ lệ sét ở tầng B có giá trị cao nhất so với sét ở tầng A gia tăng khoảng 3 - 4%.

Về tính chất lý hóa học:

Độ chua đạt mức chua nhẹ, pHH2O khoảng 5,5 - 5,6, pHKCl khoảng 4,3 - 4,4, độ chua thủy phân khoảng 5 - 6 me/100g. Dung lượng trao đổi Cation (CEC) trong sét khá, khoảng 20 - 23 me/100g. Tuy nhiên, do tỷ lệ sét thấp nên CEC trong đất chỉ đạt 4 - 6 me/100g. Tỷ lệ Cation base trao đổi thấp, chỉ đạt 20 - 30%.

Về đặc tính nông học:

Mùn, đạm, lân, kali: Mùn và đạm nghèo (0,9 - 1,0% OC, và 0,06 - 0,10% N). Lân tổng số rất nghèo: 0,01 - 0,02%. Mức độ giữ chặt lân thấp:15 - 20%. Lân dễ tiêu chỉ đạt 2 - 3 mg/100gđ. Kali tổng số rất thấp (0,03 - 0,06%).

IV.5. Khả năng sử dụng:

Do hạn chế về thành phần cơ giới thô nên đất cát có thể sử dụng trồng một số loại cây nông - lâm nghiệp như điều, bạch đàn, phi lao..., nếu có đầu tư cao có thể trồng một số cây ăn quả hoặc rau màu ngắn ngày.

V. Nhóm đất đá bọt (Andosols):

V.1. Diện tích và phân bố:

Đất đá bọt có diện tích 2.422ha, chiếm 0,41% tổng diện tích đất tự nhiên. Phân bố rải rác ở các khu vực miệng núi lửa, thuộc huyện Định Quán, Tân Phú, Thống Nhất, Long Khánh và Xuân Lộc.

V.2. Đặc điểm phát sinh, phân loại và đặc điểm hình thái:

Các đất đá bọt ở Đồng Nai hình thành trên đá bọt bazan núi lửa, có lớp bề mặt thỏa mãn các yêu cầu của đặc tính Andic dày trên 35 cm, được xếp vào nhóm đất đá bọt (Andosols).

Về đặc điểm hình thái, phẫu diện đất chưa có những phân dị rõ ràng, gồm một tầng A với nghĩa là một lớp đất mặt và các lớp đất được xem như tầng B, C lẫn lộn. Kể cả tầng A và các lớp đất phía dưới đều chứa mảnh đá bọt bán phong hóa khá nhiều (60 - 90%).

V.3. Tính chất lý hóa học:

Về thành phần cơ giới:

Đất có thành phần cơ giới nhẹ; các cấp hạt thịt và cát mịn chiếm tỷ lệ khá cao, thịt đạt đến 45 - 52%, cát mịn khoảng 20 - 30%; trong khi đó sét chỉ khoảng 5 - 8%. Đặc biệt mảnh đá chưa hoặc bán phong hóa chiếm tỷ lệ khá cao, không kể những mảnh đá có kích thước > 2cm, các mảnh nhỏ có đường kính 0,2 - 2,0 cm đã chiếm đến 60 - 90% trọng lượng.

Về tính chất lý hóa học:

Độ chua hoạt tính và chua trao đổi trong đất đạt mức gần trung tính, pHH2O khoảng 6,5 - 7,0, pHKCl khoảng 5,5 - 5,6; tuy nhiên, độ chua thủy phân vẫn cao, lên đến 12 - 15 me/100g đất. Dung lượng trao đổi Cation rất cao, lên đến 40 - 50 me/100g sét và khoảng 25 - 30me/100g đất. Đặc biệt, trong phức hệ trao đổi, các Cation base chiếm ưu thế, lên đến 85 - 90%; trong đó, riêng canci đã lên đến 60 - 70%.

Về đặc tính nông học:

Mùn và đạm giầu, lên đến 2 - 3% OC và khoảng 0,2 - 0,3% N. Lân tổng số rất giầu, lên đến 0,6 - 0,9%, thuộc loại đất có lượng lân tổng số cao nhất so với các đất ở Đồng Nai. Mức độ giữ chặt lân rất cao, khoảng 71 - 88%; tuy nhiên, lân dễ tiêu vẫn khá cao, lên đến 10 - 12 mg/100g đất. Kali tổng số trung bình thấp, khoảng 0,8 - 1,0%. Phẫu diện điển hình tại Xuân Lộc có hàm lượng dễ tiêu một số chất vi lượng: Co = 13,74 mg, Cu = 5,12 mg, Zn = 4,16 mg, Mn = 102,80 mg, Mo = 0,01 mg, B = 0,015 mg... trong 1 kg đất.

V.4. Khả năng sử dụng:

Đất đá bọt mặc dù có những hạn chế về địa hình dốc mạnh và có tỷ lệ đá lẫn cao; tuy nhiên, lại có nhiều ưu điểm về độ phì, rất tơi xốp, không chua, có dung lượng trao đổi Cation rất cao, các yếu tố dinh dưỡng đều đạt mức trung bình đến rất giầu. Vì vậy, có thể sử dụng để bố trí nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế cao như đậu nành, thuốc lá, các cây ăn trái và kể cả hoa màu lương thực đặc biệt là cây bắp.

VI. Nhóm đất đen (Luvisols):

VI.1. Diện tích và phân bố:

Đất đen có diện tích 131.605 ha, chiếm 22,44% tổng diện tích tự nhiên. Phân bố thành các vùng khá rộng lớn, quanh các khu vực miệng núi lửa, có địa hình thay đổi từ khá bằng phẳng đến dốc vừa; thuộc các huyện Tân Phú, Định Quán, Xuân Lộc, Long Khánh, Thống Nhất và Long Thành.

VI.2. Đặc điểm phát sinh, phân loại và đặc điểm hình thái:

Các đất đen ở Đồng Nai hình thành chủ yếu trên đá bazan từ các đá mẹ hoặc mẫu chất giầu base, phân bố trong vành đai nhiệt đới ẩm, đã có những biểu hiện khá rõ của quá trình rửa trôi, tích tụ sét, hình thành một tầng B thỏa mãn các yêu cầu của tầng Argic. Tuy nhiên, quá trình phá hủy khoáng sét và rửa trôi kiềm vẫn còn ở mức thấp, dung lượng trao đổi Cation trong sét vẫn cao, đạt được 24 me/100gs và độ no Base vẫn khá, đạt 50%, được xếp vào nhóm đất đen.

Hình thái phẫu diện đặc trưng kiểu A.Bt.C; trong đó, tầng Bt (tầng tích tụ sét) có thể là tầng tích tụ sét có Gley (Btg), tầng tích tụ sét có kết von (Bto) hoặc tầng tích tụ sét, sắt, nhôm (Bts). Việc phân chia đất đen ở cấp phân vị thứ 2 được căn cứ vào sự xuất hiện của nhiều đặc tính, như đặc tính Gley, đặc tính Vertic, đặc tính Ferric và màu sắc của tầng tích tụ... Ở cấp phân vị thứ 3, xét về ý nghĩa sử dụng đất, các mức độ và độ sâu xuất hiện của kết von và đá lẫn được sử dụng làm tiêu chuẩn phân chia đất. Theo những cơ sở nói trên, đất đen ở Đồng Nai được chia làm 4 đơn vị đất với 15 đơn vị đất phụ.

VI.3. Tính chất lý hóa học:

Về thành phần cơ giới:

Đất đen thường có thành phần cơ giới trung bình, từ thịt pha cát mịn đến thịt pha sét. Tỷ lệ sét trong lớp đất mặt thay đổi khoảng 22 - 24%. Riêng đất đen Gley nứt nẻ có thành phần cơ giới nặng hơn; hầu hết có tỷ lệ sét cao: 30 - 50%. Tuy nhiên, ở một vài khu vực, do có ảnh hưởng của sản phẩm dốc tụ phủ mỏng trên bề mặt, làm cho cấp hạt cát thịt trong những lớp đất này chiếm tỷ lệ khá cao và cấp hạt sét chỉ khoảng 8 - 9%. Các đất đen có biểu hiện gia tăng nhẹ theo độ sâu. Tỷ lệ sét giữa tầng B có sét cao nhất so với tầng A tăng khoảng 1,1 - 1,2 lần; đặc biệt, có các màng sét dọc theo các dấu rễ và mảnh đá.

Về tính chất lý hóa học:

Nhìn chung các đơn vị đất đen đều có độ chua hoạt tính và trao đổi đạt mức ít chua đến gần trung tính, pHH2O khoảng 5,5 - 7,8, pHKCl khoảng 5,0 - 6,5. Tuy nhiên, độ chua tiềm tàng vẫn cao: 12 - 19 me/100g đất. Dung lượng trao đổi Cation cao, đạt 30 - 40 me/100g sét và khoảng 22 - 24 me/100g đất. Độ no Base rất cao, lên đến 50 - 80%.

Về đặc tính nông học:

Đất đen giầu mùn, đạm, lân nhưng rất nghèo kali. Đất đen có mùn và đạm rất giầu, đạt khoảng 2,0 - 4,0% OC và 0,12 - 0,35% N. Lân tổng số rất giầu: 0,1 - 0,4%. Mức độ giữ chặt lân cao: 60 - 70%, nên lân dễ tiêu không cao mà chỉ ở mức trung bình thấp: 5 - 8 mg/100g đất. Kali tổng số nghèo, chỉ đạt 0,06 - 0,5%. Phẫu diện điển hình nhóm đất đen Gley tại Xuân Lộc có hàm lượng dễ tiêu một số chất vi lượng: Co = 65,68 mg, Cu = 7,30 mg, Zn = 3,51 mg, Mn = 786,82 mg, Mo = 0,008 mg, B = 0,030 mg... trong 1 kg đất.

VI.4. Khả năng sử dụng:

(i) Các đất đen địa hình cao (LVh, LVx) có thể sử dụng để trồng nhiều loại cây trồng cạn: với cây hàng năm như thuốc lá, các loại đậu đỗ, bông vải, bắp...; với cây dài ngày như: cà phê, chuối, cây ăn trái...

(ii) Các đất đen địa hình thấp (LVg, LVf) có khả năng trồng lúa nước trong mùa mưa hoặc mùa khô ở những vùng có tưới. Mùa khô có thể trồng các cây trồng cạn như bắp, đậu đỗ, bông vải...

VII. Nhóm đất nâu (Lixisols):

VII.1. Diện tích và phân bố:

Đất nâu có 11.377 ha, chiếm 1,94% tổng diện tích tự nhiên. Phân bố ở dạng đồi thấp, ít dốc hoặc bậc thềm thấp; ở phía Đông huyện Xuân Lộc.

VII.2. Đặc điểm phát sinh, phân loại và đặc điểm hình thái:

Các đất nâu ở Đồng Nai hình thành chủ yếu trên đá Granit từ các đá mẹ hoặc mẫu chất có thành phần cơ giới nhẹ, phân bố ở địa hình thấp, trong vùng khí hậu bán khô hạn. Vừa có quá trình phá hủy khoáng sét và rửa trôi sét vào mùa mưa, vừa có quá trình di chuyển các muối hòa tan từ các lớp đất sâu hơn lên các lớp phía trên theo sự bốc thoát hơi nước vào mùa khô lớn hơn quá trình rửa trôi chúng vào mùa mưa. Tạo cho đất vừa có tầng tích tụ sét (tầng Argic) vừa có dung lượng trao đổi Cation thấp (< 24 me/100gs) lại vừa có bão hòa Base cao ( 50%), được xếp vào nhóm đất Lixisols.

Hình thái phẫu diện đặc trưng kiểu A.Bt. Trong đó, ở tầng Bt (tầng tích tụ sét) có thể có kết von (Bto) hoặc Gley (Btg). Đất Lixisols Đồng Nai được chia ra 3 đơn vị đất với 4 đơn vị phụ.

VII.3. Tính chất lý hóa học:

Về thành phần cơ giới:

Đất có thành phần cơ giới nhẹ. Ở các tầng đất mặt trong vòng 0 - 50 cm, cấp hạt sét chỉ đạt 5 - 6%, trong khi cấp hạt cát lên đến 80 - 85%; đặc biệt, cát thô chiếm đến 40 - 50% cấp hạt cát. Ở các tầng tích tụ sét, lượng sét tăng lên rõ rệt, đạt đến 30 - 40% đồng thời cấp hạt cát chỉ còn khoảng 40 - 50%.

Về tính chất lý hóa học:

Độ chua trong đất đạt mức trung tính, pHH2O khoảng 6,8 - 7,2, pHKCl lên đến 6,0 - 6,2, độ chua thủy phân cũng chỉ khoảng 5 - 6 me/100g đất. Dung lượng trao đổi Cation thấp, khoảng 14 - 23 me/100g sét và khoảng 3 - 10 me/100g đất. Tuy nhiên, trong phức hệ trao đổi, các Cation base chiếm ưu thế rõ ràng, lên đến 60 - 90%.

Về đặc tính nông học:

Mùn và đạm tổng số trung bình thấp đến nghèo, chỉ đạt 0,8 - 1,0% OC và 0,08 - 0,09% N. Lân tổng số rất nghèo: 0,03%. Lân dễ tiêu thấp chỉ đạt 2 - 3 mg/100gđ. Kali tổng số lại rất giầu, lên đến 2,0 - 2,3%. Phẫu diện điển hình tại Xuân Lộc có hàm lượng dễ tiêu một số chất vi lượng (trong 1 kg đất): Co = 0,58 mg, Cu = 0,18 mg, Zn = 2,56 mg, Mn = 25,16 mg, Mo = 0,004 mg, B = 0,012 mg...

VII.4. Khả năng sử dụng:

Nhìn chung đất nâu có độ phì kém, lại phân bố ở khu vực có khí hậu bán khô hạn, nguồn nước ngọt khó khăn. Do đó, mức độ và phạm vi thích nghi với cây trồng thấp. Với các đất địa hình cao (Lxr, Lxf) có thể sử dụng để trồng 1 - 2 vụ cây ngắn ngày như lúa, đậu đỗ, dưa, bí, lạc..., nên dành một diện tích đáng kể cho việc trồng và bảo vệ rừng nhằm khắc phục tình trạng thiếu nước của vùng. Với đất ở địa hình thấp (Lxg) có khả năng trồng lúa nhưng yêu cầu phải đầu tư cao.

VIII. Nhóm đất xám (Acrisols):

VIII.1. Diện tích và phân bố:

Đất xám có diện tích lớn nhất vùng điều tra với 234.864 ha, chiếm 40,05% tổng diện tích đất tự nhiên. Phân bố trên nhiều dạng địa hình khác nhau, từ những dạng bằng thấp ven hợp thủy, các bậc thềm khá bằng phẳng, các dạng đồi thấp thoải đến địa hình núi cao dốc. Về phân bố không gian, đất xám có trong hầu hết các huyện ở Đồng Nai; tập trung nhiều ở Vĩnh Cửu, Long Thành và Nhơn Trạch.

VIII.2. Đặc điểm phát sinh, phân loại và đặc điểm hình thái:

Các đất đã phát triển, hình thành trên các loại đá mẹ hoặc mẫu chất nghèo base và thường có thành phần cơ giới nhẹ; phân bố trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm; khoáng sét đã bị biến đổi đáng kể; quá trình rửa trôi sét và các Cation kiềm và kiềm thổ xảy ra mạnh mẽ; tạo cho đất có tầng tích tụ sét (tầng Argic), có dung lượng trao đổi Cation thấp (< 24 me/100gs) và có bão hòa Base thấp (< 50%), được xếp vào nhóm đất xám. Hình thái phẫu diện đặc trưng kiểu A.Bt hoặc A.Bt.C. Trong đó, ở tầng Bt (tầng tích tụ sét) có thể có kết von (tầng Bto), có Gley (Btg) hoặc tích lũy sắt, nhôm yếu (Bts). Đất xám ở Đồng Nai được chia ra 5 đơn vị cấp 2 và 17 đơn vị phụ.

VIII.3. Tính chất lý hóa học:

Về thành phần cơ giới:

Đất xám điển hình (Ach), đất xám cơ giới nhẹ (Acr) và đất xám gley, có thành phần cơ giới nhẹ,thịt pha cát mịn đến thịt pha sét - cát. Ở tầng đất mặt, cấp hạt sét chiếm khoảng 10 - 22% thậm chí có khu vực chỉ có 6 - 8% sét và có sự gia tăng rõ theo độ sâu. Mức độ gia tăng đạt khoảng 1,2 - 1,7 lần. Cấp hạt cát chiếm đến 50 - 70%, trong đó hầu hết là cát mịn.

Đất xám có kết von (ACf) và đất xám vàng (ACx) có thành phần cơ giới trung bình: thịt pha sét - cát đến thịt pha sét. Cấp hạt sét ở tầng đất mặt khoảng 22 - 35% và gia tăng khá rõ theo độ sâu, tỷ lệ sét ở tầng B so với tầng A khoảng 1,15 - 1,50 lần.

Về tính chất lý hóa học:

Độ chua đạt mức chua vừa đến khá chua, pHH2O khoảng 4,8 - 6,5 pHKCl khoảng 4,2 - 5,5. Độ chua thủy phân lên đến 8 - 12 me/100g đất. Dung lượng trao đổi Cation thấp, chỉ khoảng16 - 22 me/100g trong sét và 8 - 10 me/100g trong đất. Ở các tầng tích tụ CEC chỉ đạt 14 - 16 me/100gs và 5 - 10 me/100 g sét. Trong đó, các Cation kiềm trao đổi kể cả tầng A và B đều rất thấp, chỉ đạt 4,0 - 4,5 me/100g sét. Dung lượng trao đổi Cation hữu hiệu (CEC) cũng chỉ khoảng 5,0 - 5,5me/100g sét. Vì vậy, độ no Base ở tầng B chỉ đạt 35 - 40%.

Về đặc tính nông học:

* Đất xám điển hình (ACh) có mùn và đạm tổng số trung bình thấp: khoảng 1,4 - 1,6% OC và 0,15 - 0,16% N. Lân tổng số trung bình thấp đến nghèo: 0,05 - 0,08%. Mức độ giữ chặt lân thấp: 30 - 35%. Lân dễ tiêu nghèo: 3 - 4 mg/100g đất. Kali tổng số nghèo, chỉ đạt 0,3 - 0,5%.

* Đất xám vàng (ACx) có mùn và đạm tổng số trung bình thấp: 1,2 - 1,8% OC và khoảng 0,12 - 0,20% N. Lân tổng số nghèo: 0,03 - 0,07%. Mức độ giữ chặt lân thấp: 20 - 30%. Lân dễ tiêu nghèo đến rất nghèo, chỉ khoảng 2 - 3 mg/100g đất. Kali tổng số hầu hết ở mức trung bình thấp: 0,8 - 1,2%.

* Đất xám cơ giới nhẹ rất nghèo mùn, đạm tổng số, lân tổng số, kali tổng số và lân dễ tiêu rất nghèo: 0,6 - 1,2% OC và 0,06 - 0,11% N; 0,02 - 0,03% P2O5; 1,5 - 3,0 mg/100gđ P2O5; 0,03 - 0,04% K2O. Mức độ giữ chặt lân thấp: 18 - 20%

* Đất xám có kết von (Acf) có mùn và đạm giầu, đạt 2,5 - 3,5% OC và khoảng 0,2 - 0,3% N. Lân tổng số trung bình khá: 0,08 - 0,16%. Mức độ giữ chặt lân trung bình: 35 - 45%. Lân dễ tiêu thấp, chỉ đạt 3 - 4 mg/100g đất. Kali tổng số giầu, lên đến 1,4 - 2,4%.

* Đất xám gley có mùn và đạm tổng số đạt mức trung bình khá, đạt 1,2 - 1,8% OC và khoảng 0,10 - 0,16% N. Lân tổng số rất nghèo: 0,02 - 0,03%. Lân dễ tiêu chỉ đạt 1,5 - 2,5 mg/100gđ. Kali tổng số nghèo: 0,3 - 0,4%.

Phẫu diện đất xám điển hình trên phù sa cổ ở Long Thành có hàm lượng chất vi lượng (trong 1 kg đất): Co = 2,32 mg, Cu = 0,27 mg, Zn = 2,09 mg, Mn = 9,06 mg, Mo = 0,006 mg, B = 0,024 mg...

VIII.4. Khả năng sử dụng:

Khả năng sử dụng đất xám phụ thuộc rất nhiều vào địa hình và độ dầy tầng đất mịn:

* Các đất xám địa hình cao thoát nước và có tầng đất hữu hiệu dầy có khả năng trồng được nhiều loại cây kể cả cây dài ngày và cây hàng năm, đặc biệt là các cây dài ngày có giá trị kinh tế cao như cao su, điều, cây ăn trái.

* Các đất có tầng đất hữu hiệu mỏng (ACF, ACx), chỉ có khả năng trồng cây hàng năm. Những nơi đất quá mỏng hoặc địa hình dốc chỉ nên trồng rừng nhằm bảo vệ đất và môi trường.

* Các đất xám địa hình thấp (Acg) có khả năng trồng lúa nước và hoa màu cạn vào mùa khô hoặc đầu mùa mưa.

IX. Nhóm đất đỏ (Ferralsols):

IX.1. Diện tích và phân bố:

Đất đỏ có 95.389 ha, chiếm 16,27% tổng diện tích tự nhiên. Phân bố chủ yếu ở các dạng đồi núi thấp, ít dốc đến dốc vừa; tập trung nhiều ở các huyện Long Khánh, Thống Nhất, Xuân Lộc, Định Quán, Bắc Vĩnh Cửu và Tây Bắc Tân Phú.

IX.2. Đặc điểm phát sinh, phân loại và đặc điểm hình thái:

Các đất đỏ ở Đồng Nai hình thành trên các đá bazan từ  Base đến trung tính, phân bố trong vành đai khí hậu nhiệt đới ẩm, quá trình phong hóa đá và biến đổi khoáng sét xảy ra nhanh và kiệt, hình như không còn các khoáng sét có khả năng phong hóa, các khoáng thứ sinh còn tồn tại trong đất chủ yếu là Kaolinite và các khoáng Sesquioxide; đồng thời quá trình rửa trôi base và tích tụ sắt nhôm tương đối xảy ra mạnh mẽ; tạo cho đất có các tầng B thỏa mãn các nhu cầu của tầng B Ferralic, được xếp vào nhóm đất Ferralsols. Hình thái phẫu diện đặc trưng kiểu A.Bs hoặc A.Bs.C. Trong đó, tầng Bs (tầng tích tụ sắt, nhôm) có màu nâu đỏ, đỏ thẫm hoặc đỏ vàng, có kết cấu viên, tơi, xốp; có thể có kết von và tích lũy sét tương đối. Căn cứ vào màu sắc và các đặc tính Acric, Ferric, Lithic, đất đỏ ở Đồng Nai được chia thành 2 đơn vị cấp 2 và 11 đơn vị cấp 3.

IX.3. Tính chất lý hóa học:

Về thành phần cơ giới:

Đất có thành phần cơ giới nặng, thuộc các cấp thịt pha sét đến sét. Cấp hạt sét chiếm đến 45 - 55% và lên đến 55 - 65% ở các tầng tích tụ. Có biểu hiện gia tăng sét theo độ sâu yếu, tỷ lệ sét ở tầng B so với tầng A đạt khoảng 1,1 - 1,2 lần.

Về tính chất lý hóa học:

Độ chua trong đất từ chua vừa đến ít chua, pHH2O: 5,0 - 6,0, pHKCl: 4,0 - 5,0. Độ chua thủy phân khá cao 11 - 15 me/100 g đất. Dung lượng trao đổi Cation thấp: 13 - 20 me/100g đất và khoảng 4 - 8 me/100g đất; trong đó, Base trao đổi chỉ chiếm khoảng 35 - 40%.

Về đặc tính nông học:

Mùn và đạm tổng số khá: 1,2 - 1,8% OC và 0,12 - 0,20% N. Lân tổng số khá đến giầu: 0,15 - 0,25%. Mức độ giữ chặt lân khá cao. Vì vậy, lân dễ tiêu chỉ đạt mức thấp đến trung bình thấp: 4 - 7 mg/100g đất. Kali tổng số nghèo: 0,1 - 0,5%.

Phẫu diện điển hình tại Long Khánh có hàm lượng các chất vi lượng (trong 1 kg đất): Co = 6,60 mg, Cu = 2,80 mg, Zn = 2,52 mg, Mn = 79,16 mg, Mo = 0,010 mg, B = 0,015 mg...

 

IX.4. Khả năng sử dụng:

Đất đỏ nhìn chung có độ phì tương đối cao, nó thích hợp với nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế cao. Tuy vậy khả năng sử dụng của đất này ở Đồng Nai phụ thuộc rất nhiều vào độ dầy tầng đất hữu hiệu.

* Các đất có tầng hữu hiệu dầy nên dành cho việc trồng các cây dài ngày có giá trị kinh tế cao như cao su, cà phê, tiêu và các cây ăn trái.

* Các đất có tầng hữu hiệu mỏng dành cho việc trồng cây hàng năm như các loại đậu, bắp, hoa màu khác. Có thể trồng được các cây dài ngày như cây điều.

X. Nhóm đất loang lổ (Plinthosols):

X.1. Diện tích và phân bố:

Đất loang lổ chỉ có diện tích 139 ha, chiếm 0,02% tổng diện tích tự nhiên. Phân bố chủ yếu ở vùng chuyển tiếp giữa bậc thềm phù sa cổ và mới; thuộc thành phố Biên Hoà và huyện Long Thành.

X.2. Đặc điểm phát sinh, phân loại và đặc điểm hình thái:

Các đất hình thành từ các đá hoặc mẫu chất có tuổi thường là cổ hơn các trầm tích Pleistocene muộn hoặc Holocene sớm, phân bố ở các vị trí chân sườn đồi hoặc các dạng địa hình tương đối bằng phẳng và thấp, nơi có sự  tích tụ tuyệt đối của sắt từ các vùng cao hơn chuyển đến, tạo thành Plinthic. Khi trong đất có một tầng chứa ³ 25% thể tích là Plinthic, dày ³ 15 cm, xuất hiện trong vòng 50 cm hoặc trong vòng 125 cm dưới một tầng E hoặc dưới một tầng Gley trong vòng 100 cm hoặc dưới một tầng Stagnic trong vòng 50 cm, đất được xếp vào nhóm Plinthosols.

Ở cấp phân vị thứ 2 và 3, đất loang lổ ở Đồng Nai được xếp vào đơn vị đất phụ là: Endo - Gleyi - Dystric Plinthosols (Đất loang lổ chua, Gley). Tiêu chuẩn xác định: Một đất Plinthosols có bão hòa Base < 50% và có Gley xuất hiện trong vòng 50 - 100 cm.

X.3. Tính chất lý hóa học:

Về thành phần cơ giới:

Thành phần cơ giới ở các lớp đất mặt có biến động rất lớn, từ thịt pha cát đến thịt pha sét - cát, cấp hạt sét thay đổi từ 15 - 25%, thậm chí 30 - 35%. Tuy nhiên, ở các tầng tích tụ, đa số đất loang lổ có thành phần cơ giới nặng, cấp hạt sét lên đến 40 - 50%.

Về tính chất lý hóa học:

Đất chua vừa pHH20 khoảng 5,0 - 5,5, pHKCl khoảng 4,0 - 4,5. Độ chua tiềm tàng trung bình: 8 - 10 me/100g đất. Dung lượng trao đổi Cation thấp: 15 - 18 me/100g sét và khoảng 7 - 8 me/100g đất. Độ no Base thấp: 40 - 45%.

Về đặc tính nông học:

Mùn và đạm tổng số trung bình thấp; đạt 1,2 - 1,6% OC và 0,10 - 0,15% N. Lân tổng số trung bình thấp, khoảng 0,05 - 0,07%. Mức độ giữ chặt lân thấp: 20 - 30%. Lân dễ tiêu nghèo, chỉ khoảng 2 - 3 mg/100gđ. Kali tổng số nghèo: 0,3 - 0,4%.

X.4. Khả năng sử dụng:

Đất loang lổ chua, nhìn chung, có độ phì thấp; tuy nhiên, đất thường được phân bố ở địa hình thấp, bằng và có mực nước ngầm nông; vì vậy, thích hợp cho bố trí cây hàng năm như lúa nước, hoa màu lương thực, đậu đỗ; có thể sử dụng để trồng một số cây ăn quả như bưởi, cam, chanh... 

Comments