D. Giá trị của đa dạng sinh học

GIÁ TRỊ CỦA ĐA DẠNG SINH HỌC


I. Lợi ích đa dạng sinh vật và các hệ sinh thái:

Đồng Nai có nguồn tài nguyên thực động vật phong phú đa dạng hợp thành các hệ sinh thái mang tính đặc trưng tiêu biểu đại diện cho một vùng địa lý. Là sinh cảnh tự nhiên của rừng ẩm nhiệt đới ở các tỉnh phía Nam đặc biệt là vùng Đông Nam Bộ, nó có tính đa dạng sinh học cao, đó là dấu hiệu của sự cân bằng sinh thái, có vai trò duy trì chức năng điều hòa nguồn nước, cải thiện chất lượng khí hậu, giữ độ màu mỡ của đất và các nguồn tài nguyên khác.

Nếu làm suy thoái tính đa dạng sinh học sẽ làm tổn thương đến tính đa dạng các loài cùng tính ổn định và mềm dẻo của môi trường sinh thái.

Các thảm rừng là hàng rào bảo vệ chống lại sự xói mòn của  đất, gió bão, lũ lụt, thanh lọc môi trường nước và môi trường không khí.

Rừng Đồng Nai phân bố hầu hết trên các vùng tụ thủy đầu nguồn các lưu vực của các sông lớn chảy qua tỉnh như sông Đồng Nai, sông Bé, sông La Ngà... và một số sông suối khác có tác dụng rất lớn giữ nước điều tiết nguồn nước, hạn chế quá trình xói lở, bồi đắp ở các vùng phụ lưu và vùng phụ cận. Do đó việc giữ các hệ sinh thái đầu nguồn của các con sông này là hết sức quan trọng trước hết đối với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt đối với hồ chứa nước Trị An và các công trình thủy lợi trong tỉnh, các nhà máy nước cung cấp nước sinh hoạt  và sản xuất cho các đô thị và vùng dân cư, các khu công nghiệp, nhất là cung cấp nước cho thành phố Biên Hòa và thành phố Hồ Chí Minh.

Phần lớn các lưu vực sông nằm trên đất feralit đỏ vàng và đất nâu đỏ bazan giàu chất dinh dưỡng thường phân bố trên các địa hình dốc, mất lớp thảm thực vật che phủ thì đất dễ bị thoái hóa do xói mòn và quá trình latêrit hóa diễn ra nhanh.

Rừng Đồng Nai có vị trí nằm kế cận các đô thị lớn và các khu công nghiệp tập trung như khu công nghiệp Biên Hòa, khu công nghiệp Long Bình, Gò Dầu... và  các vùng dân cư đông đúc. Nó giữ vai trò quan trọng về phòng hộ môi trường , ổn định vi khí hậu khu vực, chống ô nhiễm và phòng chống các thay đổi do thời tiết bất lợi gây ra cho sản xuất và đời sống nhân dân trong vùng.

Rừng Đồng Nai là nơi bảo tồn các hệ sinh thái tối ưu mang tính đa dạng về di truyền mà thiên nhiên đã tạo nên nhóm thực động vật quí hiếm có giá trị, là nguồn gien dự trữ quan trọng của địa phương. Tiêu biểu là rừng Nam Cát Tiên có tính đa dạng sinh học cao, từ đó ta có thể tuyển chọn lai tạo giống cây trồng và vật nuôi có năng suất cao, có tính chống chịu với điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên nhiệt đới, mang ý nghĩa quan trọng trong phát triển nông lâm ngư nghiệp. Trong vùng Đông Nam Bộ không  nơi nào có nguồn vốn tự nhiên nhiều như ở Đồng Nai là vườn giống cây lấy gỗ cung cấp giống cho trồng các loài cây họ Dầu như Dầu rái, Dầu song nàng, Sao đen, Sến mủ, Chai... và các loài cây họ Đậu như Gõ đỏ, Cẩm lai, Cẩm xe, Dáng hương... là những loài cây gỗ có giá trị kinh tế cao cùng với các loài cây khác có giá trị phục vụ cho lợi ích của con người.

Rừng Đồng Nai đã cung cấp một số lượng lớn các loài cây giống cho phát triển trồng rừng trong tỉnh. Đến năm 1995, ta đã trồng được 11.250 ha rừng gỗ lớn chủ yếu là các loài cây Sao, Dầu, cùng với việc khoanh nuôi bảo vệ các khu rừng giống tự nhiên để gìn giữ và phát triển vốn tài nguyên đa dạng sinh học của rừng.

Nguồn cây thuốc trong rừng cũng rất phong phú, có nhiều tiềm năng cung cấp giống cây thuốc như: Sa nhân, Đảng sâm, Vàng đắng... Nhiều cây thuốc quí khác đang được phát triển gây trồng trong các vườn cây thuốc nhân dân.

Nguồn lợi động vật hoang dã đã làm xuất hiện các nghề khai thác thiên  nhiên gắn với nuôi rắn, bẫy chim cảnh, nuôi hươu nai, cá sấu, ba ba... và nhiều loài vật khác, mở ra triển vọng phát triển nuôi chim thú rừng ở Đồng Nai.

Lợi ích của tính đa dạng sinh học ngày càng tăng với đà phát triển kinh tế xã hội, cuộc sống của con người phụ thuộc vào các loài cây con tự nhiên để tìm những tố chất hóa học dùng làm thuốc, kiểm soát sâu bệnh, nâng cao năng suất mùa màng và chăn nuôi.

Đồng Nai còn có các khu rừng danh lam thắng cảnh, rừng văn hóa - lịch sử... không xa các thành phố lớn có thể tổ chức các loại hình du lịch cảnh quan, du lịch sinh thái, vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng và tổ chức các hoạt động văn hóa, giáo dục truyền thống sinh hoạt tinh thần ở các khu rừng có tiếng trong tỉnh như:

* Vườn quốc gia Cát Tiên là khu bảo tồn đa dạng sinh học rừng ẩm nhiệt đới điển hình ở phía Nam nước ta, cũng là nơi nghiên cứu khoa học, tham quan học tập và du lịch sinh thái rừng.

* Các khu rừng cảnh quan như rừng ven hồ Trị An, rừng có Thác Mai, bàu Nước Nóng ở lâm trường Tân Phú trong cụm du lịch núi Đá chồng, thác Ba giọt thuộc huyện Định Quán, rừng Sác ở  Nhơn Trạch, Long Thành... được đánh giá có nhiều tiềm năng du lịch đầy hứa hẹn.

* Các cảnh quan hệ sinh thái rừng Đồng Nai gắn liền với các di tích lịch sử của nhiều căn cứ địa cách mạng, giữ vị trí chiến lược quan trọng về mặt quốc phòng trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm vừa qua và trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng tổ quốc ngày nay.

Rừng phía Bắc sông Đồng Nai nằm trong hệ thống rừng núi phía Bắc miền Đông Nam Bộ là Chiến khu Đ lịch sử có ưu thế của rừng ẩm nhiệt đới hỗn giao nhiều tầng, nhiều loài cây mọc dày đặc với địa hình địa thế tự nhiên khá hiểm trở đã tạo nên cái thế của vùng Mã Đà sơn cước "rừng che bộ đội, rừng vây quân thù". Nơi đây có căn cứ Khu ủy miền Đông đã được công nhận là di tích lịch sử quốc gia rộng 28 ha nằm trên quả đồi thuộc lâm trường Hiếu Liêm (huyện Vĩnh Cửu) giữa hai nhánh suối Linh đổ ra sông Bé.

Vùng rừng Sác ở cửa sông Đồng Nai thuộc hai huyện Nhơn Trạch và Long Thành nối liền với rừng Sác huyện Cần Giờ (thành phố Hồ Chí Minh) rộng hàng chục ngàn hécta, chủ yếu là rừng Đước trên địa hình sông rạch chằng chịt với các cù lao bịt bùng, trước đây là Chiến khu Rừng Sác với nhiều chiến công của các chiến sĩ đặc công Rừng Sác trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Lợi ích đa dạng sinh vật và các hệ sinh thái của rừng Đồng Nai như vậy rất quí đối với đời sống nhân dân và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và khu vực. Nếu chúng ta gây tổn hại đến rừng làm suy giảm tính đa dạng sinh học thì không chỉ làm mất nguồn tài nguyên sinh vật còn gây ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sống của con người. Do đó việc bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái đang là một nhiệm vụ cấp bách hiện nay. Chúng ta hãy góp phần tích cực bảo vệ rừng, trồng rừng, trồng cây xanh làm cho quê hương Đồng Nai ngày càng xanh tươi giàu đẹp, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Rừng là vàng, nếu mình biết bảo vệ xây dựng thì rừng rất quí...".

II. Vườn quốc gia Cát Tiên:

Vườn quốc gia Cát Tiên thuộc địa giới tỉnh Đồng Nai nằm ở vùng giáp ranh ba tỉnh Đồng Nai, Bình Phước và Lâm Đồng; phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía Đông giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Tây và Nam giáp các huyện Tân Phú, Định Quán, Vĩnh Cửu thuộc tỉnh Đồng Nai. Nó có diện tích 37.674 ha nằm trong khu vực có tọa độ địa lý:

10020' 50" - 11032'13" vĩ độ Bắc.

107011'13" - 107028'20" kinh độ Đông.

Sông Đồng Nai là giới hạn phía Nam và Đông Nam vườn quốc gia Cát Tiên. Trên quốc lộ 20 đi Đà Lạt đến cây số 142, rẽ bên trái đi thêm 20 km thì chúng ta đến rừng Nam Cát Tiên.

Khu rừng cấm Nam Cát Tiên được thành lập theo Quyết định số 360/TTg ngày 7 - 7 - 1978 của Thủ tướng Chính phủ và được nâng cấp thành Vườn quốc gia Cát Tiên theo Quyết định số 08/CP ngày 13 - 1 - 1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ).

Địa hình phía Nam là vùng thấp, bằng phẳng, có chỗ lượn sóng, có nơi bị úng ngập trong mùa mưa và hình thành những bàu nước. Phần phía Bắc có dạng hình đồi gò bát úp tiếp giáp với núi thấp vùng cao nguyên Bảo Lộc. Đất đai phần lớn là đất xám phù sa cổ, nhưng cũng có nhiều nơi là đất đỏ vàng và đất nâu đỏ bazan có lớp sâu dày, mực nước ngầm lên cao nhưng trong mùa khô thì rút xuống thấp.

Vườn quốc gia Cát Tiên có tính đa dạng sinh vật rất cao và khu hệ sinh vật phong phú, tiêu biểu cho khu hệ sinh vật Nam Trường Sơn.

So sánh với Tây Nguyên, diện tích tự nhiên của vườn quốc gia Cát Tiên chỉ bằng 1,4% diện tích nhưng số loài thực vật đã bằng 19,2%, chim 56,8%, thú 55,9%, bò sát 80%, sinh vật quí hiếm được Tổ chức quốc tế bảo vệ nguồn lợi thiên nhiên (IUCN) đưa vào danh sách bảo vệ.

Các loài sinh vật quí hiếm đang bị đe dọa diệt vong, các loài đặc hữu, các loài sinh vật cổ xưa có số lượng loài thường chiếm từ 30 - 50% tổng số loài của cả nước tạo nên nét đặc trưng của quần xã rừng Nam Cát Tiên nằm trong một khu vực ít bị tác động nên vẫn còn giữ được tính nguyên vẹn có điều kiện cho các quần thể sinh vật phát triển tăng nhanh về số lượng.

Trong rừng có nhiều cây cổ thụ có tính nguyên thủy, tuổi thọ hàng ngàn năm như cây Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa Kurz Craib) đường kính thân 3,2m và những cây có kích thước lớn như những cây Sao, Dầu, Vên vên... cao 40 - 50 m, thân tròn thẳng, có nhiều cây có đường kính 2 - 3 m là những cây có sinh khối cao.

Nhiều loài thực vật đặc hữu trong đó có: Dầu đèo Chuối (Dipterocarpus baudii Korth), Sấu lá nhỏ (Dracontomelum Schmidii Tard). Thực vật cổ có Thiên tuế (Cycas rumphii Miq) thuộc ngành Tuế (Cycadophyta).

Nhiều loài động vật quí hiếm ở đây còn có tồn tại quần thể Tê giác 1 sừng (Rhinoceros sondaicus) và nhiều loài chim thú quí hiếm và có nguy cơ diệt vong được thế giới quan tâm bảo vệ.

Hệ sinh thái Vườn quốc gia Cát Tiên khá đa dạng về sinh cảnh. Ngoài các kiểu thảm thực vật còn có các sinh cảnh thủy vực sông suối và các bàu nước như bàu Sấu, bàu Cá, bàu Chim... và cảnh quan thiên nhiên như thác Trời, thác Bến Cự. Các cù lao với nhiều cảnh đẹp trên thượng nguồn sông Đồng Nai có nhiều sinh cảnh còn giữ được tính nguyên sinh khá đậm nét, tiêu biểu là các kiểu rừng đặc trưng của rừng ẩm nhiệt đới vùng thấp của khu vực gió mùa Đông Nam Á.

Đây là một khu rừng tiêu biểu cho hệ sinh thái rừng Đông Nam Bộ còn lại, là kho dự trữ nguồn gien động thực vật đáp ứng cho việc tái tạo tính đa dạng sinh học của rừng, là một hiện trường thí nghiệm thiên nhiên để nghiên cứu về sinh thái tài nguyên môi trường.

Rừng Nam Cát Tiên là một phần lưu vực trực tiếp của hồ Trị An, có vai trò bảo vệ nguồn nước cho thủy điện và giữ tuổi thọ lâu dài cho các hồ chứa nước.

Vườn quốc gia Cát Tiên là một kho tàng thiên nhiên quí báu có giá trị tiềm ẩn lớn lao mà con người chưa tìm hiểu hết, đã được bảo vệ và xây dựng để bảo tồn và phát triển các giá trị của rừng phục vụ cho lợi ích bảo tồn thiên nhiên, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường, tổ chức du lịch sinh thái cảnh quan và góp phần phát triển kinh tế xã hội trong khu vực.

III. Diễn biến tài nguyên rừng:

Rừng Đồng Nai xưa kia là rừng nguyên sinh bao phủ hầu hết diện tích đất đai của tỉnh qua quá trình phân hóa lâu dài hệ thực vật và trải qua các thời kỳ lịch sử do tác động và khai thác liên tục của con người trên dưới vài trăm năm nay đã làm biến đổi thảm thực vật nguyên sinh thành thảm thực vật thứ sinh gồm những hệ sinh thái diễn thế nguyên sinh, hệ sinh thái rừng nhân tác và nhân tạo, với những cảnh quan hệ sinh thái và hệ thực động vật như ngày nay.

Từ thế kỷ 17, cư dân đến vùng đất Đồng Nai đã khai phá rừng lập xóm làng, vườn ruộng. Dân số càng đông thì rừng bị khai phá càng nhiều, lúc đầu ở các cù lao Rùa, cù lao Phố, cù lao Tân Chánh, Tân Triều... và càng về sau càng tiến sâu vào những vùng rừng ở ven sông Đồng Nai như Bến Gỗ, Bến Cá... Song song với các hoạt động khai thác lâm sản thì việc săn bắt thú rừng cũng tăng nhanh, nhất là từ khi có sự mở rộng giao lưu buôn bán trao đổi hàng hóa với các nước phương Tây vào các thế kỷ  18, 19. Tiếp theo, dưới thời thuộc Pháp, chính sách khai thác thuộc địa phá rừng mở đồn điền cao su và khai thác gỗ đã làm cho tài nguyên rừng thu hẹp dần.

III.1. Rừng Đồng Nai dưới thời thuộc Pháp (1861 - 1945) :

Theo Địa chí tỉnh Biên Hòa năm 1901, tỉnh Biên Hòa có 10 tổng thì 8 tổng có rừng là: tổng Bình Lâm Thượng (vùng Xuân Lộc - Long Khánh ngày nay), tổng Chánh Mỹ Hạ (Vĩnh Cửu), tổng Phước Vĩnh Thượng (thành phố Biên Hòa), tổng Thành Tuy Thượng (Long Thành), chưa kể 7 tổng vùng Thượng ở Phước Thành, Bình Tuy.

Rừng kéo dài từ Bà Rịa đến Biên Hòa nối tiếp rừng thượng nguồn sông Đồng Nai.

Địa chí tỉnh Biên Hòa năm 1924 của Robert (M) mô tả rừng tỉnh Biên Hòa được phân bố trong toàn tỉnh, nhưng đặc biệt dày đặc mịt mù và tương ứng thuần nhất trong phần phía Đông và phía Bắc của tỉnh trên toàn bộ diện tích các tổng vùng Thượng.

Thảm thực vật được mô tả là rừng rậm gỗ lớn, trên vùng đất đỏ có tầng dày ở Phước Thành, Bình Tuy tạo thành tầng tán với nhiều cây gỗ lớn như Cẩm lai, Sao, Dầu, Bằng lăng, Cẩm xe, Cẩm thị, Gõ, Xoay, Vấp... và những rừng thưa cây họ Dầu gần như mọc thuần loại ở ven sông Đồng Nai và phụ lưu sông Bé ở các tổng Chánh Mỹ Hạ,  Phước Vĩnh Hạ và vùng hạ lưu sông La Ngà. Đó là kiểu rừng kín thường xanh và nửa rụng lá ẩm nhiệt đới chiếm phần lớn diện tích rừng Đồng Nai.

Rừng tre có nhiều ở các tổng Bình Lâm Thượng, Thành Tuy Hạ có nơi mọc tập trung được gọi là "biển tre" ở phía Bắc An Bình (tỉnh Bình Phước ngày nay).

Rừng Đước, Sú, Vẹt có nhiều ở vùng phía Nam các tổng Thành Tuy Thượng, Thành Tuy Hạ (thuộc huyện Nhơn Trạch và Long Thành ngày nay) tuy đã bị suy giảm nghiêm trọng nhưng còn chiếm diện tích đáng kể.

Rừng Tràm có diện tích nhỏ ở dọc các kênh rạch nước lợ, hình thành quần thể rậm rạp với kích thước trung bình.

Rừng Biên Hòa có nhiều song mây ở các tổng Chánh Mỹ Hạ, Phước Vĩnh Hạ và Bình Lâm Thượng (vùng Tân Uyên và Xuân Lộc).

Về thú rừng có nhiều loài thú lớn như voi, tê giác, hổ, báo gấm, bò rừng, trâu rừng, hươu nai, dê rừng, gà rừng.... và nhiều loài chim muông. Cá sấu có nhiều ở vùng rừng Sác, sông Đồng Nai và sông Bé.

Từ thế kỷ 20, rừng đã bị khai phá hàng chục ngàn héc ta chủ yếu để trồng cao su, khai thác gỗ quí và lâm sản khác với qui mô lớn ở các tổng Phước Vĩnh Hạ, Phước Thành, Bình Tuy, Bình Lâm Thượng (huyện Thống Nhất, Vĩnh Cửu, Định Quán, Xuân Lộc ngày nay).

Chính người Pháp đã thừa nhận rằng tài nguyên rừng mênh mông của tỉnh Biên Hòa đã bị tàn phá nhiều, các quần thể rừng suy giảm nên khi thấy tác hại của việc phá rừng và gây thiệt hại cho quyền lợi của họ, họ đã thành lập các khu rừng bảo vệ như rừng Trảng Bom, Lý Lịch, Cẩm Đường, Gia Ray, Trảng Táo và các khu rừng ở vùng Long Thành, Tân Uyên...

Rừng Đông Nam Bộ trong đó rừng Đồng Nai vào thời điểm năm 1943 có độ che phủ khoảng 60 - 70% diện tích đất tự nhiên, tài nguyên rừng vẫn còn nhiều, hầu hết là rừng giàu trữ lượng, có gỗ lớn gỗ quí và các lâm sản khác.

III.2. Rừng Đồng Nai trong hai thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ (1945 - 1975) :

Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, rừng Đồng Nai bị tàn phá do các cuộc càn quét của địch bằng các loại xe cơ giới và máy bay bắn phá, ném bom vào những vùng rừng có  các căn cứ kháng chiến của ta. Rừng chiến khu Đ là mục tiêu đánh phá nhiều lần của địch, chúng đã dùng bom napalm và xăng đốt cháy cây cối và hoa màu theo chính sách đốt sạch phá sạch làm cháy nhiều rừng. Một số rừng ở Tân Uyên và dọc sông Đồng Nai trở thành đất trống, diện tích rừng giáp ranh với vùng kháng chiến bị thu hẹp nhanh chóng.

Trong thời kỳ chống Mỹ, rừng Đồng Nai bị tàn phá hết sức nghiêm trọng với nhiều hình thức khác nhau do chính sách hủy diệt tàn bạo của địch như ủi quang làm vành đai trắng, chặt phá rừng bừa bãi, ném bom rải thảm và bom cháy làm phá hủy nhiều diện tích rừng. Đặc biệt nhiều đợt phun hóa chất khai quang bằng máy bay vào những năm 1966 - 1970 không những đã phá hủy một số lớn diện tích rừng mà còn để lại hậu quả nặng nề trên hệ sinh thái và cả con người, làm cho việc phục hồi lại rừng có nhiều khó khăn, không phải vài chục năm mà có thể còn kéo dài  hơn. Chất độc hóa học gồm các chất da cam, trắng và xanh dương là hỗn hợp 2,4,5-T và 2,4-D có chất Dioxin là hóa chất cực kỳ độc hại đối với con người và sinh vật ([1][6])

Những vùng rừng chiến khu Đ và chiến khu rừng Sác là đối tượng chính của cuộc hủy diệt này ([2][7]), trong đó, diện tích bị rải chất độc hóa học là 49% tổng diện tích tự nhiên.

Nhiều vùng bị rải chất độc hóa học nhiều lần, cây bị chết 80 - 100% cho đến nay còn nhiều dấu vết băng rải chất độc hóa học để lại cây bụi, cỏ tranh (Inperata cylindrica) và cỏ Mỹ (Pennisetum polystachyum) mọc dày đặc xen kẽ vào đó rải rác một vài cây Cày (Irvingia malayana) đứng trơ trọi là bằng chứng của hậu quả chất độc hóa học.

Những vùng lân cận cũng bị ảnh hưởng rõ rệt, những cây gỗ tầng trên đã bị nhiễm độc trụi lá và chết dần làm cho cấu trúc rừng thay đổi, độ che phủ giảm, hệ thực vật và động vật trong rừng đều bị suy thoái.

Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của chiến tranh hóa học đối với rừng Đồng Nai cho thấy nhiều diện tích rừng và đất rừng bị hủy diệt, trong đó phần lớn là rừng kín rậm thường xanh giàu gỗ lớn họ Dầu và gỗ quí họ Đậu biến thành những trảng cỏ thường bị cháy trong mùa khô, đất mặt bị xói mòn rửa trôi mạnh trong mùa mưa nên rừng không tự tái sinh phục hồi được.

Các vùng rừng bị rải chất độc hóa học được nghiên cứu đánh giá ở các khu vực sau đây:

* Rừng Mã Đà có đến 74% diện tích thảm thực vật rừng kém giá trị kinh tế cần phải phục hồi, đó là các trạng thái cỏ tranh, cỏ Mỹ, rừng tre lồ ô thoái hóa, rừng cây bụi và rừng nghèo kiệt.

* Qua kiểm kê trên ảnh vệ tinh Landsat ngày 2 - 1 -1973 có số liệu D.134 - 052 st cùng với bản đồ Pictomap - D.8020 tỷ lệ 1/25.000 làm năm 1965, diện tích tự nhiên 168.430 ha nằm trong khu vực bị rải chất độc hóa học theo chương trình chiến tranh hủy diệt của đế quốc Mỹ năm 1967 - 1968 ở Đồng Nai ([3][8]). Ở đây trong năm 1965 độ che phủ của rừng đạt 68% và tới năm 1973 chỉ còn độ che phủ là 31%, đất trống đã tăng lên 60.000 ha, chất lượng rừng bị suy giảm nghiêm trọng. Rừng còn lại hiện nay chỉ là những dải rừng nghèo có trữ lượng gỗ bình quân thấp, cho đến nay 54% diện tích rừng sau khi hủy diệt vẫn chưa được phục hồi.

* Toàn bộ khu rừng Sác vùng Nhơn Trạch và Long Thành nằm trong phạm vi bị rải chất độc hóa học đều bị chết dần, chỉ còn lại một ít Chà là (Phoenix paludosa), sau đó lại bị máy bay B52 ném bom rải thảm xuống rừng cây trơ trụi làm hủy diệt hoàn toàn thảm thực vật tự nhiên, gây những hậu quả lâu dài đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn và môi trường đất và nước vùng cửa sông Đồng Nai.

Rừng còn bị phá do địch mở đường vào các vùng rừng chiến khu Đ, cho xe tăng càn phá vào rừng đánh phá căn cứ của ta, vừa dùng các loại xe máy khai thác gỗ quí dọc các con đường 322 xuyên rừng từ sông Đồng Nai đến Mã Đà lên sân bay Rang Rang và đường 323 từ Cây Gáo đi Tà Lài - Lý Lịch làm cho rừng bị tàn phá nặng nề, rừng già bạt ngàn với nhiều thú quí hiếm nay không còn nữa ([4][9]).

Sơ bộ ước tính trong khoảng 20 năm dưới chế độ Sài Gòn (1955 - 1975) rừng bị tàn phá trắng hơn 200.000 ha và những diện tích rừng còn lại cũng bị chặt phá bừa bãi mà không trồng lại làm cho rừng suy giảm nhanh chóng để lại hậu quả nghiêm trọng về cả 2 mặt tài nguyên lâm sản và phòng hộ bảo vệ môi trường. Tỷ lệ che phủ có rừng từ 60% vào trước năm 1965 đã giảm xuống còn 46,2% vào năm 1975.

III.3. Rừng Đồng Nai từ sau ngày giải phóng 30 - 4 - 1975:

Trong những năm đầu sau giải phóng do yêu cầu phải mở rộng diện tích canh tác, nhân dân đã khai phá rừng và đất rừng để lấy đất trồng cây lương thực, trồng cao su... ở các vùng Cẩm Đường, Cẩm Mỹ, Sông Ray, Thọ Vực... thuộc các huyện Long Thành, Xuân Lộc và vùng Ngãi Giao, Hòa Bình thuộc huyện Châu Thành và Xuyên Mộc (tỉnh Đồng Nai cũ). Mặt khác phải tập trung gỗ cho nhu cầu xây dựng và xuất khẩu, ngành lâm nghiệp đã khai thác một khối lượng lớn lâm sản vượt quá lượng tăng trưởng của rừng.

Sau khi hình thành hồ chứa nước Trị An, lớp phủ thực vật bị mất đi 32.000 ha trong đó có 16.250 ha rừng tự nhiên và 14.550 ha gồm rừng trồng, cao su và cây công nghiệp.

Rừng còn bị suy giảm do cháy rừng, khai thác lâm sản trái phép, phá rừng làm rẫy, nhất là các vùng có dân di cư đến.

Theo kết quả điều tra tài nguyên rừng Đồng Nai năm 1983, phân tích ảnh vệ tinh năm 1976 và 1982, diện tích rừng suy giảm trên dưới 35%. Trong vòng 7 - 8 năm sau ngày giải phóng (1976 - 1983) diện tích rừng Đồng Nai đã mất đi khoảng trên 100.000 ha, bình quân mỗi năm mất từ 4 - 5% diện tích rừng ([5][10])[PVT1] [PVT1]

Nhưng điều đáng quan tâm là chất lượng rừng bị giảm sút nghiêm trọng. Trong nhiều năm qua việc khai thác gỗ không chỉ ở rừng giàu, rừng trung bình mà người ta đã chặt cả rừng nghèo, rừng đang phục hồi làm giảm chất lượng rừng ở nhiều nơi.

Chỉ sau 5 năm (1978 - 1983) toàn lâm trường La Ngà (nay là Công ty lâm nghiệp La Ngà) đã giảm 15,5% độ che phủ rừng, trong đó rừng giàu giảm tới 80%, rừng trung bình và rừng nghèo giảm 26,4%, đất trống các loại đã tăng nhanh cùng với các loại rừng tre lồ ô hỗn giao.

Trong những năm gần đây tình hình phá rừng, mất rừng đã giảm nhiều so với trước, nhưng diễn biến của hệ sinh thái rừng nói chung đang trong chiều hướng suy giảm, do cấu trúc thảm thực vật đã bị thay đổi, các loài có giá trị kinh tế thuộc các quần hợp Dầu - Bằng lăng, Bằng lăng - Cẩm xe, Dầu - cây họ Đậu... giảm đi nhanh chóng, số lượng cá thể các loài ít dần, khả năng tái sinh kém.

Phần lớn thảm thực vật rừng hiện nay là những dải rừng gồm các quần thể thực vật hình thành trong các khu rừng bị phá hủy bởi chất độc hóa học, rừng đã qua khai thác hay đã bị chặt phá và một số rừng thứ sinh già còn lại ít bị tác động trong các thảm rừng cũ ở khu vực thượng nguồn sông Đồng Nai, trong đó có rừng Nam Cát Tiên còn giữ được tính nguyên sinh của rừng ẩm nhiệt đới.

Rừng tự nhiên hiện nay của tỉnh Đồng Nai phân bố tập trung ở phía Bắc của tỉnh nằm gọn phần hữu ngạn sông Đồng Nai thuộc các huyện Tân Phú, phía Bắc huyện Định Quán, huyện Vĩnh Cửu và một phần ít rừng còn lại ở phía Đông thuộc các huyện Xuân Lộc, phía Đông huyện Định Quán giáp với tỉnh Bình Thuận. Một số huyện đã mất hết rừng tự nhiên như huyện Thống Nhất, Long Thành, Nhơn Trạch ([6][11])

Theo số liệu kiểm kê rừng tự nhiên năm 1992 và kết quả phúc tra rừng năm 1995 thì diện tích có rừng của tỉnh là 146.628 ha chiếm tỷ lệ 25% tổng diện tích tự nhiên, trong đó rừng tự nhiên là 113.644 ha và rừng trồng 32.984 ha.



([1][6]) Herbicides in war của Arthur H. Westing - 1984 (SIPRI).

([2][7]) Báo cáo Hệ sinh thái rừng các tỉnh phía Nam 1994 - Phân viện điều tra quy hoạch rừng.

([3][8]) Báo cáo Kết quả điều tra tài nguyên rừng Đồng Nai 1983 - Phân viện điều tra quy hoạch rừng.

([4][9]) Lịch sử Chiến khu Đ - NXB Đồng Nai 1997.

([5][10]) Báo cáo Kết quả điều tra tài nguyên rừng Đồng Nai 1983 - Phân viện điều tra quy hoạch rừng.

([6][11]) Xem Bản  đồ hiện trạng rừng Đồng Nai và Biểu đồ diện tích rừng và đất lâm nghiệp.


 [PVT1]

 

Comments