B. Đa dạng nguồn gien và các loài sinh vật

ĐA DẠNG NGUỒN GIEN  VÀ CÁC LOÀI SINH VẬT


I. Thực vật:

I.1. Thành phần loài, cấu trúc và các yếu tố địa lý sinh vật của hệ thực vật:

Những kết quả khảo sát gần đây cho thấy hệ thực vật Đồng Nai tiêu biểu là rừng Nam Cát Tiên đã thống kê được 185 loài thực vật với 395 chi của 73 họ trong 5 ngành thực vật bậc cao có mạch. Số lượng loài đã biết bằng 8,8% tổng số loài cả Việt Nam, 11,8% miền Nam Việt Nam, 17,8% Tây Nguyên, bằng 37% của hệ thực vật Cúc Phương và 68% của đảo Phú Quốc ([1][2])

Hệ thực vật có 13 họ nhiều loài (chiếm 10,1%), mỗi họ có số loài khoảng 76 loài và tổng số loài của 13 họ này là 317 loài bằng 51,2% số loài ở Nam Cát Tiên, gồm các họ sau đây:

Họ Lan (Orchidaceae): 76 loài (chiếm 12,3%), họ Đậu (Fabaceae): 49 loài (7,8%), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae): 38 loài (6,1%), họ Cà phê (Rubiaceae): 34 loài (5,5%), họ Dâu tằm (Moraceae): 18 loài (3%), họ Ráy (Araceae): 15 loài (2,4%), họ Trôm (Sterculiaceae): 14 loài (2,2%), họ Dầu (Dipterocarpaceae): 14 loài (2,2%), họ Lúa (Poaceae): 14 loài (2%), họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae): 12 loài (2%), họ Thiên lý (Asclepiadaceae): 12 loài (2%), họ Cói (Cyperaceae): 10 loài (1,6%), họ Long não (Lauraceae): 12 loài (2%).

Trung bình mỗi họ có 3 chi và 5 loài, trên 60% số họ có 1 - 2 loài, số họ dưới 10 loài chiếm gần 90%, cũng như có đến 277 chi (chiếm 72,4%) chỉ có 1 loài.

Các chỉ số đó biểu hiện tính đa dạng sinh học của khu hệ thực vật. Nếu điều tra kỹ hơn, số loài thực vật bậc cao có mạch của hệ thực vật Đồng Nai có thể lên tới 1200 - 1500 loài, sẽ phát hiện thêm nhiều loài mới, là nguồn gien quí giá góp phần vào thành tựu khoa học của Việt Nam cũng như tài nguyên thiên nhiên của thế giới.

Hệ thực vật Đồng Nai có 26 loài thực vật quí hiếm và đang có nguy cơ bị tiêu diệt.

Những loài có khu phân bố hẹp hoặc có giới hạn có thể xem như là những loài đặc hữu có 2,9% số loài thực vật. Những loài này là vốn gien quí và là nguồn gien đặc thù của rừng Đồng Nai như:

* Loài đặc hữu:

- Acacia dongnaiensis Gagnep (Keo Đồng Nai).

- Galearia dongnaiensis Pierre et Gagnep (Chanh ốc Đồng Nai).

- Sterculia hypochra Pierre (Trôm quạt)

- Telectadium dongnaiense Pierre (Thiên thiên Đồng Nai).

- Lollengeria dongnaiensis Pierre (Cứt mọt)

* Loài cận đặc hữu như:

- Elaeocarpus dongnaiensis Pierre (Côm Đồng Nai)

- Telectadium edule H. Baill (Thiên thiên)

* Loài có yếu tố tại chỗ còn có:

- Dracontomelum Schmidii Tard (Sấu lá nhỏ)

- Dalbergia dongnaiensis (Cẩm lai Đồng Nai)

- Dalbergia bariaensis (Cẩm lai Bà Rịa)

- Một số loài thuộc họ Lan (Orchidaceae).

Hệ thực vật Đồng Nai ngoài các yếu tố có nguồn gốc tại chỗ (bản địa) tiêu biểu cho hệ thực vật Nam Bộ (số loài đặc hữu chiếm 1/4 số loài đặc hữu của hệ  thực vật Nam Bộ), chủ yếu là nhóm các yếu tố di cư tiêu biểu cho khu hệ thực vật rừng ẩm nhiệt đới, hiện diện một số họ trong các họ thực vật đặc trưng cho hệ thực vật cổ nhiệt đới như: họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Trung quân (Ancistrocladaceae), Gối hạc (Leeaceae), Mây nước (Flagellariaceae), Chuối (Musaceae).... Đáng chú ý là một số đại diện của họ Dầu tạo thành tầng tán rừng cao tới 40 - 50 m, đã làm nổi bật vai trò tạo rừng của một trong những thảm thực vật biểu tượng của vùng cổ nhiệt đới.

Đậm nét hơn cả là yếu tố Đông Dương - Malaysia thuộc phân vùng  Ấn Độ - Mã Lai trong đó yếu tố Đông Dương bao gồm một số loài thuộc các chi: Dẻ gai (Castanopsis), Chòi mòi (Antidesma), Cù đèn (Croton), Dầu (Dipterocarpus), Cọc rào (Cleistanthus), Bứa (Garcinia) và các loài Cồng (Calophyllum)... Yếu tố Malaysia có đại diện là các loài Dầu rái (Dipterocarpus alatus Roxb) và Sao đen (Hopea odorata Roxb)...

Những yếu tố trên cho thấy hệ thực vật Đồng Nai có quan hệ chặt chẽ với hệ thực vật của các vùng lân cận, trước hết là hệ thực vật Nam Trường Sơn của miền Đông Nam Bộ cũng như của Lào và Campuchia, sau tiếp là có quan hệ với hệ thực vật Đông Nam Á và có các yếu tố nhiệt đới cổ đã tạo nên thành phần loài và cấu trúc của hệ thực vật thể hiện tính đặc thù về sự đa dạng sinh học và nguồn gốc địa lý - sinh vật của khu hệ thực vật Đồng Nai cùng với những loài thực vật có giá trị tài nguyên của khu rừng.

I.2. Giá trị tài nguyên thực vật:

Qua điều tra bước đầu các nhà nghiên cứu đã thống kê được các nhóm đặc sản sau đây:

Nhóm cây lấy gỗ: nổi bật nhất là tài nguyên cây gỗ rừng, khoảng 120 loài cây cho gỗ chiếm 19,3% tổng số loài.

Riêng cây họ Dầu có 14 loài chiếm 36% tổng số loài cây họ Dầu ở Việt Nam, rừng còn mang tính nguyên sinh; số loài của họ này chiếm tỉ lệ khá cao và cũng là những loài chiếm trữ lượng gỗ lớn trong rừng như: Dầu rái, Dầu song nàng, Sao đen, Chai, Vên vên, Cà chắc, Sến mủ... là các loài có giá trị nhiều công dụng như gỗ tàu thuyền, gỗ xây dựng, làm đồ mộc...

Cây họ Đậu có nhiều loài gỗ quí đẹp, đáng chú ý là Gõ đỏ, Cẩm  lai, Dáng hương, Gõ mật, Cẩm xe...

Các họ khác cho nhiều loài gỗ có giá trị kinh tế như: Bằng lăng, Huỷnh, Bình linh, Trường...

* Nhóm cây cho các lâm sản khác như: tre, lá, song mây... có tới 40 loài, trong đó nhiều loài tre, lồ ô, song mây mọc thành rừng có diện tích và trữ lượng lớn cung cấp nguyên liệu cho chế biến lâm đặc sản.

* Nhóm cây làm thuốc: Khoảng 240 loài chiếm trên 38,7% số loài. Các cây đáng chú ý là:

- Sa nhân (Amomum xanthioides Wall)

- Cốt toái bổ (Drynaria quercifolia L)

- Vàng đắng (Coscinium usitatissimum Pierre).

- Mã tiền (Strychnos nux - vomica L).

- Hà thủ ô (Streptocaulon wallichii Wight).

- Thiên niên kiện (Homalomeona occulta (Lour) Schott).

* Nhóm cây cảnh: có 40 loài chiếm 6,4%

* Nhóm cây phong lan 71 loài chiếm 11,1%.

Hầu hết là các loài phong lan có hoa đẹp như:

- Quế lan hương (Aerides Faleata Lindl).

- Kiều đam thanh: (Coelogyne trinervis Lindl).

- Ngọc điểm (Rhynchostylis gigantea Lindl)

- Hoàng thảo tím (Dendrobium hereoglossum Reichof).

* Nhóm cây cho dầu nhựa: 15 loài chiếm 2,4%. Các loài đáng chú ý thuộc họ Dầu cho dầu rái và chai cục.

* Nhóm cây dầu béo: 29 loài chiếm 4,7%, có quả cây rừng có thể ép dầu thực vật như: cây Trôm, cây Chùm bao, hạt cây Cầy lấy dầu đốt thắp sáng.

* Nhóm cây chứa tanin: có 79 loài chiếm 13%

* Nhóm cây cho thực phẩm: 21 loài chiếm 3,4%

* Các cây cho quả như:

- Dâu da xoan (Baccaurea ramiflora Lour)

- Trám đen (Canarium pimela Koen)

- Sấu (Dracontomelum schmidii Tard)

- Ươi (Scaphium lychnophorum (Hance) Kost).

- Sổ (Dillenia indica L).

- Bứa (Garcinia cochinchinensis (lour) Choisy).

Và các loài cây: Mít nài, Thanh trà, Xoài rừng, Nhãn rừng, Hồng rừng, Trứng đỏ, Cò ke, Sơn máu...

* Các cây cho thực phẩm khác như:

Củ mài, củ chụp, trái gùi, bột cây buông và các loại rau rừng, măng tre, nấm hương, mộc nhĩ... đã từ lâu được nhân dân dùng làm thực phẩm, đã góp phần nuôi bộ đội ta trong hai cuộc kháng chiến.

Bảng thống kê tài nguyên thực vật:

 

STT

NHÓM TÀI NGUYÊN

SỐ LOÀI

%

1

2

3

4

5

6

7

8

9

 

Cây gỗ

Cây thuốc

Cây chứa tanin

Phong lan

Cây cảnh

Cây độc

Cây dầu béo

Cây thực phẩm

Cây có dầu nhựa

 

120

240

79

71

40

31

29

21

15

 

19,3

38,3

13,0

11,1

6,4

5,0

4,7

3,4

2,4

 

* Tài nguyên về Tảo là thực vật bậc thấp ở nước rất da dạng và phong phú. Đã phát hiện được 438 loài khu hệ Tảo Nam Cát Tiên mang tính chất nhiệt đới rõ rệt.

Nguồn gien về Tảo duy trì hệ sinh thái thủy vực sông Đồng Nai mà khu vực quan trọng là hồ Thủy điện Trị An và vùng hạ du Biên Hòa và thành phố Hồ Chí Minh cũng nhờ vào lưu vực đầu nguồn là rừng Nam Cát Tiên có được khả năng trong việc bảo vệ chất lượng nước.

II. Động vật:

Xưa kia vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai còn bao  phủ bởi rừng rậm nhiệt đới, là nơi các loài động vật hoang dã tập trung sinh sống. Đặc biệt các thú lớn như voi, hổ, báo, trâu rừng, bò rừng, tê giác, gấu, hươu, nai... tụ họp từng đàn, cùng với các thú nhỏ như khỉ, chó sói, heo rừng, trăn rắn... và nhiều loài chim. Dưới sông rạch đầy cá sấu.

Sách Chân Lạp phong thổ ký của Châu Đạt Quan mô tả quang cảnh vùng này năm 1296: "Bắt đầu vào Chân Bồ (vùng biển Vũng Tàu ngày nay) gần hết cả vùng đều là rừng rậm, bóng cây um tùm, khắp nơi vang tiếng chim hót và tiếng thú kêu... hàng trăm hàng nghìn trâu rừng tụ họp từng bầy..."

Ca dao Biên Hòa xưa có câu:

Đồng Nai địa thế hãi hùng,

Dưới sông sấu lội, trên giồng cọp um.

Chuyện dân gian xứ Bưởi còn lưu truyền nhiều giai thoại về đánh sấu, diệt cọp là loài thú dữ nổi tiếng "Cọp Biên Hòa, ma rừng Sác". Người dân thời đó đã dũng cảm chiến đấu diệt cọp và sấu để tồn tại.

Cọp sống giữa sình lầy nước mặn, ở bãi bùn nước lợ với rặng dừa nước hoặc ở vùng đất trống, trong các gò đất giữa bãi cỏ thấp có rừng thưa hoặc trống trải làm nơi cư trú kết bầy. Bên kia rạch Cát có nhiều cọp, thỉnh thoảng chúng lội rạch qua bắt nai, heo rừng ở các cù lao có tên gọi là cù lao Nai, cù lao Heo.

Sấu thì ở các sông rạch, những vùng nhiều sấu dữ thời trước là ở rạch Ông Án, rạch Lò Gốm - Ở Biên Hòa có các bàu Sấu ở ga xe lửa, ở đoạn gần đình Tân An và ở Tân Hạnh. Con sấu cuối cùng ở Biên Hòa bị dân chài xóm Hòa Quới câu bắt được ở vàm Bà Lồ (phường Tân Vạn ngày nay) trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 ([2][3]).

Trong thời kháng chiến chống Pháp, cán bộ bộ đội và người dân chiến khu Đ không những phải chống giặc ngoại xâm mà còn phải chống với thú dữ . Rừng chiến khu Đ hồi đó là rừng già còn nhiều loài thú lớn, thú nhỏ, chim muông, vẫn còn những đàn trâu rừng và voi. Sông Đồng Nai có cá sấu, rừng có  cọp, con "Cọp 3 móng" hoành hành nhiều nơi, giết hại nhiều người. Bộ đội ta phải khó khăn lắm mới diệt được con cọp này vào đầu năm 1950 ([3][4]).

Những tư liệu để lại và những chuyện kể trên cho chúng ta hiểu lịch sử, cảnh quan thiên nhiên cùng với cuộc sống của người dân ở vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai xưa kia - bao phủ rừng rậm nhiệt đới mênh mông đã từng là giang sơn của các loài  thú.

Trải qua mấy thế kỷ, thế giới động vật ngày nay có nhiều biến đổi, nơi ở của nhiều loài sinh vật hoang dã đã bị thu hẹp lại, cũng vì thế mà nhiều loài  động vật trước kia khá phổ biến nay trở nên hiếm, chỉ còn những nơi có rừng phân bố tập trung ít bị tàn phá thì khu hệ động vật còn thể hiện tính đa dạng và phong phú mà ta còn thấy ở rừng Nam Cát Tiên và một số vùng rừng trong tỉnh.

II.1. Cấu trúc và đặc điểm khu hệ động vật:

Khu hệ động vật rừng Đồng Nai có những đặc trưng của miền địa lý động vật Đông Nam Bộ mang tính chất đại diện cho khu hệ động vật vùng Đông Nam Á, tiêu biểu là tính hỗn hợp của phân miền Ấn Độ - Mã Lai, có đặc trưng của khu hệ động vật nhiệt  đới bao gồm những động vật có cấu trúc thành phần loài trong các loại hình sinh cảnh của hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới mang màu sắc của hệ động vật cao nguyên Nam Trường Sơn -  Yếu tố địa hình và môi trường sống của động vật là những yếu tố quan trọng giúp cho sự có mặt của nhiều  loài thú chim quí hiếm ở Đồng Nai. Hầu hết các loài này thuộc diện phân bố rộng có tính thích nghi từ vùng cao xuống vùng thấp và rừng ngập nước với những dãy đồi thấp nhấp nhô xen những bãi cỏ rộng lớn dưới tán rừng thưa ven sông Đồng Nai và các suối, bàu, ao hồ có diện tích lớn, các kiểu rừng thường xanh và nửa rụng lá ẩm nhiệt đới đã giữ lại được những loài động vật mà ngày nay đang có nguy cơ mất dần như Tê giác 1 sừng, Bò Banteng, cá sấu... Vì vậy có một số loài chim, thú, bò sát phân bố ở đây rất thích ứng với hệ sinh thái trong vùng.

Kết quả điều tra tài nguyên rừng Đồng Nai năm 1983 và các kết quả nghiên cứu về khu hệ động vật Nam Cát Tiên gần đây (1986 - 1990) cho thấy vùng rừng phía Bắc sông Đồng Nai, trong đó rừng Nam Cát Tiên là một trong những khu vực có mật độ thú và các động vật có xương sống ở cạn phong phú nhất ở Đông Nam Bộ, là trung tâm đáng chú ý về các loài động vật quý hiếm ở Việt Nam. Bước đầu các nhà nghiên cứu đã ghi nhận được 529 loài, trong đó chim có 210 loài thuộc 49 họ, thú 57 loài thuộc 25 họ, bò sát 40 loài thuộc 15 họ, côn trùng 121 loài thuộc 18 họ...

Trong số 57 loài thú thì bộ Móng guốc có đầy đủ 5 họ với 6 loài, chiếm ưu thế là Nai, Heo rừng, Bò rừng, Trâu rừng, Cheo, Hoẵng là một vùng của Việt Nam có nhiều đại diện của họ Bò (Bovidae) sống trong một vùng lãnh thổ nhỏ.

Các loài thú quý hiếm có 14 loài, chiếm 45% loài quí hiếm của Việt Nam. Nhiều loài có giá trị khoa học và cần phải bảo vệ như: Cầy bay (Cynocephalus variegatus), Sóc bay (Petaurista petaurista), Cầy mực (Arctictis binturong), Chó sói đỏ (Cuon alpinus), Hổ (Panthera tigris), Báo lửa (Felis temminski), Báo hoa mai (Panthera pardus), Cheo cheo (Tragulus javanicus), Bò tót (Bos gaurus), Bò Banteng (Bos Banteng), Voi Ấn Độ (Elephas maximus), Vọoc ngũ sắc (Pygathrix nemaeus), Vượn đen (Hylobates concolor), Tê tê (Manis javanica)...

Các loài thú ở Đồng Nai đang có nguy cơ bị diệt vong như Tê giác 1 sừng (Rhinoceros sondaicus), Voọc ngũ sắc, Cầy bay... đang cần sự quan tâm bảo vệ khẩn cấp của Việt Nam và thế giới.

Đến nay các nhà khoa học đã thống kê được 210 loài chim với thành phần loài bao gồm hầu hết các loài chim điển hình của vùng Đông Nam Á và của Đông Dương, nhiều loài là quí hiếm chiếm 40% số loài quí hiếm của Việt Nam.

 Nhóm chim nước khá phong phú với các loài rất quí hiếm của thế giới như: Ngan cánh trắng (Cairina scutulata), Hạc cổ trắng (Ciconia episcopus), Già đẫy lớn và Già đẫy Java (Leptotilos dubius và L. Javanicus)... và có thể còn gặp các loài đặc biệt quí hiếm khác.

Thêm vào đó, nhóm chim Trĩ (Phasianidae) cũng rất phong phú, có đến 8 loài với sự hiện diện của các loài quí hiếm được thế giới  quan tâm bảo vệ như: Công xanh (Pavo muticus), Gà tiền mặt đỏ (Polyplection germanii), Trĩ sao (Rheinartia ocellata), Gà lôi hồng tía (Lophura  diardi), Gà so cổ hung (Arborophila davidi)... Loài bò sát có 3 loài quí hiếm chiếm 23% số loài bò sát quí hiếm của Việt Nam như: Cá sấu nước ngọt (Crocodylus siamensis), Trăn gấm (Python reticulatus), Trăn đen (Python molurus).

Trong số 56 loài động vật có xương sống được xem là quí hiếm ở Đông Dương thì ở Nam Cát Tiên có 20 loài, trong đó có 16 loài được Tổ chức quốc tế bảo vệ nguồn lợi thiên nhiên (IUCN) xếp vào danh sách bảo vệ. Trong số 121 loài côn trùng thì có 7 loài mới lần đầu tiên phát hiện được ở Việt Nam. Đó là các loài Baetis illiesi, Baelis moriharai, Neobaetiella macani, Platybaetis bishopi, Chromarcys feuerborni, Povilla cambodjensis, Tricorythus sp2.

Khu hệ động vật Nam Cát Tiên mang tính chất đại diện cho khu hệ  động vật vùng Đông Nam Á với các loài như Chó dơi (Cynocephalus variegatus), Cheo cheo (Tragulus javanicus), Sóc chân vàng (Callossciurus flavimanus)... và mang đầy đủ những nét đặc trưng của một khu hệ động vật nhiệt đới trong các kiểu sinh cảnh khác nhau như đại diện của họ khỉ (Cercopithecidae), họ Cầy (Viverridae), họ Khiếu (Timaliidae), họ Gà (Phasianidae)...

Khu hệ động vật còn có những loài chim thú được liệt vào những loài chim thú đặc hữu của Đông Dương, trong số 11 loài đặc hữu của Đông Dương thì Nam Cát Tiên đã có 6 loài như: Công xanh, Trĩ sao, Cheo cheo...

Ngoài ra còn có những loài được hình thành tại chỗ (bản địa) như: Gà rừng (G. gallus gallus), Tê tê (Manis javanica), Đa đa (Francolinus Pintadeanus).

II.2. Giá trị tài nguyên động vật:

Tiềm năng nguồn tài nguyên động vật  Đồng Nai thực sự phong phú, có thể chia thành các nhóm tài nguyên như sau:

- Nhóm động vật quí hiếm có giá trị khoa học đặc biệt và là nguồn gien dự trữ quan trọng cho việc bảo tồn và phát triển khu hệ động vật của địa phương, trong đó có nhóm Bò có thể có các loài được bảo vệ sẽ là bảo đảm nguồn gien cho chăn nuôi đại gia súc.

- Nhóm động vật phục vụ nghề săn bắn cho thịt về thú có 40 loài, chim trên 60 loài, bò sát 12 loài.

- Nhóm động vật cho các sản phẩm làm dược liệu:

* Thú: Gấu, Hổ, Nai, Khỉ, Nhím, Tê tê...

* Chim: Bìm bịp.

* Bò sát: Tắc kè, Thằn lằn bóng, Kỳ đà, Trăn, Rắn hổ mang, Rắn cạp nong, Rùa...

- Nhóm động vật nuôi làm cảnh có giá trị xuất khẩu lớn như: Khỉ, Gấu chó, Vượn, Sóc đen, Vàng anh, chim Trĩ, Bói cá, Rùa nắp, Kỳ đà, Tắc kè, cá Sấu nước ngọt...

- Nhóm động vật không xương sống từ côn trùng trong thảm rừng, trong đất, nước và các nhóm động vật thủy sinh có vai trò đặc biệt trong chu trình vật chất và đảm bảo năng suất của các hệ sinh thái cũng có giá trị to lớn.



([1][2]) Báo cáo kết quả nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp lý và cải thiện hệ sinh thái rừng Nam Cát Tiên (1986 - 1990) của Trung tâm nghiên cứu sinh thái - Phân viện khoa học Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh.

([2][3]) Theo bài Con cháu vua Hùng đến Cù Lao Phố của Trần Hiếu Thuận - báo Đồng Nai.

([3][4]) Lịch sử Chiến khu Đ - NXB Đồng Nai, 1997. 

Comments