D. Quỹ đất tỉnh Đồng Nai

QUỸ ĐẤT TỈNH ĐỒNG NAI


I. Quỹ đất xét về số lượng:

I.1. Tỷ trọng các nhóm đất trong quỹ đất:

Bảng 3: CƠ CẤU QUỸ ĐẤT TỈNH ĐỒNG NAI

 

NHÓM ĐẤT

DIỆN TÍCH (HA)

TỶ LỆ (%)

1. Đất phù sa (Fluvisols)

27.929

4,76

2. Đất Gley (Gleysols)

26.758

4,56

3. Đất tầng mỏng (Leptosols)

3.180

0,54

4. Đất cát (Arenosols)

613

0,10

5. Đất đá bọt (Andosols)

2.422

0,41

6. Đất đen (Luvisols)

131.605

22,43

7. Đất nâu (Lixisols)

11.377

1,94

8. Đất xám (Acrisols)

234.864

40,04

9. Đất đỏ (Ferralsols)

95.389

16,26

10. Đất loang lổ (Plinthosols)

139

0,02

Sông hồ

45.930

7,83

Đất khác

6.434

1,10

TỔNG DIỆN TÍCH TỰ NHIÊN:

586.640

100

Bảng 01 và bảng 02 cho thấy: tỉnh Đồng Nai có 10 nhóm đất chính (Soil group), trong đó có 3 nhóm đất chiếm diện tích lớn nhất là: nhóm đất xám (Acrisols) có tỷ trọng cao nhất 40,05% diện tích tự nhiên, nhóm đất đen (Luvisols) 22,44%, đất đỏ (Ferralsols) 16,27%. Các nhóm còn lại có tỉ trọng ít hơn 5%.

I.2. Tỷ trọng các đơn vị đất của các nhóm đất chính:

I.2.1. Nhóm đất xám (Acrisols):

Nhóm đất xám chiếm tỷ trọng cao nhất 40,05% tổng quỹ đất toàn tỉnh, được chia thành 5 đơn vị đất cấp 2 (Soil units) và 17 đơn vị đất cấp 3 (Sub - soil units).

(1) Đất xám vàng chiếm tỷ trọng cao nhất (32,82% quỹ đất xám), trong đó đất xám vàng có tầng đá nông (Hình thành trên phiến sét) chiếm tỷ trọng rất cao 26,22%.

(2) Đất xám có kết von chiếm một tỷ trọng đáng kể (28,92% quỹ đất xám), trong đó đất có tầng kết von nông tầng đất mịn rất mỏng (< 50 cm), chiếm một tỷ trọng rất cao (24,15%), là yếu tố thể hiện chất lượng của nhóm đất này rất kém.

(3) Đất xám Gley chiếm tỷ trọng 20,34% quỹ đất xám, trong đó đất xám gley rất nghèo bazơ chiếm tỷ trọng cao nhất 11,99%, còn các đơn vị khác chiếm tỷ lệ không cao.

(4) Đất xám cơ giới nhẹ chiếm 15,45% quỹ đất xám, trong đó đơn vị đất xám cơ giới nhẹ rất nghèo bazơ có tỷ trọng cao hơn cả 11,15%.

(5) Đất xám điển hình có tỷ trọng thấp nhất (2,47% quỹ đất xám) và chỉ có một đơn vị cấp 3.

Nhìn chung đất xám có tỷ trọng cao nhưng diện tích đất có tầng đá mẹ hoặc tầng kết von nhiều và nông (< 50 cm) chiếm khoảng 50% quỹ đất xám. Đó là nhược điểm chính khi sử dụng nhóm đất này.

I.2.2. Nhóm đất đen (Luvisols):

Nhóm đất đen hình thành trên đá bọt bazan, chiếm 22,44% quỹ đất toàn tỉnh, có 3 đơn vị đất cấp 2 và 15 đơn vị đất cấp 3. Tỷ trọng các đơn vị đất xếp thứ tự nhỏ dần như sau:

(1) Đất nâu thẫm chiếm tỷ trọng cao nhất (48,17% quỹ đất đen), là loại đất đen địa hình cao thoát nước hình thành trên đá bọt bazan. Trong đó hầu hết là đất nâu thẫm có tầng đá nông (< 50 cm), chiếm 45,9% quỹ đất đen.

(2) Đất đen có kết von, chiếm tỷ trọng 30,47% quỹ đất đen, đặc biệt là đất có kết von nhiều và nông có tỷ trọng rất cao 23,43% quỹ đất đen.

(3) Đất đen gley, chiếm tỷ trọng 20,36% quỹ đất đen. Trong đó hầu hết là đất có kết von nhiều và nông (14,42%).

Tóm lại: Đất đen là đất có độ phì nhiêu cao nhất trong các loại đất của tỉnh, nhưng nó có một hạn chế là có tầng đá hoặc tầng kết von ở rất nông (khoảng 80% tổng diện tích đất đen), làm hạn chế tầng đất. Vì vậy đất này phần lớn chỉ thích hợp với những cây có bộ rễ ăn nông.

I.2.3. Nhóm đất đỏ (Ferralsols):

Nhóm đất đỏ hình thành chủ yếu trên đá bazan, chiếm 16,27% tổng quỹ đất toàn tỉnh, đất thường có chất lượng cao nhất trong các đất đồi núi. Nhóm này có 2 đơn vị đất cấp 2 và 11 đơn vị đất cấp 3.

(1) Đất đỏ thẫm (Rhodic Ferralsols) chiếm tỷ trọng cao (74,83% quỹ đất đỏ), có 3 đơn vị đất cấp 3. Hầu hết đất này có tầng dầy, đất có kết von và tầng mỏng chỉ có 1,3%.

(2) Đất đỏ vàng (Xanthic Ferralsols), chiếm tỷ trọng 24,72% quỹ đất đỏ, có 7 đơn vị đất cấp 3. Hầu hết các đơn vị đất này đều có tầng kết von hoặc tầng đá nông làm hạn chế tầng dầy đất.

(3) Đất đỏ điển hình (Haplic Ferralsols) có tỷ trọng thấp nhất 0,45% quỹ đất đỏ.

I.2.4. Nhóm phù sa (Fluvisols):

Nhóm đất phù sa chiếm 4,76% tổng quỹ đất toàn tỉnh. Nó có 3 đơn vị đất cấp 2 và 9 đơn vị đất cấp 3.

(1) Đất phù sa ít chua (Eutric Fluvisols) có tỷ trọng thấp nhất (7,62% quỹ đất phù sa). Có 2 đơn vị đất cấp 3 và là loại đất có độ phì nhiêu cao.

(2) Đất phù sa giàu mùn (Umbric Fluvisols) có tỷ trọng thấp (13,43% quỹ đất phù sa), có 2 đơn vị đất cấp 3, là loại đất có chất lượng tốt, rất thích hợp cho việc trồng lúa.

(3) Đất phèn (Thionic Fluvisols) chiếm tỷ trọng cao nhất trong nhóm đất phù sa (78,96% quỹ đất phù sa), có 5 đơn vị đất cấp 3. Trong đó đất phèn tiềm tàng có tỷ trọng cao nhất (75% quỹ đất phù sa).

Như vậy đất phù sa trong tỉnh phần lớn bị phèn, mặn.

I.2.5. Nhóm Gley (Gleysols):

Nhóm đất Gley có tỷ trọng xấp xỉ nhóm đất phù sa (4,56%), có 2 đơn vị đất cấp 2 và 3 đơn vị cấp 3. Trong đó chủ yếu là đơn vị đất gley mùn (Umbric gleysols) 90,85%, đơn vị đất gley phèn chỉ có 9,16%.

I.3 Đặc điểm phân bố quỹ đất theo đơn vị hành chính:

* Nhóm đất phù sa phân bố chủ yếu ở các huyện phía Nam, nhiều nhất ở Nhơn Trạch (71,36% quỹ đất phù sa), Long Thành (15,03%), Biên Hòa (6,45%), Vĩnh Cửu (3,82%), Tân Phú (3,34%).

* Nhóm đất Gley phân bố nhiều nhất ở Tân Phú (48,22% quỹ đất gley) và các huyện phía Nam: Vĩnh Cửu (18,45%), Long Thành (16,68%), Biên Hòa (6,07%), Nhơn Trạch (4,99%).

* Nhóm đất đá bọt tập trung chủ yếu ở các huyện Long Khánh (45,92% quỹ đất đá bọt) và rải rác ở các huyện Thống Nhất, Xuân Lộc, Tân Phú, Định Quán.

* Nhóm đất đen tập trung nhiều ở các huyện Xuân Lộc (27,76% quỹ đất đen), Thống Nhất (20,87%), Tân Phú (18,18%), Định Quán (17,44%) và rải rác ở hầu hết các huyện, riêng huyện Nhơn Trạch không có đất đen.

* Nhóm đất đỏ phân bố ở 7 huyện, riêng huyện Nhơn Trạch và thành phố Biên Hòa không có. Tập trung chủ yếu ở huyện Long Khánh (37,43% quỹ đất đỏ), và rải tương đối đều ở các huyện Định Quán, Thống Nhất, Xuân Lộc, Tân Phú từ 11 - 14%. Còn các huyện khác rất ít.

* Nhóm đất xám phân bố nhiều nhất ở Vĩnh Cửu (31,53% quỹ đất xám) và rải đều ở các huyện Định Quán, Xuân Lộc, Long Thành, Tân Phú từ 11 - 17%. Riêng huyện Long Khánh không có đất xám.

* Các nhóm đất khác: Đất nâu chỉ có ở Xuân Lộc, đất loang lổ chỉ có ở Vĩnh Cửu, đất tầng mỏng có nhiều ở Xuân Lộc (85,58% quỹ đất tầng mỏng), đất cát chỉ có ở Nhơn Trạch.

II. Quỹ đất xét về chất lượng:

Trong phần này quỹ đất về mặt chất lượng được thể hiện bằng việc thống kê diện tích theo chất lượng đất đai, theo độ dốc địa hình và theo độ dầy tầng đất mịn.

II.1. Thống kê diện tích đất theo chất lượng đất đai:

Về độ phì nhiêu thì đất Đồng Nai có chất lượng tương đối cao:

* Các đất có chất lượng từ trung bình trở lên chiếm khoảng 44% quỹ đất toàn tỉnh. Trong đó đất có chất lượng cao có tỷ trọng đáng kể (39,11% quỹ đất), bao gồm các đất hình thành trên đá bazan (Đất đá bọt, đất đen, và đất đỏ). Đất có chất lượng trung bình có 5,15% là các đất phù sa và đất Gley không phèn.

Bảng 04: THỐNG KÊ DIỆN TÍCH ĐẤT THEO CHẤT LƯỢNG

CHẤT LƯỢNG ĐẤT

ĐƠN VỊ ĐẤT (*)

DIỆN TÍCH

(ha)

(%)

1. Đất có chất lượng cao

AN, LV, FR

229.418

39,11

2. Đất có chất lượng trung bình

FLe, FLu, GLu

30.185

5,15

3. Đất có chất lượng trung bình thấp

AC, PT

235.003

40,06

4. Đất có chất lượng kém

LX, AR

11.990

2,04

5. Đất có hạn chế phèn, mặn

FLt, GLt

24.502

4,18

6. Đất không có khả năng SXNN

LP

3.180

0,54

ĐẤT KHÁC

(Sông, hồ chưa ĐT)

52.364

8,93

TỔNG CỘNG

 

586.640

100

(*) Tên đất chi tiết xem bảng 01

* Các đất có chất lượng trung bình kém có tỷ trọng đáng kể (40,06%), là các đất hình thành trên phù sa cổ và đá phiến sét (Đất xám và đất có tầng loang lổ), các đất này có hạn chế do thành phần cơ giới nhẹ, hàm lượng mùn, đạm, lân, kali và các cation kiềm tương đối thấp, nhưng nó lại thích ứng rất rộng rãi với nhiều loại cây trồng.

* Tất cả các đất có chất lượng kém, có hạn chế về mặn, phèn và các đất tầng mỏng có tỷ trọng rất thấp (khoảng 6,76% quỹ đất). Đây là tỷ lệ vào loại thấp nhất so với các tỉnh khác ở nước ta.

II.2. Thống kê diện tích đất theo độ dốc địa hình:

Nhìn chung các đất của Đồng Nai đều có địa hình tương đối bằng, có 82,09% đất có độ dốc < 8o, 91,76% đất có độ dốc < 15o, các đất có độ dốc > 15o có tỷ trọng khoảng 8%. Trong đó:

* Các đất phù sa, đất gley và đất cát có địa hình bằng, nhiều nơi trũng thấp ngập nước.

* Các đất đen, đất nâu, đất xám hầu hết có độ dốc < 8o, đất đỏ có độ dốc hầu hết < 15o.

* Riêng đất tầng mỏng và đất đá bọt có độ dốc cao.

II.3. Thống kê diện tích đất theo độ dầy tầng đất mịn:

Tỉnh Đồng Nai có tỷ trọng đất tầng mỏng tương đối cao, đó là hạn chế rất lớn về chất lượng đất. Có tới 44% quỹ đất có tầng mỏng < 50 cm. Trong đó có tới gần 1/3 quỹ đất có tầng mỏng < 30 cm.

* Các đất phù sa, đất gley, đất cát, đất có tầng loang lổ 100% có tầng dầy >100 cm.

* Đất đỏ có tỷ trọng đất tầng dầy cao (80,53% đất tầng dầy > 100 cm)

* Đất xám có tỷ trọng đất tầng dầy và tầng mỏng tương đương nhau, xấp xỉ 50%. Đất Luvisols có khoảng 75% đất tầng mỏng < 50 cm.

* Đất tầng mỏng, tức là đất trơ sỏi đá, không có ý nghĩa trong sản xuất có diện tích không lớn (3180 ha).

Comments