C. Đa dạng về các loại hình cảnh quan và hệ sinh thái đặc trưng

ĐA DẠNG VỀ CÁC LOẠI HÌNH CẢNH QUAN VÀ HỆ SINH THÁI ĐẶC TRƯNG


Tính đa dạng về sinh cảnh của Đồng Nai có thể xem như các kiểu hệ sinh thái tự nhiên vừa có tính tiêu biểu vừa có tính đặc trưng cho hệ sinh thái ẩm nhiệt đới vùng thấp, gồm các hệ sinh thái chính: hệ sinh thái hỗn giao rừng lá rộng nhiệt đới ẩm, hệ sinh thái các kiểu phụ rừng thứ sinh như rừng tre, rừng lá buông, hệ sinh thái các thủy vực, hệ sinh thái rừng ngập mặn và các hệ sinh thái nhân tạo...

I. Rừng lá rộng thường xanh ẩm nhiệt đới:

Đây là kiểu rừng chính bao phủ đại bộ phận diện tích rừng, phân bố trên các loại đất feralit đỏ vàng phát triển trên sa phiến thạch, đất feralit nâu đỏ trên đá bazan và đất xám phù sa cổ, tầng đất dày, ẩm, thoát nước, ít kết von. Đặc trưng là rừng cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) có diện tích lớn, nổi bật là các loài cây họ Dầu chiếm tỷ lệ cao hoặc có ưu thế tuyệt đối trong tổ thành loài cây như Dầu song nàng, Dầu con rái, Sao đen, Chai, Vên vên... thường mọc thành cụm hoặc không liên tục, chiếm ưu thế ở tầng vượt tán, đôi khi mọc tập trung thuần loại thường được gọi là " lán dầu".

Bên cạnh loài cây họ Dầu còn có nhiều loài cây gỗ mọc hỗn giao đa số thuộc loài cây họ Đậu (Fabaceae) như Gõ đỏ, Gõ mật, Cẩm lai, Giáng hương... và các loài cây gỗ thuộc các  họ khác như họ Xoài (Anacardiaceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Tử vi (Lythraceae)... tạo thành rừng nhiều tầng tán, độ đa dạng thực vật khá cao, cây phụ sinh phong phú, độ tàn che 0,7 là kiểu rừng có cảnh sắc đa dạng phức tạp, tiêu biểu của kiểu rừng thường xanh ẩm nhiệt đới.

Trong cấu trúc phức tạp nhiều tầng ấy, các nhà khoa học đã phân biệt thành 5 tầng, trong đó có 3 tầng cây gỗ lớn, 1 tầng cây bụi thấp, 1 tầng thảm tươi ([1][5])

- Tầng vượt tán (A1): Là tầng hình thành bởi những cây gỗ cao trên 40 m, gồm các loài cây thuộc họ Dầu, họ Dâu tằm, họ Đậu... Tầng này có những cây thường xanh nhưng cũng có những cây rụng lá trong mùa khô, là 1 tầng không liên tục.

- Tầng ưu thế sinh thái (A2): Là tầng cây gỗ cao trung bình từ 20 - 30 m thân thẳng, tán liên tục gồm nhiều cây của nhiều họ khác nhau, đa số là các cây thường xanh như Trâm (Syzygium sp), Trường (Pometia Lecomtei), Re (Cinnamomum sp), Cầy (Irvingia malayana), Cám (Parinarium annamensis), Bình linh (Vitex glabrata), Gáo vàng (Sarcocephalus coadunata)...

Tầng ưu thế sinh thái tuy không có cây gỗ to và cao như tầng vượt tán nhưng số lượng cây khá tập trung và có nhiều cây thuộc lớp kế cận cho tầng trên tham gia vào trữ lượng ổn định lâu dài và liên tục của rừng.

- Tầng dưới tán (A3): gồm những cây mọc rải rác dưới tán rừng, có chiều cao trên dưới 15 m, đường kính nhỏ hơn, tạo thành lớp tán không liên tục và mỏng. Tổ thành loài cây trong tầng này gồm những loài cây có giá trị kinh tế thấp như: Bứa, Máu chó, Thầu dầu, Thị rừng...

- Tầng cây bụi (B): gồm những cây mọc rải rác thấp nhỏ, cao từ 2 - 8 m, thuộc các họ Cà phê (Rubiaceae), Trúc đào (Apocynaceae) và một số loài khác như Cau rừng, Lá nón, Song mây... và đôi khi có Tre lồ ô mọc xen rải rác.

- Tầng thảm tươi (C): là tầng cuối cùng thấp nhất, gồm những loài thực vật như cỏ Quyết, Sẹ, Sa nhân, Dương xĩ... cao không quá 2m, thường làm cây chỉ thị cho hoàn cảnh môi trường rừng.

Trong rừng còn có nhiều dây leo thuộc họ Đậu (Fabaceae) họ Na (Annonaceae)... cùng với một số cây phụ sinh như Quyết tổ diều, Phong lan...

Kiểu rừng này có một số ưu hợp chính như:

* Ưu hợp Dầu song nàng (Dipterocarpus dyeri): trên vùng đất feralit vàng và vàng đỏ, gần đây còn thấy ở rừng Mã Đà, Hiếu Liêm và phía Bắc sông Đồng Nai.

* Ưu hợp Dầu rái (Dipterocarpus alatus) trên nền đất phù sa cổ, trước đây có ở một số vùng, nhưng nay chỉ còn những đám nhỏ.

* Ưu hợp Sao đen (Hopea odorata).Theo tài liệu điều tra thảm thực vật cũng như đối chiếu tài liệu của Maurand (1943), ở Đồng Nai có những ưu hợp Sao đen tự nhiên mọc hầu như thuần loại trên đất feralit vàng đỏ nhưng nay gần như không còn.

* Ưu hợp Vên vên - Sao đen - Sến mủ (Anisoptera glabra - Hopea odorata - Shorea roxburghii): là ưu hợp khá phổ biến ở nhiều nơi trên một số loại đất khác nhau ở Đồng Nai.

II. Rừng nửa rụng lá ẩm nhiệt đới:

Kiểu rừng này phân bố xen kẽ trong các vùng của kiểu rừng thường xanh. Ở địa thế thấp vùng sườn đồi hoặc ven thung lũng trên các loại đất mỏng có đá lộ đầu và trên đất bồi tụ ven sông ven suối, tầng đất mỏng, khả năng giữ nước kém, thiếu nước trong mùa khô đã hình thành kiểu rừng nửa rụng lá. Rừng có trữ lượng khá cao, phân tầng rõ và tổ thành gồm những loại cây có đặc tính rụng lá về mùa khô, điển hình là những loài cây Bằng lăng (Lagerstroemia sp) thuộc họ Tử vi (Lythraceae). Cùng với những cây thường xanh hay rụng lá thuộc các họ Xoan (Meliaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Đậu (Fabaceae)...

Kiểu rừng này có các ưu hợp sau:

* Ưu hợp Bằng lăng và các cây họ Đậu và một số cây họ khác.

* Bằng lăng thuần loại có số cá thể loài Bằng lăng chiếm 80 - 85% hoặc gần như tuyệt đối, thường gọi là "lán bằng lăng" nay còn gặp ở rừng Nam Cát Tiên và một số vùng rừng phía Bắc sông Đồng Nai.

Kiểu rừng thường xanh và nửa rụng lá có trữ lượng khá cao, là những kiểu rừng phân bố ở nhiều vùng của Đồng Nai, điển hình là rừng Nam Cát Tiên.

III. Các kiểu phụ rừng thứ sinh:

- Rừng tre lồ ô: Phân bố ở độ cao 100 - 400 m trên địa hình đồi, đất feralit đỏ vàng và đất xám, có tầng đất sâu, thoát nước. Thành phần thực vật gồm thuần loại phân họ Bambusoidae, mọc tập trung trên diện tích lớn, đại diện chủ yếu là Lồ ô (Bambusa procera) có nguồn gốc từ thảm thực vật rừng ẩm thường xanh và nửa rụng lá với quá trình diễn thế của chúng là do hậu quả tác động của con người.

Tùy theo tính chất và mức độ tác động mà trên thực tế có các hiện trạng khác nhau như: rừng lồ ô xen gỗ, rừng gỗ xen lồ ô, rừng lồ ô thuần loại.

Cách đây không lâu Đồng Nai còn có những rừng tre thuần loại rộng hàng chục ngàn hécta như rừng tre Hắc Dịch, rừng tre Cù Bị, Xuân Sơn thuộc huyện Châu Thành (tỉnh Đồng Nai cũ, nay là huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu).

Rừng lồ ô xen gỗ hiện nay phân bố rải rác ở các vùng rừng phía Bắc sông Đồng Nai. Rừng lồ ô thuần loại có ở lâm trường Vĩnh An thuộc huyện Vĩnh Cửu, và rừng tre già ở phía Tây Bắc rừng Nam Cát Tiên.

- Rừng lá buông (Corypha lecomtei) mọc tập trung hoặc rải rác ở một số nơi trong vùng, chủ yếu tập trung ở huyện Xuân Lộc. Trước đây diện tích rừng lá buông hơn 6000 ha, nhưng nay chỉ còn khoảng 400 ha, giáp với rừng lá buông tỉnh Bình Thuận, cho nguyên liệu đan lát các mặt hàng xuất khẩu.

Động vật cư trú ở các loại sinh cảnh này thường là thú nhỏ như Cheo cheo, Chồn, Heo rừng, Sóc, Chuột... Người ta cũng thường gặp các loài chim như Gà rừng, Công, Trĩ, Sáo, Cò... Sinh cảnh này còn là nơi cư trú của động vật bò sát như Thằn lằn...

- Hệ sinh thái nhân tạo:

Gồm các loại rừng trồng trên đất trống đã bị mất rừng, có các kiểu rừng trồng hỗn giao cây gỗ lớn như Sao, Dầu, Vên vên..., rừng trồng thuần loại hoặc hỗn giao Bạch đàn, Keo lá tràm.. rừng trồng cây gỗ kết hợp cây công nghiệp lâu năm như Điều, Cà phê... và cây trồng nông nghiệp kết hợp trên đất lâm nghiệp. Đây là những loại hình sinh cảnh trở thành hệ sinh thái phục hồi rừng đem lại lợi ích kinh tế và phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái.

IV. Sinh cảnh đất ngập nước:

Là loại hình sinh cảnh có nét tiêu biểu và đặc trưng của rừng Nam Cát Tiên và một số vùng rừng trong tỉnh. Thảm cây ngập nước theo mùa, những  nơi cao hình thành tầng cây gỗ với độ cao 10 - 15 m gồm nhiều loài cây ưa ẩm thuộc các chi Careya, Lagerstroemia, Hydnocarpus...

Đây là nơi cư trú của nhiều loài cá nước ngọt, đặc biệt là nhóm cá đen. Cá sấu đã từng có số lượng lớn ở đây. Ngoài ra các động vật khác cũng có số lượng đáng kể như Kỳ đà, Rùa vàng, Rùa nắp, Ba ba và các loài Rắn..., cũng là nơi có nhiều chim nước thường trú và di cư. Đã phát hiện nhóm Già đẫy Java từ 10 - 20 con và nhiều chim nước thuộc nhóm Cò, Cốc, Vịt trời cùng với một số loài chim ăn thịt cũng sống ở đây trong mùa di cư. Các loài thú như Rái cá, Chuột... gặp ở đây trong cả 2 mùa. Về mùa khô, vùng đất ngập nước là nơi qui tụ nhiều loài thú lớn.

Hệ sinh thái thủy vực có các loại sinh cảnh nước chảy là sông suối và loại hình thủy vực nước đứng là các bàu nước, trong đó có thủy vực nước đứng ngập nước một mùa và thủy vực nước đứng ngập quanh năm với đặc điểm thủy sinh là khu hệ tảo được đánh giá là phong phú và đa dạng về thành phần loài làm tăng giá trị của các thủy vực cùng với các động vật nổi và động vật đáy.

Các loại hình sinh cảnh đất ngập nước và hệ sinh thái thủy vực là hợp phần đặc trưng của rừng Đồng Nai. Những đối tượng này cần được bảo tồn, không chỉ là nguồn nước cho sinh vật mà còn là nguồn nước cho hạ du và là nguồn gien sinh vật thủy sinh cho các thủy vực mà đáng chú ý là hồ chứa nước Trị An.

V. Hệ sinh thái rừng ngập mặn ở Đồng Nai:

Rừng ngập mặn hay còn gọi là "rừng sác" với ưu thế loài cây Đước (Rhyzophora mucronata) là một hệ sinh thái đặc biệt ở vùng cửa sông Đồng Nai chảy ra biển bị các nhánh sông chia cắt thành nhiều đảo nhỏ, dưới ảnh hưởng của thủy triều lên xuống là vùng đất bùn lầy lội, mặn nhiều, nên chỉ có rừng ngập mặn phát triển.

Sách Gia Định Thành thông chí của Trịnh Hoài Đức đã mô tả rừng Sác: "Bên những dòng sông bao la tận chân trời lại có những hang động bịt bùng thế giới riêng một cõi". Chính những hang động bịt bùng đó là lớp phủ rừng đước tạo nên.

Thành phần thực vật ở rừng ngập mặn cũng phong phú nhưng kích thước cây Đước ở đây không lớn như ở rừng đước Cà Mau hoặc Bến Tre, bao gồm những tổ hợp chính như:

* Tổ hợp Đước - Bần (Rhizophora - Sonneratia)

* Tổ hợp Đước - Vẹt - Mấm (Rhizophora - Bruguiera - Avicennia)

* Tổ hợp Đước - Dà vôi - Mấm (Rhizophora - Ceriops - Avicennia).

Và một số tổ hợp thực vật ở địa thế cao, không ngập thường xuyên, nước lợ như Chà là (Phoenix paludosa), Dừa nước (Nipa fructicans). Đây là hệ sinh thái cửa sông năng động và phong phú về môi trường cũng như hệ động thực vật, là vùng lưu chuyển các dòng dinh dưỡng cho các hệ sinh thái nội địa và hệ sinh thái cửa sông ven biển phát triển, không chỉ có tiềm năng về nguồn lợi kinh tế gỗ củi, tôm cá mà còn có vai trò quan trọng về phòng hộ chống lở bờ biển và cố định bãi bồi ven biển.

Hệ sinh thái rừng ngập mặn cung cấp lượng vật chất đáng kể làm tăng chất lượng môi trường nước và là thức ăn cho tôm cá, là môi trường sống cho các loài sinh vật ở nước sinh sản phát triển và của nhiều động vật hoang dại như Khỉ, Chồn... và các loài chim, tuy đã bị cạn kiệt nhiều trong chiến tranh nhưng nay đang được phục hồi cùng với việc phục hồi rừng ngập mặn ở hai huyện Long Thành và Nhơn Trạch.


([1][5]) Thảm thực vật rừng Việt Nam - 1978 của GSTS Thái Văn Trừng. 

Comments