E. Hiện trạng bảo tồn đa dạng sinh học ở Đồng Nai

HIỆN TRẠNG BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC Ở ĐỒNG NAI


I. Tính cấp thiết bảo tồn đa dạng sinh học:

Rừng Đồng Nai có vai trò đặc biệt trong việc bảo tồn da dạng sinh học, là nơi sinh sống của khu hệ thực động vật phong phú và đa dạng trong các hệ sinh thái, bảo vệ đất, dự trữ và điều hòa nguồn nước nhất là các vùng rừng đầu nguồn sông Đồng Nai có tác dụng quan trọng phòng hộ bảo vệ môi trường.

Nhưng rừng đã và đang bị tác động làm suy giảm nhanh chóng.

Tuy hiện nay tình hình bảo vệ rừng đã có những chuyển biến tích cực nhưng trong thực tế vẫn còn diễn ra các vi phạm bảo vệ rừng dưới các hình thức như: khai thác lâm sản trái phép, phá rừng khai hoang lấy đất sản xuất nông nghiệp, làm cháy rừng đang là những tác động làm cho rừng bị suy giảm.

Một số loài cây quí hiếm có giá trị kinh tế đến nay đã trở nên khan hiếm như:

* Cẩm lai Đồng Nai (Dalbergia dongnaiensis).

* Cẩm lai Bà Rịa (Dalbergia bariaensis).

* Cẩm lai vú (Dalbergia mammosa).

* Trắc (Dalbergia cochinchinensis).

* Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa).

* Chai (Shorea guiso).

* Dáng hương (Pterocarpus pedatus)

* Trai (Fagraea fragans).

Đó là những nguồn gien quí mang tính đa dạng sinh học của khu hệ  thực vật vốn có của rừng Đồng Nai cần được bảo vệ.

Cùng với sự biến đổi của lớp phủ thực vật, các quần hệ động vật cũng đã biến động theo chiều hướng suy giảm, thêm vào đó là nạn săn bắt chim thú rừng không kể mùa vụ đã làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển số lượng làm biến đổi diễn thế hệ sinh thái. Vì vậy, số lượng nhiều loài động vật quí hiếm giảm sút nhanh chóng và một số loài ngày càng cạn kiệt và có nguy cơ mất dần như:

* Bò tót (Bos gaurus)

* Bò Banteng (Con Min (Bos Banteng)

* Voi (Elephas maximus)

* Nai (Cervus unicolor)

* Công xanh (Pavo muticus)

* Trĩ sao (Rhei nartia ocellata)

* Gà lôi vằn (Lophura nycthemera annamensis)

Một khía cạnh khác là hệ sinh thái rừng biến đổi làm mất cân bằng các yếu tố sinh thái dẫn đến những tai biến môi trường do biến đổi khí hậu, đất đai, lớp phủ thực vật bị thu hẹp tạo thành các sinh cảnh mới như hồ chứa nước, trảng cỏ, các vùng đất hoang hóa, bờ bụi... gây phát sinh các dịch bệnh từ những sinh vật có hại vốn có trong  tự nhiên phát triển thành dịch đã xẩy ra ở Đồng Nai như mùa dịch sốt rét kéo dài, nạn dịch cào cào trong những năm gần đây phát triển nhiều hơn, các dịch sâu bệnh hại cây trồng, dịch chuột phá hoại mùa màng... và đã có sự cố xảy ra như các đàn voi rừng do bị thiếu nơi cư trú và nguồn thức ăn trở nên hung dữ đã làm chết hai người trong năm 1997 và năm 1998 ở xã Phú Ngọc và xã Gia Canh huyện Định Quán và trước đó ở một số nơi trong huyện và tỉnh.

Đi kèm với sự mất rừng là sự xói mòn đất canh tác, giảm độ màu mỡ của đất và vật chất rửa trôi lắng đọng ở lòng hồ Trị An mỗi năm dày lên 2cm, ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thọ của hồ.

Những tác động làm suy thoái rừng dẫn đến ảnh hưởng môi trường sống của sinh vật đang là những đe dọa đối với đa dạng sinh học, vì vậy tính cấp thiết của việc bảo tồn đa dạng sinh học là phải bảo vệ các hệ sinh thái rừng để duy trì sự cân bằng sinh học và làm ổn định khí hậu nhằm ngăn chặn sự diệt  vong của các loài và hạn chế những hậu quả diễn biến môi trường gây bất lợi cho sản xuất và đời sống của con người.

Việc bảo vệ tài nguyên môi trường và khôi phục hệ sinh thái rừng là hết sức cấp bách, phù hợp với chương trình môi trường của Liên Hiệp quốc trong Công ước về đa dạng sinh học được thông qua năm 1992 mà Việt Nam là một thành viên. Theo tinh thần đó, chúng ta càng nâng cao ý thức về giá trị và tầm quan trọng của việc bảo vệ tài nguyên môi trường rừng, khẳng định trách nhiệm bảo tồn đa dạng sinh học và sử dụng tài nguyên sinh học được lâu bền trước tình hình tài nguyên rừng đang bị thoái hóa xuống cấp. Nhưng Đồng Nai còn nhiều tiềm năng phát triển rừng lại được thiên nhiên ưu đãi là những yếu tố thuận lợi để nâng cao năng suất sinh học trong các hệ sinh thái với chương trình hành động bảo vệ đa dạng sinh học cho hiện nay và tương lai.

II. Các mục tiêu của chương trình hành động bảo vệ đa dạng sinh học:

Trong những năm qua tỉnh đã quan tâm đến việc bảo vệ và phát triển rừng. Tình hình rừng bị phá đã giảm đi rõ rệt, nhất là từ năm 1990 trở lại đây, tốc độ suy giảm về diện tích và chất lượng rừng được hạn chế đáng kể do ta đã tăng cường công tác quản  lý bảo vệ rừng, tổ chức giao đất khoán rừng đến các hộ dân, thực hiện định canh định cư, giảm sản lượng khai thác lâm sản trong kế hoạch hàng năm và đến năm 1997 đã thực hiện chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên cùng với các biện pháp khoanh nuôi bảo vệ rừng, đẩy mạnh trồng rừng phủ xanh đất trống đồi trọc và trồng thêm cây xanh đem lại hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường.

Các chương trình hành động bảo vệ đa dạng sinh học đang được thực hiện ở Đồng Nai nhằm các mục tiêu:

- Mục tiêu lâu dài: là bảo vệ đa dạng sinh học phong phú và đặc sắc của Đồng Nai tiêu biểu cho Đông Nam Bộ trong khuôn khổ phát triển bền vững.

- Mục tiêu trước mắt là:

* Bảo vệ các hệ sinh thái đặc thù của rừng ẩm nhiệt đới và hệ sinh thái rừng ngập mặn đang bị đe dọa thu hẹp do hoạt động kinh tế.

* Bảo vệ khẩn cấp một số loài thực động vật quí hiếm thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae) và họ Đậu (Fabaceae) là những loài cây gỗ lớn gỗ quí đặc trưng của rừng ẩm nhiệt đới có giá trị kinh tế cao, và các loài động vật thuộc họ Bò (Bovidae), cá Sấu nước ngọt, Voi, Tê giác và nhiều loài chim thú khác.

* Tiếp tục phát triển và bảo tồn các giá trị sử dụng của các thành phần đa dạng sinh học và ứng dụng công nghệ tiên tiến trong quản lý và phát triển tài nguyên sinh học.

- Nội dung chương trình được thực hiện trên cơ sở qui hoạch xây dựng 3 loại rừng theo chức năng và mục đích sử dụng các loại rừng.

III. Xây dựng vốn rừng:

III.1. Rừng đặc dụng:

Được sử dụng để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái, nguồn gien thực động vật rừng, nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh phục vụ nghỉ ngơi du lịch như:

* Xây dựng và bảo vệ Vườn quốc gia Cát Tiên có diện tích  38.388 ha đã được pháp lý thừa nhận là khu bảo tồn lâu dài với mục đích bảo vệ và đảm bảo cho Vườn quốc gia Cát Tiên tồn tại và phát triển trong đó bảo tồn khu trung tâm và xây dựng các vùng đệm hỗ trợ cho sự tồn tại của nhiều loài đặc hữu, quí hiếm.

Việc bảo tồn khu vực này là rất cấp bách, đang được tăng cường đầu tư với các dự án bảo tồn Vườn quốc gia và dự án bảo vệ rừng và phát triển nông thôn vùng đệm theo hướng mở rộng Vườn quốc gia Cát Tiên nối hành lang với khu bảo tồn Tê giác Cát Lộc thuộc tỉnh Lâm Đồng với các nguồn vốn trong nước và vốn tài trợ của các tổ chức quốc tế.

* Bảo vệ động vật quí hiếm trong đó có khu bảo vệ quần thể Voi ở vùng rừng của lâm trường Tân Phú thuộc huyện Định Quán.

* Ngoài ra còn có các khu rừng được bảo tồn như: rừng di tích lịch sử chiến khu Đ, các khu rừng danh lam thắng cảnh, các khu rừng giống tự nhiên và rừng giống chuyển hóa với các loài cây Sao, Dầu, Teck... và một số loài cây khác phục vụ cho trồng rừng và các vườn thực vật đang được  xây dựng ở thành phố Biên Hòa và một số nơi khác.

III.2. Rừng phòng hộ:

Có tác dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái như:

* Xây dựng và bảo vệ hệ thống rừng phòng hộ Trị An với diện tích đầu tư xây dựng là 42.980 ha bao gồm rừng ven hồ và rừng các lưu vực sông Đồng Nai và sông La Ngà đảm bảo nguồn nước và bảo vệ hồ chứa nước thủy điện Trị An.

* Khôi phục và bảo vệ rừng ngập mặn ở cửa sông Đồng Nai 4200 ha với loài cây Đước (Rhizophora mucronata) có giá trị bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng ngập mặn có tài nguyên thủy sản phong phú và có tác dụng về mặt phòng hộ ven biển, phòng hộ môi trường tại các khu phát triển công nghiệp và đô thị hóa của tỉnh đang bị tác động bởi các hoạt động gây ô nhiễm môi trrường nước và không khí.

* Ngoài ra còn có các loại rừng phòng hộ đầu nguồn của các con sông suối khác trong tỉnh và các dải rừng phòng hộ môi trường, phòng hộ nông nghiệp...

III.3. Rừng sản xuất:

Với diện tích đã có rừng là 78.400 ha, được sử dụng chủ yếu để sản xuất kinh doanh gỗ và các lâm sản khác, đặc sản rừng, động vật rừng và kết hợp phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái gồm các diện tích rừng đã được qui hoạch là rừng sản xuất kinh doanh lâm trường Hiếu Liêm,  lâm trường Mã Đà, Vĩnh An, Xuân Lộc, Tân Phú, lâm trường 600, lâm trường nguyên liệu giấy Trị An và công ty lâm nghiệp La Ngà.

Có các chương trình:

* Nuôi dưỡng bảo vệ các diện tích rừng tự nhiên đảm bảo cho rừng tái sinh và phát triển để có thể đưa vào khai thác theo luân kỳ trên cơ sở điều chỉnh lại phương án điều chế rừng. Phục hồi rừng trên diện tích rừng nghèo kiệt bằng giải pháp khoanh nuôi và làm giàu rừng.

* Trồng rừng mới trên đất trống, trảng cỏ, cây bụi với những loài thực vật được chọn làm giống cây rừng dựa vào đặc tính sinh thái và công dụng của từng loài cây để xác định cơ cấu cây trồng phù hợp với các dạng lập địa. Có các loại rừng trồng tập trung như:

+ Rừng trồng cây gỗ lớn cung cấp nguyên liệu gỗ cho xây dựng cơ bản, chế biến gỗ dán lạng... theo các phương thức trồng:

l Rừng trồng cây họ Dầu với cây che bóng gồm các loài cây:

Cây họ Dầu là:

- Sao đen (Hopea odorata).

- Dầu rái (Dipte rocarpus alatus).

- Dầu song nàng (Dipterocarpus dyeri).

- Vên vên (Anisoptera glabra)

Cây che bóng:

- Keo lá tràm (Acacia auriculiformis).

- Keo tai tượng (Acacia mangium)

Các loài cây họ Dầu có chu kỳ kinh doanh dài từ 50 - 60 năm, lúc nhỏ ưa bóng được bố trí trồng hỗn giao với cây che bóng có chu kỳ ngắn từ 7 - 10 năm vừa có tác dụng cải tạo đất, thực hiện được phương châm lấy ngắn nuôi dài trong kinh doanh lâm nghiệp.

Mô hình này được bố trí trồng  ở vùng qui hoạch trồng rừng gỗ lớn trên loại đất latêrit đỏ vàng sâu dày ở các huyện Tân Phú, Xuân Lộc, Định Quán, Vĩnh Cửu...

l Rừng hỗn giao nhiều loài cây: ngoài cây họ Dầu còn trồng các loài cây họ Đậu như:

- Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa).

- Dáng hương (Pterocarpus pedatus)

Và một số cây mọc nhanh như:

- Dái ngựa (Swietenia macrocarpa).

- Lòng mức (Wrightia annamensis).

l Rừng trồng cây Teck (Tectona grandis) còn gọi là Giá tỵ theo phương thức trồng thuần loại hoặc hỗn giao với cây Điều (Anacardium occidentale) còn gọi là Đào lộn hột trên các dạng lập địa thích hợp, đất đỏ đất nâu sâu dày ở các huyện Định Quán, Tân Phú, Vĩnh Cửu....

+ Rừng trồng nguyên liệu giấy và phủ xanh đất trống đồi trọc:

Cây được chọn trồng thích hợp là:

- Các loài Keo (Acacia)

- Các loài Bạch đàn (Eucalyptus)

Là những loài cây sinh trưởng nhanh, chu kỳ kinh doanh ngắn, cho sản phẩm gỗ nhỏ, gỗ nguyên liệu giấy và gỗ dăm xuất khẩu.

Các loài Keo có tác dụng cải tạo đất, trồng thuần loại Keo hoặc trồng hỗn giao Keo và Bạch đàn, được trồng ở nhiều vùng trong tỉnh.

+ Trồng cây rừng kết hợp cây công nghiệp lâu năm và cây ăn trái:

Được trồng trong chương trình phủ xanh đất trống đồi trọc, gồm các loài cây:

- Cây gỗ như: Sao, Dầu, Teck, Keo lá tràm...

- Cây công nghiệp lâu năm như: Cao su, Điều, Cà phê...

- Cây ăn trái như: Xoài, Nhãn, Mít, Sầu riêng, Chôm chôm, Chuối... tạo thành các mô hình vườn rừng, trại rừng.... ở các huyện Thống Nhất, Định Quán, Xuân Lộc.

+ Trồng rừng ngập mặn với loài cây Đước ở hai huyện Nhơn Trạch và Long Thành.

Ngoài ra còn có hình thức trồng cây phân tán phát triển mạnh trong phong trào trồng cây trong dân như trồng cây gỗ, cây làm cảnh, cây che bóng mát ở các vùng đô thị và nông thôn, trên các trục đường giao thông, kênh mương thủy lợi, trồng cây trong vườn, quanh nhà, trường học, cơ quan, doanh trại quân đội, nghĩa trang và những nơi công cộng... gồm các loài cây: Sao, Dầu, Keo lá tràm, Bạch đàn, Mò cua, Xà cừ, Phượng vĩ, Muồng đen, Muồng hoa vàng, Bằng lăng tím, Me, Bàng, Viết... là những cây có hình dáng đẹp, cho bóng mát vừa cho gỗ, đến nay đã trồng được hàng chục triệu cây trồng phân tán góp phần vào hệ thống cây xanh trên địa bàn của tỉnh.

Comments