9. Phụ lục tra cứu địa danh tỉnh Đồng Nai hiện nay (tính đến 1996)

PHỤ LỤC TRA CỨU ĐỊA DANH TỈNH ĐỒNG NAI HIỆN NAY (TÍNH TỚI 1996)

Để giúp bạn đọc tìm hiểu, tra cứu đối chiếu tên xã, phường hiện nay có từ bao giờ, chúng tôi bước đầu mạnh dạn làm bản phụ lục này dựa vào các thư tịch và bản đồ, chắc có thiếu sót, lầm lẫn. Rất mong được quí độc giả góp ý để lần tái bản có bản tra cứu chính xác hơn.

I. THÀNH PHỐ BIÊN HÒA:

Là đơn vị hành chính tương đương cấp huyện, thị xã thuộc tỉnh Đồng Nai bây giờ.

Năm 1808 (Gia Long thứ 7), dinh Trấn Biên đổi thành trấn Biên Hòa. Địa danh Biên Hòa xuất hiện chính thức từ đây. Tỉnh lị tỉnh Biên Hòa của chính quyền cũ đặt ở xã Bình Trước, quận Châu Thành suốt từ khi lập tỉnh đến ngày 30 - 4 - 1975.

Năm 1948, Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ tách quận Châu Thành tỉnh Biên Hòa làm hai đơn vị: thị xã Biên Hòa và huyện Vĩnh Cửu nhằm phục vụ công cuộc kháng chiến.

Năm 1963, chính quyền Sài Gòn đặt huyện Đức Tu trên cơ sở quận Châu Thành (tỉnh Biên Hòa), nay là thành phố Biên Hòa.

Năm 1965, Trung ương Cục miền Nam đặt thị xã Biên Hòa trong đơn vị U.1, tháng 5 - 1971 thuộc phân khu Thủ Biên.

Tháng 1 - 1973, thị xã Biên Hòa đổi là thành phố Biên Hòa (trong khi chính quyền Sài Gòn không có cấp thị xã, thành phố).

Ngày 10 tháng 5 năm 1993, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 219/Ttg công nhận thành phố Biên Hòa là đô thị loại II.

1. Xã HIỆP HÒA:

Do ba làng Nhất Hòa, Nhị Hòa, Tam Hòa hợp nhất năm 1928 (sách Cù lao Phố, lịch sử và văn hóa, nxb ĐN, 1997). Ba làng này do 12 thôn cũ sáp nhập năm 1879; các thôn này được sách Gia Định Thành thông chí (1820) của Trịnh Hoài Đức ghi chép.

2. Xã HÓA AN:

Được sách Địa chí tỉnh Biên Hòa 1901 ghi, thuộc tổng Chánh Mĩ Thượng. Bản đồ Boilloux (1882) có vẽ hai thôn Tân An, Tân Hóa ở vị trí xã Hóa An hiện nay, chứng tỏ xã Hóa An do hai thôn này hợp lại.

3. Xã TÂN HẠNH:

Sách Gia Định Thành thông chí (1820) đã ghi tên thôn Tân Hạnh Đông. Địa bạ Minh Mạng (1836) còn ghi thêm các thôn Tân Hạnh và Tân Hạnh Trung.

4. Phường AN BÌNH:

Tên mới đặt năm 1976. Do hai thôn cũ: Bình Đa và An Hảo hợp nhất từ lâu. Tên thôn Bình Đa có ghi trong sách Gia Định Thành thông chí. Thuộc tổng Phước Vinh Thượng cũ.

5. Phường BÌNH ĐA:

Mới đặt năm 1988 do tách từ phường Tam Hòa ra. Xưa kia là vùng đất bưng Ông Văn thuộc thôn Vĩnh Cửu, xã Tam Hiệp. Xem thêm phường Tam Hiệp ở dưới.

6. Phường BỬU HÒA:

Tên đặt khoảng năm 1926 (sách Phường Bửu Hòa đấu tranh và xây dựng, 1992). Do các thôn Tân Bản, Bình Tiên (sau đổi ra Bình Long) có ghi trong sách Gia Định Thành thông chí; thêm xã Mĩ Khánh ghi trong Địa bạ 1836, hợp nhất lại. Thuộc tổng Chánh Mĩ Thượng cũ.

7. Phường BỬU LONG:

Mới đặt năm 1994, trước đó là xã Tân Bửu, năm 1976 là xã Tân Thành. Sách Địa chí tỉnh Biên Hòa năm 1901 đã ghi tên làng Bửu Long. Do hai thôn cũ Bình Điện, Bạch Khôi ghi trong sách Gia Định Thành thông chí hợp lại.

8. Phường HỐ NAI 1:

Trước năm 1954 là lâm phận thuộc xã Bình Trước, quận Châu Thành, tỉnh Biên Hòa. Năm 1955, chính quyền Sài Gòn cho đồng bào miền Bắc di cư về định cư tại vùng này, lập xã Hố Nai năm 1957. Đầu năm 1976, tách từ xã Hố Nai thành 4 xã: Hố Nai 1, Hố Nai 2, Hố Nai 3, Hố Nai 4 thuộc huyện Thống Nhất. Năm 1978, xã Hố Nai 1 đổi thành phường Hố Nai 1 nhập vào thành phố Biên Hòa.

9. Phường HÒA BÌNH:

Đặt năm 1976. Xưa kia thuộc địa phận thôn Tân Lân, tổng Phước Vĩnh có ghi trong sách Gia Định Thành thông chí. Trước ngày giải phóng là một trong năm khu nội ô tỉnh lị Biên Hòa thuộc xã Bình Trước.

10. Phường LONG BÌNH:

Mới đặt năm 1994, do tách từ một phần phường Tam Hòa ra. Trước năm 1975 thuộc phạm vi tổng kho Long Bình. Trước năm 1963 là rừng và đồn điền cao su Suối Chùa.

11. Phường LONG BÌNH TÂN:

Năm 1976 là xã Long Bình Tân, năm 1994 đổi là phường Long Bình Tân. Địa bạ 1836 ghi tên thôn Bình Dương, sau này thêm thôn Long Điềm có trong bản đồ Boilloux 1882. Sách Địa chí tỉnh Biên Hòa năm 1901 ghi tên làng Long Bình, tổng Long Vĩnh Thượng, chắc hai thôn này sáp nhập trước đó ít lâu. Năm 1958 nhập với xã Tân Bình thành xã Long Bình Tân.

12. Phường QUANG VINH:

Được đặt năm 1976. Xưa kia thuộc địa phận thành Biên Hòa, một phần thôn Tân Lân ghi trong sách Gia Định Thành thông chí, một phần thôn Lân Thành sau đổi ra làng Tân Thành. Trước năm 1975, là một trong năm khu nội ô tỉnh lị Biên Hòa, thuộc xã Bình Trước.

13. Phường QUYẾT THẮNG:

Được đặt năm 1976. Xưa kia là thôn Phước Lư ghi trong sách Gia Định Thành thông chí, nơi đặt dinh Trấn Biên (đồn lính bảo vệ) từ thời mới lập huyện Phước Long (1698). Trước năm 1975, là một trong năm khu nội ô xã Bình Trước.

14. Phường TAM HIỆP:

Đặt năm 1976. Là một phần của xã Tam Hiệp do sáp nhập ba làng Bình An (Bình Đa và An Hảo), Vĩnh Cửu, Tân Mai khoảng năm 1926 - 1928. Phường nằm ở địa phận thôn Vĩnh Cửu, tên cũ là thôn Vĩnh An, tổng Phước Vinh trong sách Gia Định Thành thông chí. Từ năm 1963, đặt quận lị quận Đức Tu.

15. Phường TAM HÒA:

Được đặt năm 1976. Là một phần thôn Vĩnh Cửu cũ; Bản đồ Boilloux 1882 ghi trảng Bà Hoao (Bà Bao).

16. Phường TÂN BIÊN:

Mới đặt năm 1984 do chia phường Hố Nai 2 làm đôi, nguyên là xã Hố Nai 2, huyện Thống Nhất lập năm 1976 (do tách xã Hố Nai làm bốn xã), nhập về thành phố Biên Hòa năm 1978 và đổi thành phường Hố Nai 2. Tên phường Hố Nai 2 mất từ năm 1984. Xem phường Hố Nai 1 ở trên.

17. Phường TÂN HIỆP:

Mới đặt năm 1994 do cắt đất ba phường Tam Hòa, Tam Hiệp, Tân Tiến lập thành.

18. Phường TÂN HÒA:

Mới đặt năm 1984 do chia phường Hố Nai 2 làm đôi (Tên Hố Nai 2 mất từ đây).

19. Phường TÂN MAI:

Đặt năm 1976 trên cơ sở xã Bùi Tiếng lập năm 1957. Xã Bùi Tiếng là một phần thôn Tân Mai xưa thuộc tổng Phước Vĩnh ghi trong sách Gia Định Thành thông chí.

20. Phường TÂN PHONG:

Thôn Tân Phong ghi trong sách Gia Định Thành thông chí, thuộc tổng Phước Vĩnh. Năm 1984, đổi xã Tân Phong thành phường Tân Phong.

21. Phường TÂN TIẾN:

Đặt năm 1976. Trước ngày giải phóng (30 - 4 - 1975) thuộc xã Bình Trước. Sách Gia Định Thành thông chí có tên thôn Bình Trước.

22. Phường TÂN VẠN:

Làng Tân Vạn được ghi trên bản đồ Boilloux 1882. Do hai thôn Tân Vạn và Đắc Phước hợp nhất trước đó. Đắc Phước do hai thôn Tân Phước, Tân Phước Đông hợp lại, có ghi trong Địa bạ 1836. Đổi thành phường Tân Vạn năm 1985.

23. Phường THANH BÌNH:

Đặt năm 1976. Là một phần thôn Bàn Lân cũ, sau Bàn Lân đổi thành Tân Lân, có ghi trong sách Gia Định Thành thông chí. Trước năm 1975, là một trong năm khu nội ô tỉnh lị Biên Hòa, thuộc xã Bình Trước.

24. Phường THỐNG NHẤT:

Đặt năm 1976. Xưa là một phần thôn Tân Mai có ghi trong sách Gia Định Thành thông chí và thôn Vinh Thạnh thuộc tổng Phước Vinh Thượng, có ghi trong Địa bạ 1836.

25. Phường TRẢNG DÀI:

Mới tách từ phường Tân Phong ra năm 1994. Xưa kia đây là lâm phần xã Tân Phong với địa danh hóc Bà Thức và địa danh Sân Lễ (có hồi kháng chiến chống thực dân Pháp).

26. Phường TRUNG DŨNG:

Đặt năm 1976. Xưa kia là một trong 5 khu nội ô tỉnh lị Biên Hòa thuộc xã Bình Trước (theo phân định của chính quyền cũ). Từ xưa thuộc thôn Bình Trước có ghi trong sách Gia Định Thành thông chí.

II. HUYỆN VĨNH CỬU:

Đặt năm 1948 do Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ chia đôi quận Châu Thành: xã Bình Trước trở thành thị xã Biên Hòa, các xã còn lại (của quận Châu Thành) hợp thành huyện Vĩnh Cửu. Huyện lấy tên thôn Vĩnh Cửu xã Tam Hiệp vì thôn này hồi đó có nhiều thành tích kháng chiến.

Năm 1963, chính quyền Sài Gòn cắt một phần quận Châu Thành, lập quận Công Thanh. Phần lớn huyện Vĩnh Cửu thuộc quận Công Thanh.

Năm 1985, huyện Vĩnh Cửu đổi thành thị xã Vĩnh An, đến năm 1994 lại lấy tên huyện Vĩnh Cửu như cũ.

1. Thị trấn VĨNH AN:

Năm 1976, đặt xã Cây Gáo. Năm 1985, khi lập thị xã Vĩnh An, xã này đổi thành phường Cây Gáo. Năm 1987, phường Cây Gáo tách thành phường Cây Gáo và xã Vĩnh Tân. Năm 1994, đổi phường Cây Gáo thành thị trấn Vĩnh An.

Từ năm 1957 chỉ là ấp Cây Gáo thuộc xã Bến Nôm quận Xuân Lộc, từ năm 1967 đổi thuộc quận Kiệm Tân (của chế độ cũ) hay thuộc huyện Vĩnh Cửu (do chính quyền cách mạng đặt).

2. Xã BÌNH HÒA:

Do chính quyền Sài Gòn đặt năm 1957. Địa chí tỉnh Biên Hòa 1901 ghi tên làng Thạnh Phước, tổng Phước Vĩnh Trung. Có các thôn Bình Hậu, Bình Mĩ ghi trong Địa bạ 1836.

3. Xã BÌNH LỢI:

Do hai xã Bình Long, Lợi Hòa sáp nhập năm 1987. Địa bạ 1836 ghi thôn Bình Ninh (sau đổi thành Bình Long), thôn Lợi Hòa (sau đổi thành Bình Lợi) thuộc tổng Phước Vinh Hạ, sau năm 1924 thuộc quận Tân Uyên.

Năm 1957, hai xã này thuộc tổng An Phước Hạ quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa, năm 1959 đưa về tỉnh Phước Thành, năm 1961 nhập trở về quận Châu Thành tỉnh Biên Hòa, năm 1963 thuộc quận Công Thanh.

4. Xã PHÚ LÝ:

Đặt năm 1976, xã Phú Lý thuộc huyện Tân Phú. Năm 1987, xã Phú Lý chuyển nhập thị xã Vĩnh An. Địa bạ năm 1836 ghi xã Vĩnh An thuộc tổng Bình Tuy, huyện Phước Bình. Địa chí tỉnh Biên Hòa 1901 ghi làng Vinh An (Chéral) thuộc tổng Bình Tuy, sau này gọi thành Vĩnh An. Đây là làng người dân tộc Chơro, người Pháp đọc trại thành Chê-ran. Sau năm 1924, tổng Bình Tuy cắt về tỉnh Đồng Nai Thượng. Năm 1957 chính quyền Sài Gòn đưa tổng Bình Tuy về tỉnh Long Khánh mới lập, làng Vĩnh An thuộc xã Bình Hòa quận Xuân Lộc, năm 1967 đổi thuộc quận Kiệm Tân.

Khi nhà máy thuỷ điện Trị An được xây dựng, xã Phú Lí dời đến vị trí hiện nay và sáp nhập về thị xã Vĩnh An.

5. Xã TÂN AN:

Do hai xã Đại An và Tân Định sáp nhập năm 1987. Thôn Tân Định có ghi trong sách Gia Định Thành thông chí. Làng Đại An có ghi trong Địa chí tỉnh Biên Hòa năm 1901 trước đó là hai thôn Bình An Chánh ghi trong Địa bạ 1836 và Trị An tổng Phước Vinh Hạ ghi trong bản đồ Boilloux 1882. Trước năm 1939 thuộc quận Tân Uyên. Năm 1957, thuộc tổng An Phước Hạ, quận Tân Uyên. Năm 1959, cắt về tỉnh Phước Thành. Năm 1961, lại nhập về tỉnh Biên Hòa như cũ. Năm 1963, thuộc quận Công Thanh.

6. Xã TÂN BÌNH:

Do ba xã Tân Triều, Bình Ý, Bình Phước sáp nhập năm 1987.

Các thôn Tân Triều Đông và Tân Triều Tây, Bình Ý, Bình Thảo có ghi trong sách Gia Định Thành thông chí. Các thôn (sau thành làng, xã) Bình Ý, Tân Triều thuộc tổng Phước Vĩnh Trung, quận Châu Thành. Năm 1963 Bình Ý, Tân Triều thuộc quận Công Thanh.

Thôn Bình Thảo thuộc tổng Phước Vĩnh Hạ (sau năm 1924 thuộc quận Tân Uyên) đổi thành xã Bình Phước. Năm 1957, xã Bình Phước thuộc tổng An Phước Hạ quận Tân Uyên. Năm 1959, cắt về tỉnh Phước Thành. Năm 1961, nhập về tỉnh Biên Hòa như cũ.

7. Xã THẠNH PHÚ:

Do hai xã Bình Thạnh và Tân Phú sáp nhập năm 1987. Thôn Bình Thạnh có ghi trong sách Gia Định Thành thông chí. Thôn Tân Phú có ghi trong sách Địa chí tỉnh Biên Hòa 1901, Bản đồ Boilloux 1882 ghi tên làng Phú Trạch tổng Phước Vinh Hạ. Làng Phú Trạch do các thôn Tân Huệ Đông, Tân Huệ Tây ghi trong sách Gia Định Thành thông chí và xóm Hóc Kè (lập sau đó) hợp thành. Trước năm 1957, thuộc tổng Phước Vĩnh Hạ, quận Tân Uyên.

Từ năm 1957, thuộc tổng An Phú Hạ quận Tân Uyên. Năm 1959 cắt về tỉnh Phước Thành. Năm 1961, lại đưa về tỉnh Biên Hòa như cũ. Là nơi đặt quận lị quận Công Thanh.

8. Xã THIỆN TÂN:

Sách Thời sự cẩm nang 1939 có ghi. Thuộc tổng Phước Vinh Hạ, quận Tân Uyên. Do các làng Thiện Quan, Xuân Hòa (Bình Thanh sau đổi ra Xuân Lộc) hợp lại. Thôn Xuân Hòa ghi trong sách Gia Định Thành thông chí. Làng Thiện Quan do ba thôn xưa có ghi trong sách Gia Định Thành thông chí là Tân Quan Chánh, Tân Quan Trung, Tân Quan Đông.

Từ thời thuộc Pháp đến năm 1956 thuộc tổng Phước Vĩnh Hạ, quận Tân Uyên. Năm 1957, thuộc tổng An Phước Hạ (Tân Uyên). Năm 1959, cắt về tỉnh Phước Thành. Năm 1961, lại nhập về tỉnh Biên Hòa như cũ.

9. Xã TRỊ AN:

Bản đồ Boilloux 1882 có ghi tên thôn Trị An thuộc tổng Phước Vinh Hạ, từ xóm Bến Vịnh mà ra. Trước năm 1901, Trị An sáp nhập vào làng Đại An.

Năm 1957, chính quyền Sài Gòn lập xã Trị An thuộc tổng An Phước Hạ, quận Tân Uyên. Năm 1959, cắt về tỉnh Phước Thành. Năm 1961, lại đưa về tỉnh Biên Hòa như cũ. Năm 1985, khi huyện Vĩnh Cửu đổi thành thị xã Vĩnh An thì xã Trị An đổi thành phường Trị An. Năm 1994, phường Trị An lại đổi thành xã Trị An.

10. Xã VĨNH TÂN:

Do phường Cây Gáo tách ra năm 1987. Trước kia thuộc xã Bến Nôm (quận Xuân Lộc) lập năm 1957, năm 1967 đổi thuộc quận Kiệm Tân (tỉnh Long Khánh).

III. HUYỆN LONG THÀNH:

Năm 1698 Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh chúa Nguyễn vào kinh lược phương Nam, đặt xứ Đồng Nai thành huyện Phước Long (có dinh Trấn Biên) gồm bốn tổng: Phước Chánh, Bình An, Long Thành và Phước An. Năm 1808, huyện Phước Long nâng thành phủ Phước Long thì các tổng trên nâng thành huyện. Như vậy huyện Long Thành chính thức có năm 1808. Năm 1837, tỉnh Biên Hòa đặt thêm phủ Phước Tuy thì huyện Long Thành thuộc phủ này. Năm 1865, ba tỉnh miền Đông Nam kì được Soái phủ Nam kì chia làm 13 sở tham biện (inspections: sở Thanh tra), tỉnh Biên Hòa có 5 sở tham biện: Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Long Thành, Bảo Chánh. Năm 1866, tỉnh Biên Hòa được chia làm 6 địa hạt (arrondissements): Biên Hòa, Bà Rịa, Long Thành, Thủ Đức, Bình An, Bảo Chánh. Năm 1867, tỉnh Biên Hòa có 5 sở tham biện: Biên Hòa, Bà Rịa, Long Thành, Bình An, Nghĩa An (Như vậy Long Thành được coi như đơn vị lớn hơn cấp huyện, gần ngang cấp tỉnh ít nhất trong ba năm). Sau đó huyện Long Thành đổi thành quận, thuộc tỉnh Biên Hòa.

Trong thời kháng chiến 9 năm, khoảng năm 1951, ta cắt huyện Long Thành về tỉnh Bà Rịa Chợ Lớn, sau năm 1954 lại đưa về tỉnh Biên Hòa như cũ. Từ tháng 10 - 1967 đến tháng 4 - 1971 ta lập phân khu 4, huyện Long Thành là một huyện thuộc phân khu này. Đến tháng 5 - 1971, huyện Long Thành chuyển thuộc phân khu Bà Rịa Long Khánh cho đến tháng 10 - 1972. Sau đó Long Thành lại về tỉnh Biên Hòa như cũ.

1. Thị trấn LONG THÀNH:

Sách Gia Định Thành thông chí có ghi thôn Phước Lộc thuộc tổng Thành Tuy. Sau này thôn đổi thành làng rồi thành xã Phước Lộc. Năm 1976, xã Phước Lộc trở thành thị trấn Long Thành.

2. Xã AN HÒA:

Là vùng Bến Gỗ từ thời xa xưa. Sách Gia Định Thành thông chí có ghi tên thôn An Hòa thuộc tổng Long Vĩnh. Sau này thôn trở thành xã An Hòa. Địa bạ 1836 ghi thêm hộ Thiết Tượng. Năm 1957, xã An Hòa Hưng được chính quyền Sài Gòn lập. Năm 1976, xã An Hòa và Long Hưng lập lại như cũ. Năm 1987, hai xã An Hòa và Long Hưng sáp nhập thành xã Hòa Hưng, đến năm 1994 lại tách ra như cũ.

3. Xã AN PHƯỚC:

Do hai xã An Lợi, Phước Nguyên sáp nhập năm 1983. Làng An Lợi có tên trên Bản đồ Boilloux 1882. Làng Phước Nguyên ghi trong sách Địa chí tỉnh Biên Hòa năm 1901, trong Lịch An Nam thông dụng 1897 ghi là thôn Thanh Nguyên, Bản đồ Boilloux 1882 ghi là thôn Tân Nguyên.

4. Xã BÀU CẠN:

Lập năm 1976. Xưa kia phỏng thuộc tổng An Viễn của người Thượng trên Bản đồ Boilloux 1882 ( nguyên văn: canton Moi de An Vien).

5. Xã BÌNH AN:

Xã mới lập, do tách từ xã Bình Sơn năm 1994.

6. Xã BÌNH SƠN:

Lập năm 1976. Trước ngày giải phóng 30 - 4 - 1975 chỉ là một ấp thuộc xã Lộc An. Khoảng năm 1923, là một đồn điền cao su của công ti Đất đỏ (Société des plantations des Terres rouges SPTR). Trên Bản đồ Boilloux 1882 phỏng thuộc tổng Bình Lâm Thượng của người Thượng.

7. Xã CẨM ĐƯỜNG:

Lập năm 1976. Địa bạ năm 1836 có ghi tên thôn Cam Đường thuộc tổng An Viễn, huyện Long Khánh. Trên Bản đồ Boilloux 1882, xã thuộc tổng Bình Lâm Thượng của người Thượng.

8. Xã LỘC AN:

Do chính quyền Sài Gòn đặt năm 1957. Trong Bản đồ Boilloux 1882, chưa có thôn xóm nào, nhưng Lộc An phỏng thuộc tổng Bình Lâm Thượng.

9. Xã LONG AN:

Có tên trong sách Gia Định Thành thông chí là làng Long An; đổi tên là Long Thuận trong Địa bạ năm 1838. Trong khoảng 1924 - 1939, đổi lại là làng Long An.

10. Xã LONG ĐỨC:

Xã SIPH đặt năm 1976, năm 1980 đổi thành xã Long Đức. Khoảng năm 1912 là sở cao su Bertin de La Souchère, dân gọi là sở Tân Lộc. Một phần thuộc thôn Tân Nguyên, phần lớn phỏng thuộc tổng Bình Lâm của người Thượng, có trong Bản đồ Boilloux 1882.

11. Xã LONG HƯNG:

Địa bạ năm 1836 có tên thôn An Xuân, sau này mở thêm hai thôn Tân Xuân và Phước Hội đều có trên Bản đồ Boilloux 1882. Tên Long Hưng lần đầu tiên ghi trong Địa chí tỉnh Biên Hòa 1901. Năm 1957, chính quyền Sài Gòn đặt xã An Hòa Hưng thuộc tổng Long Vĩnh Thượng quận Châu Thành, sau đổi thành quận Đức Tu năm 1963. Năm 1976, ta đặt lại xã Long Hưng, năm 1987 xã Long Hưng sáp nhập với An Hòa thành xã mới Hòa Hưng. Năm 1994, tách xã Hòa Hưng thành hai xã Long Hưng và An Hòa như cũ.

12. Xã LONG PHƯỚC:

Địa bạ 1836 có ghi thôn Phú Lạc, tổng Thành Tuy Thượng. Bản đồ Boilloux 1882 có tên ba thôn Phú Lạc, Tuy Long, Tập Phước. Trong khoảng 1924 - 1939, ba thôn này hợp thành làng Long Phước.

13. Xã PHƯỚC BÌNH:

Mới tách ra từ xã Phước Thái năm 1994. Xem thêm xã Phước Thái ở dưới.

14. Xã PHƯỚC TÂN:

Địa chí tỉnh Biên Hòa năm 1901 ghi tên làng Phước Tân. Bản đồ Boilloux 1882 có tên hai thôn Phước Cang, Vĩnh Hòa. Sách Gia Định Thành thông chí có tên ba thôn: Phước Tân, Long Hòa, Vĩnh Thọ (Phước Tân có lúc đổi ra Phước Cang, hai thôn Long Hòa, Vĩnh Thọ sáp nhập thành Vĩnh Hòa).

15. Xã PHƯỚC THÁI:

Hai thôn Phước Tân và Khánh Lâm có trên Bản đồ Boilloux 1882. Sau đó đổi thành hai thôn Phước Thái và Tam Thiện ghi trong Lịch An Nam thông dụng 1897. Khoảng giữa năm 1924 - 1939, nhập thành xã Thái Thiện. Năm 1976, đổi thành xã Phước Thái.

16. Xã SUỐI TRẦU:

Đặt năm 1976. Xưa phỏng thuộc tổng An Viễn của người Thượng trên Bản đồ Boilloux 1882.

17. Xã TAM AN:

Địa chí tỉnh Biên Hòa 1901 có tên làng Tam An. Sách Gia Định Thành thông chí có tên thôn An Hưng, về sau thêm thôn An Định có tên trên Bản đồ Boilloux 1882.

18. Xã TAM PHƯỚC:

Địa chí tỉnh Biên Hòa 1901 có tên làng Tam Phước. Sách Gia Định Thành thông chí có tên thôn Phước Mĩ. Sau này thêm ba thôn nữa là Long Khánh, Phước Hưng, An Phước.

19. Xã TÂN HIỆP:

Mới đặt năm 1976. Xưa là một phần thôn Khánh Lâm, có trên Bản đồ Boilloux 1882, phần lớn phỏng thuộc địa phận tổng An Viễn của người Thượng.

IV. HUYỆN NHƠN TRẠCH:

Năm 1963, chính quyền Sài Gòn tách quận Long Thành thành hai quận Long Thành và Nhơn Trạch.

Năm 1976, Nhà nước ta nhập hai quận này thành huyện Long Thành. Năm 1994, Nhà nước ta chia huyện Long Thành ra hai huyện Nhơn Trạch và Long Thành. Xem thêm huyện Long Thành ở trên.

1. Xã ĐẠI PHƯỚC:

Do chính quyền Sài Gòn đặt năm 1957. Sách Gia Định Thành thông chí có tên thôn Phước Thạnh. Thời thuộc Pháp, là một phần xã Phước Lý.

2. Xã HIỆP PHƯỚC:

Do hai xã Phước Lai, Phước Kiểng sáp nhập năm 1983. Xưa là hai thôn Phước Lai, Phước Kiển ghi trong sách Gia Định Thành thông chí.

3. Xã LONG TÂN:

Làng Long Tân có tên khoảng sau năm 1924 do các làng Long Hiệu, Tân Tường sáp nhập lại ghi trong sách Thời sự cẩm nang 1939. Thôn Long Hiệu có trong sách Gia Định Thành thông chí. Thôn Tân Tường có tên trong Địa bạ 1836.

4. Xã LONG THỌ:

Do hai xã Phước Long, Phước Thọ sáp nhập năm 1983. Thôn Phước Thọ có trên Bản đồ Boilloux   1882, thôn Phước Long ghi trong sách Địa chí tỉnh Biên Hòa năm 1901. Trên Bản đồ Boilloux 1882 có ghi địa danh chợ Mới, ít lâu sau thành thôn Phước Long.

5. Xã PHÚ ĐÔNG:

Từ xã Phú Hữu tách ra năm 1994. Xem thêm xã Phú Hữu. Năm 1963 là xã Nhơn Thạnh do chính quyền Sài Gòn tách từ xã Đại Phước. Sau ngày giải phóng thuộc xã Phú Hữu.

6. Xã PHÚ HỘI:

Ba thôn Mĩ Hội, Phú Mĩ, Mĩ Khoan có trong Địa bạ năm 1836 (Mĩ Khoan mất địa bạ). Các làng Mĩ Hội, Phú Mĩ, Mĩ Khoan sáp nhập sau năm 1924 thành xã Phú Hội có trong sách Thời sự cẩm nang năm 1939.

7. Xã PHÚ HỮU:

Do chính quyền Sài Gòn đặt năm 1957. Sách Gia Định Thành thông chí có tên các thôn Lương Phước, Lương Phước Đông, trong Địa bạ 1836 là thôn Lương Phước Đông và thôn Hưng Thạnh, trong Bản đồ Boilloux 1882 là các thôn Phước Lương và Lương Thiện.

8. Xã PHÚ THẠNH:

Do chính quyền Sài Gòn đặt năm 1957. Địa bạ 1836 có tên thôn Vĩnh Tuy và Bình Phú (sau đổi là An Phú).

9. Xã PHƯỚC AN:

Trong Bản đồ Boilloux 1882 có tên thôn Phước An và thôn Bình Quới.

10. Xã PHƯỚC KHÁNH:

Trong Bản đồ Boilloux 1882 có tên thôn Phước Khánh.

11. Xã PHƯỚC THIỀN:

Địa bạ 1836 có tên thôn Phước Hòa Đông, sau thêm năm thôn ấp nữa hợp thành thôn Phước Thiền ở Bản đồ Boilloux 1882.

12. Xã VĨNH THANH:

Do chính quyền Sài Gòn đặt năm 1957 là xã Nhơn Thạnh. Bản đồ Boilloux 1882 ghi là thôn Phước Lí.

V. HUYỆN THỐNG NHẤT:

Do chính quyền cách mạng chính thức thành lập tháng 10 - 1973.

Địa bàn huyện Thống Nhất (hiện nay) nằm trên phạm vi hai huyện Phước Chánh (phủ Phước Long) và Long Khánh (phủ Phước Tuy) xưa. Suốt thời thuộc Pháp tới năm 1954, huyện Thống Nhất thuộc địa bàn hai quận Châu Thành và Xuân Lộc. Về phía cách mạng, từ năm 1948 đến năm 1954, huyện Thống Nhất thuộc hai huyện Vĩnh Cửu và Xuân Lộc.

Trong thời kì 1954 - 1975, huyện Thống Nhất (hiện nay) thuộc phạm vi ba quận Đức Tu (tỉnh Biên Hòa, lập năm 1963), Kiệm Tân (lập năm 1967), và Xuân Lộc (tỉnh Long Khánh) do chính quyền Sài Gòn phân vạch. Đối với cách mạng, huyện Thống Nhất thuộc các huyện Vĩnh Cửu (tỉnh Biên Hòa) và Xuân Lộc (tỉnh Bà Rịa Long Khánh).

1. Thị trấn TRẢNG BOM:

Tách ra từ xã Trảng Bom 1 năm 1994.

Địa bạ năm 1836 có tên xã Đông Thành thuộc tổng Phước Thành, huyện Phước Bình. Lịch An Nam thông dụng 1897 có tên làng Đông Thành thuộc tổng Phước Thành, sau năm 1897 sáp nhập vào xã Bình Trước, tổng Phước Vĩnh Thượng. Trước năm 1954 thuộc xã Bình Trước.

Xã Trảng Bom lập năm 1957 thuộc tổng Phước Vĩnh Thượng quận Châu Thành; năm 1963 đổi thuộc quận Đức Tu. Năm 1976, Nhà nước ta tách xã Trảng Bom làm hai xã Trảng Bom 1, Trảng Bom 2.

2. Xã AN VIỄN:

Địa bạ năm 1836 có ghi tổng An Viễn. Lịch An Nam thông dụng 1897Địa chí tỉnh Biên Hòa năm 1901 đều ghi tên tổng này. Sách Thời sự cẩm nang 1939 cho biết tổng An Viễn thuộc quận Xuân Lộc. Chưa tra cứu được xã An Viễn hiện nay thì xưa kia là xóm, thôn nào.

3. Xã BẮC SƠN:

Mới tách ra từ xã Hố Nai 4 năm 1994. Xã Hố Nai 4 tách năm 1976 từ xã Hố Nai (lập năm 1957). Trước năm 1954, là lâm phần thuộc xã Bình Trước. Từ năm 1994, xã Hố Nai 4 không còn. Xem xã Hố Nai 1 ở trên.

4. Xã BÀU HÀM:

Địa bạ năm 1836 có tên xã Bao Hàm thuộc tổng Phước Thành, huyện Phước Bình. Năm 1957, xã Bàu Hàm thuộc xã Dầu Giây, tổng Bình Lâm Thượng, quận Xuân Lộc, tỉnh Long Khánh. Năm 1976, Nhà nước ta chia thành hai xã Bàu Hàm 1 và Bàu Hàm 2 thì xã Bàu Hàm (hiện nay) thuộc xã Bàu Hàm 1, năm 1994 đổi là xã Bàu Hàm.

5. Xã BÀU HÀM 2:

Đặt năm 1976. (Xem xã Bàu Hàm ở trên).

6. Xã BÌNH MINH:

Mới tách năm 1994 từ xã Hố Nai 4. (Xem phường Hố Nai 1 ở trên).

7. Xã CÂY GÁO:

Đặt năm 1976. Trước ngày giải phóng là một phần xã Bến Nôm, quận Xuân Lộc (do chính quyền Sài Gòn lập năm 1957), năm 1967 đổi thuộc quận Kiệm Tân. Xem thị trấn Vĩnh An ở trên.

8. Xã ĐỒI 61:

Đặt năm 1976. Xưa là lâm phần tổng An Viễn trong Bản đồ Boilloux 1881.

9. Xã ĐÔNG HÒA:

Mới tách năm 1994 từ xã Trảng Bom 2 (do Nhà nước ta lập năm 1976). Từ năm 1957, thuộc xã Trảng Bom ( xem thị trấn Trảng Bom ở trên).

10. Xã GIA KIỆM:

Do chính quyền Sài Gòn lập năm 1957, thuộc tổng Bình Lâm Thượng, quận Xuân Lộc; năm 1967, đổi thuộc quận Kiệm Tân. Ghi trong các sách Lịch An Nam thông dụng 1897Địa chí tỉnh Biên Hòa 1901 là thôn Võ Dõng (Bù Dor) thuộc tổng Phước Thành. Địa danh Võ Dõng (mà Vương Hồng Sển gọi là Dỏ Dõng, xem Tự vị tiếng Việt miền Nam, nxb TP. HCM) có thể có trong Địa bạ 1836 (theo Nguyễn Đình Đầu: Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn, tập Biên Hòa).

11. Xã GIA TÂN 1:

Năm 1957, chính quyền Sài Gòn lập xã Gia Kiệm thuộc tổng Bình Lâm Thượng, quận Xuân Lộc, tỉnh Long Khánh. Năm 1967, đặt quận mới Kiệm Tân (tách từ quận Xuân Lộc), xã Gia Kiệm cũng tách thành hai xã: Gia Kiệm và Gia Tân. Năm 1976, xã Gia Tân thuộc huyện Thống Nhất. Quận lị quận Kiệm Tân đặt ở Dốc Mơ.

Năm 1982, xã Gia Tân tách thành ba xã: Gia Tân 1, Gia Tân 2, Gia Tân 3.

12. Xã GIA TÂN 2: xem xã Gia Tân 1 ở trên.

13. Xã GIA TÂN 3: xem xã Gia Tân 1 ở trên.

14. Xã GIANG ĐIỀN:

Đặt năm 1976. Xưa là lâm phần tổng An Viễn trong Bản đồ Boilloux 1881.

15. Xã HỐ NAI 3: xem phường Hố Nai 1 và xã Hố Nai 4 ở trên

16. Xã HƯNG LỘC:

Địa bạ năm 1836 ghi tên xã Đông Thành (địa bạ lập năm 1845) thuộc tổng Phước Thành (xã này về sau gồm hai xã Trảng Bom và Hưng Lộc). Xã Đông Thành phía Đông giáp lâm phận xã Bao Hàm; phía Tây giáp địa phận phường Bình Trước (tổng Phước Vinh Thượng); phía Nam giáp địa phận thôn Thiết Tượng (tổng Long Vĩnh Thượng); phía Bắc giáp thôn Tân Quan Đông (tổng Phước Vinh Hạ).

Lịch An Nam thông dụng 1897 ghi thôn Hưng Lộc thuộc tổng Bình Lâm Thượng. Sau năm 1924, tổng này thuộc quận Xuân Lộc tỉnh Biên Hòa. Từ năm 1957, thuộc tỉnh Long Khánh do chính quyền Sài Gòn lập.

17. Xã HƯNG THỊNH:

Mới tách từ xã Hưng Lộc năm 1994. Xem xã Hưng Lộc ở trên.

18. Xã LỘ 25:

Đặt năm 1976. Xưa là rừng thuộc lâm phần tổng An Viễn trong Bản đồ Boilloux 1881.

19. Xã QUANG TRUNG:

Tách từ xã Gia Kiệm năm 1982. Xem thêm xã Gia Kiệm.

20. Xã QUẢNG TIẾN:

Tách từ xã Hố Nai 4 năm 1994. Xem thêm phường Hố Nai 1 ở trên.

21. Xã SÔNG THAO:

Tách từ xã Bàu Hàm 1 năm 1994. Xem thêm xã Bàu Hàm.

22. Xã SÔNG TRẦU:

Tách từ xã Trảng Bom 1 năm 1994. Xem thêm thị trấn Trảng Bom.

23. Xã TÂY HÒA:

Tách từ xã Trảng Bom 2 năm 1994. Xem thêm thị trấn Trảng Bom.

24. Xã THANH BÌNH:

Tách từ xã Cây Gáo năm 1974. Xem thêm thị trấn Vĩnh An ở trên.

25. Xã TRUNG HÒA:

Tách từ xã Trảng Bom 2 năm 1994. Xem thêm thị trấn Trảng Bom.

VI. HUYỆN LONG KHÁNH:

Trước năm 1837 là vùng đồng bào dân tộc ít người (sử cũ gọi là man sách) thuộc hai thủ Long An và Phước Khánh và một số xóm đồng bào dân tộc tỉnh Bình Thuận ở xen kẽ. Năm 1837, đặt thành huyện Long Khánh thuộc phủ Phước Tuy, tỉnh Biên Hòa. Năm 1851, bỏ huyện Long Khánh, nhập về phủ Phước Tuy.

Sách Địa phương chí tỉnh Long Khánh năm 1968 có nhắc đến quận núi Chứa Chan lập đầu thế kỉ XX (nhằm mục đích bình định vùng này), sau quận lị dời qua Võ Đắc nên gọi là quận Võ Đắc thuộc tỉnh Bình Thuận và bãi bỏ năm 1912. Sau năm 1924, quận Xuân Lộc mới chính thức được lập, sách Thời sự cẩm nang 1939 có ghi.

Năm 1957, quận Xuân Lộc thuộc tỉnh Long Khánh do chính quyền Sài Gòn lập. Năm 1976, Nhà nước ta lập lại huyện Xuân Lộc. Năm 1991, huyện Xuân Lộc tách thành hai huyện: Long Khánh và Xuân Lộc.

1. Thị trấn XUÂN LỘC:

Lịch An Nam thông dụng 1897 ghi thôn Xuân Lộc thuộc tổng Bình Lâm Thượng. Năm 1976, Nhà nước ta đặt thị trấn Xuân Lộc trên cơ sở xã Xuân Lộc cũ. Có thể là xã Âu Ca, tổng Phước Thành, huyện Phước Bình ghi trong Địa bạ năm 1836.

2. Xã BẢO QUANG:

Năm 1976, lập xã Xuân Vinh; năm 1994, tách thành hai xã: Bảo Quang và Bảo Vinh. Xã Xuân Vinh thuộc thôn Xuân Lộc ghi trong Lịch An Nam thông dụng năm 1897 thuộc tổng Bình Lâm Thượng. Từ năm 1994, xã Xuân Vinh tách đôi thì tên xã không còn.

3. Xã BẢO VINH:

Tách từ xã Xuân Vinh năm 1994. Xem xã Bảo Quang ở trên.

4. Xã BÀU SEN:

Tách năm 1994 từ xã Xuân Lập. Xã Xuân Lập đặt năm 1976. Lịch An Nam thông dụng 1897 có tên các thôn Phú Lộc, Quới Lộc, Thuận Lộc, sau năm 1901 sáp nhập thành làng Tân Lập. Đến năm 1976, Nhà nước ta đặt tên là xã Xuân Lập.

5. Xã BÌNH LỘC:

Làng Bình Lộc, tổng Bình Lâm Thượng ghi trong Lịch An Nam thông dụng năm 1897. Năm 1976, Nhà nước ta đặt xã Xuân Bình. Năm 1994, xã Xuân Bình tách thành hai xã Bình Lộc và Xuân Thiện.

6. Xã LONG GIAO:

Tách ra từ xã Xuân Mĩ (lập năm 1976). Địa bạ 1836 có tên thôn Cam Mĩ (Gia Tao; Đạ Tao, địa danh của người dân tộc thiểu số) thuộc tổng An Viễn và xã Thới Giao thuộc tổng Long Cơ; hai tổng này đều thuộc huyện Long Khánh. Năm 1957, chính quyền Sài Gòn đổi là xã Cẩm Mĩ và xã Thới Giao quận Xuân Lộc. Năm 1976, Nhà nước ta đặt là xã Xuân Mĩ.

7. Xã NHÂN NGHĨA:

Tách ra từ xã Xuân Tân năm 1994. Xã Xuân Tân lập năm 1976.

Lịch An Nam thông dụng 1897 có thôn Phong Lộc và Tân Lộc, sau năm 1901 sáp nhập thành làng Tân Phong.

Từ năm 1963 là xã Hiếu Kỉnh, quận Xuân Lộc, tỉnh Long Khánh.

8. Xã SÔNG NHẠN:

Tách ra từ xã Xuân Quế năm 1994. Xã Xuân Quế tách từ xã Xuân Đường năm 1992.

Điạ bạ 1836 có tên thôn Cam Đường (Bàu Lùng) thuộc tổng An Viễn. Năm 1957, đổi thuộc xã Cẩm Tiêm thuộc tổng Bình Lâm Thượng. Sau đó đổi thành xã Cẩm Tâm, quận Xuân Lộc năm 1958.

9. Xã SUỐI TRE:

Tách từ xã Xuân Lập năm 1994.

Lịch An Nam thông dụng 1897 có tên làng Lang Tài (Từ Chu) với ấp Suối Tre. Năm 1957, chính quyền Sài Gòn sáp nhập vào xã Tân Lập.

10. Xã THỪA ĐỨC:

Tách từ xã Xuân Đường năm 1994. Xem thêm xã Sông Nhạn ở trên.

11. Xã XUÂN ĐƯỜNG:

Nhà nước ta đặt năm 1976. Xem xã Sông Nhạn ở trên.

12. Xã XUÂN LẬP:

Nhà nước ta đặt năm 1976. Xem xã Suối Tre ở trên.

13. Xã XUÂN MĨ:

Nhà nước ta đặt năm 1976. Xem xã Long Giao ở trên.

14. Xã XUÂN QUẾ:

Tách từ xã Xuân Đường năm 1992. Xem xã Sông Nhạn ở trên.

15. Xã XUÂN TÂN:

Nhà nước ta đặt năm 1976. Xem xã Nhân Nghĩa ở trên.

16. Xã XUÂN THANH:

Xem xã Nhân Nghĩa ở trên.

17. Xã XUÂN THẠNH:

Xem xã Bàu Sen ở trên.

18. Xã XUÂN THIỆN:

Xem xã Bình Lộc ở trên.

VII. HUYỆN XUÂN LỘC:

Trước năm 1837 là vùng đồng bào dân tộc ít người (sử cũ gọi là sách man) hai thủ Long An và Phước Khánh và các sách man tỉnh Bình Thuận ở xen. Năm 1837, đặt thành huyện Long Khánh thuộc phủ Phước Tuy; năm 1851, bỏ huyện này. Đầu thế kỉ XX, nhà cầm quyền Pháp đặt quận núi Chứa Chan ở thị trấn Gia Ray hiện nay, sau đó dời vào Võ Đắc, đổi thành quận Võ Đắc (nhằm bình định vùng đồng bào dân tộc). Năm 1912, quận Võ Đắc bãi bỏ, sau đó quận Xuân Lộc được đặt lại, quận lị đặt tại làng Xuân Lộc (năm 1976, thành thị trấn Xuân Lộc, huyện Long Khánh bây giờ). Cuối năm 1974, chính quyền Sài Gòn tách xã Gia Ray lập thành quận Bình Khánh, mở thêm hai xã Xuân An và Đồng Tâm. (Chưa triển khai thực hiện được thì đã giải phóng từ đầu tháng 4 - 1975).

1. Thị trấn GIA RAY:

Tách từ hai xã Xuân Trường (khu vực ngã ba Ông Đồn gồm các ấp 1, 2, 3 xã này) và ấp 3 xã Xuân Tâm (khu vực núi Le). Địa bạ năm 1836 ghi thôn Bảo Liệt thuộc tổng Tập Phước, huyện Long Khánh (không còn địa bạ). Địa danh làng Gia Ray xuất hiện sau năm 1901, Địa chí tỉnh Biên Hòa 1924 có tên làng này.

2. Xã BẢO BÌNH:

Tách từ xã Xuân Bảo năm 1994. Thôn Bảo Mĩ, tổng Tập Phước ghi trong Địa bạ năm 1836. Sách Thời sự cẩm nang 1939 lại ghi tên xã này. Năm 1957, chính quyền Sài Gòn nhập vào xã Cẩm Mĩ.

Nhà nước ta đặt xã Xuân Mĩ năm 1976.

3. Xã BẢO HÒA:

Tách năm 1994 từ xã Xuân Định. Lịch An Nam thông dụng 1897 có tên thôn Phong Lộc và Tân Lộc, sau năm 1901 sáp nhập thành làng Tân Phong (rồi thành xã Tân Phong). Năm 1961, lập xã Hiếu Kỉnh (có 4 ấp: Tân Phong, Phú Hòa, Bảo Định, Bảo Bình).

Năm 1976, Nhà nước ta đặt xã Xuân Định.

4. Xã LÂM SAN:

Xưa là rừng thuộc xã Thoại Hương ghi trong Địa bạ năm 1836.

Năm 1982, Nhà nước ta lập thị trấn Nông trường Sông Ray (do sáp nhập xã Tân Lập huyện Châu Thành chuyển về và nông trường Sông Ray là vùng kinh tế mới mở sau năm 1975). Năm 1992, thị trấn Nông trường Sông Ray đổi thành xã Sông Ray.

5. Xã LANG MINH:

Tách từ xã Sông Ray năm 1994.

Địa bạ năm 1836 có tên thôn La Minh (có tên Bo Ngốt, một địa danh của đồng bào dân tộc ít người).

6. Xã SÔNG RAY:

Xem xã Lâm San ở trên.

7. Xã SUỐI CAO:

Tách từ xã Xuân Trường năm 1994. Xem thị trấn Gia Ray.

8. Xã SUỐI CÁT:

Tách từ xã Xuân Hiệp năm 1994. Nhà nước ta đặt xã Xuân Hiệp năm 1976. Địa bạ năm 1836 ghi tên thôn Bảo Liệt thuộc tổng Tập Phước, huyện Long Khánh.

9. Xã XUÂN BẮC:

Nhà nước ta lập năm 1987 (từ nông trường Thọ Vực và phân trường 1 Thọ Vực thuộc lâm trường Xuân Lộc) có diện tích 6.060 ha.

10. Xã XUÂN BẢO:

Lập năm 1976. Xem xã Bảo Bình ở trên.

11. Xã XUÂN ĐỊNH:

Lập năm 1976.

Địa bạ năm 1836 có tên thôn Bảo Định thuộc tổng Tập Phước, huyện Long Khánh. Lịch An Nam thông dụng 1897 có tên hai thôn Phong Lộc, Tân Lộc; sau năm 1901 sáp nhập thành làng Tân Phong, Địa chí tỉnh Biên Hòa 1924 có tên làng này. Năm 1957, thôn Tân Phong nhập vào xã Xuân Lộc. Năm 1961 chính quyền Sài Gòn lập xã Hiếu Kỉnh.

Năm 1976, Nhà nước ta đặt xã Xuân Định.

12. Xã XUÂN ĐÔNG:

Mới lập năm 1986, là một trong hai xã kinh tế mới của huyện Xuân Lộc. Xưa thuộc lâm phần thôn Bảo Mĩ, tổng Tập Phước có ghi trong Địa bạ năm 1836.

13. Xã XUÂN HIỆP:

Lập năm 1976.

Địa bạ năm 1836 có ghi thôn Bảo Liệt thuộc tổng Tập Phước, huyện Long Khánh. Xem thêm thị trấn Gia Ray.

14. Xã XUÂN HÒA:

Lập năm 1976. Xem thêm thị trấn Gia Ray. Năm 1974, thuộc xã Đồng Tâm mới mở.

15. Xã XUÂN HƯNG:

Lập năm 1976; năm 1974, thuộc xã Đồng Tâm (Xem thêm thị trấn Gia Ray)

16. Xã XUÂN PHÚ:

Lập năm 1976. Năm 1957, thuộc xã Gia Ray, quận Xuân Lộc.

17. Xã XUÂN TÂM:

Lập năm 1976. Xem thêm thị trấn Gia Ray.

18. Xã XUÂN TÂY:

Xã mới lập năm 1986. Xem thêm xã Xuân Đông.

19. Xã XUÂN THÀNH:

Lập năm 1976. Từ năm 1957, thuộc xã Gia Ray. Sách Thời sự cẩm nang 1939 có tên làng Trà Tân, tổng Tập Phước, quận Xuân Lộc.

20. Xã XUÂN THỌ:

Lập năm 1976. Địa bạ năm 1836 có tên thôn Bảo Chánh thuộc tổng Tập Phước, huyện Long Khánh. Năm 1957, thuộc xã Gia Ray, quận Xuân Lộc tỉnh Long Khánh.

21. Xã XUÂN TRƯỜNG:

Lập năm 1976. Xem thêm thị trấn Gia Ray.

VIII. HUYỆN ĐỊNH QUÁN:

Địa bạ 1836 ghi tổng Bình Tuy, huyện Phước Bình, tỉnh Biên Hòa có 4 thôn, xã: xã Định Quát, xã Thuận Tùng, xã Vĩnh An, thôn Võng La (La Võng). Có lẽ còn thêm các thôn: Cao Cang, Dạ Canh (Nguyễn Đình Đầu: Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn, tập Biên Hòa).

Sách Lạc quan miền Thượng (của Phùng Thanh Quang, 1974, S) viết: ngày 1 - 11 - 1899, phủ Toàn quyền Đông Dương lập tỉnh Đồng Nai Thượng, tổng Bình Tuy nhập vào tỉnh này. Năm 1901, tỉnh này bị bãi bỏ, nhập về tỉnh Bình Thuận. Năm 1920, tỉnh Đồng Nai Thượng lập lại... Địa chí tỉnh Biên Hòa 1924 có tên tổng Bình Tuy gồm 7 làng: Định Quán, Cao Cang, Gia Canh, Thuận Tùng, Túc Trưng, Vĩnh An. Sau năm 1924, tổng Bình Tuy cắt về tỉnh Đồng Nai Thượng. Năm 1957, chính quyền Sài Gòn cắt phần đất phía Nam tỉnh Đồng Nai Thượng từ cầu Mạ Đạ Gui để lập quận Định Quán.

Tháng 1 - 1974, Trung ương Cục miền Nam lập tỉnh căn cứ Tân Phú gồm ba huyện: Định Quán, Tân Uyên, Phú Giáo.

Năm 1976, Nhà nước ta lập huyện Tân Phú. Năm 1991, huyện Tân Phú chia đôi thành hai huyện Định Quán và Tân Phú.

1. Thị trấn ĐỊNH QUÁN:

Địa bạ năm 1845 ghi xã Định Quát (nguyên là xứ Quán Trung sau đổi ra Định Quán) thuộc tổng Bình Tuy, huyện Phước Bình. Bản đồ Atlas của Chabert Gallois 1908 có địa danh Định Quán. Địa chí tỉnh Biên Hòa 1924 ghi làng Định Quán thuộc tổng Bình Tuy.

Năm 1957, chính quyền Sài Gòn đặt xã Định Quán. Năm 1976, Nhà nước ta đặt là xã Phú Hiệp. Năm 1983, đổi thành thị trấn Phú Hiệp. Năm 1991, khi tách huyện, thị trấn Phú Hiệp đổi thành thị trấn Định Quán.

2. Xã GIA CANH:

Địa bạ năm 1845 có thôn Võng La (nguyên là xứ La Canh Bàu Súc Võ Dân) sau gọi là Dạ Canh?. Bản đồ Atlas của Chabert Gallois năm 1908 có tên làng Gia Canh. Về sau làng này nhập vào xã Định Quán. Năm 1976, thuộc xã Phú Hiệp. Xem thêm thị trấn Định Quán ở trên.

3. Xã LA NGÀ:

Tách từ xã Phú Túc năm 1994.

Địa bạ năm 1836 có tên thôn Kiên Nhuệ phía Đông giáp lâm phận xã Thọ Vực; phía Tây giáp lâm phận thôn Võ Dõng; phía Nam giáp lâm phận thôn Phủ Đạt lại giáp lâm phận huyện Long Khánh; phía Bắc giáp lâm phận thôn Gia Cấp.

Địa chí tỉnh Biên Hòa năm 1901 có tên làng Túc Trưng thuộc tổng Bình Tuy.

Năm 1957, chính quyền Sài Gòn đặt xã Bình Hòa.

Năm 1976, Nhà nước ta đặt xã Phú Túc.

4. Xã NGỌC ĐỊNH:

Tách từ xã Phú Ngọc năm 1994.

Xã Phú Ngọc lập năm 1976. Trước ngày giải phóng thuộc xã Định Quán. Xem thêm thị trấn Định Quán.

5. Xã PHÚ CƯỜNG:

Lập năm 1976. Trước ngày giải phóng thuộc hai xã Bến Nôm và Bình Hòa. Xem thêm xã La Ngà ở trên và xã Cây Gáo (huyện Thống Nhất).

6. Xã PHÚ HÒA:

Lập năm 1976.

Địa bạ năm 1845 có tên xã Định Quát, tổng Bình Tuy. Xem thêm thị trấn Định Quán ở trên.

7. Xã PHÚ LỢI:

Tách từ xã Phú Hoa năm 1994.

Xã Phú Hoa lập năm 1976. Trước đó thuộc xã Định Quán. Xem thêm thị trấn Định Quán ở trên.

8. Xã PHÚ NGỌC:

Lập năm 1976. Trước ngày giải phóng thuộc xã Định Quán. Xem thêm thị trấn Định Quán ở trên.

9. Xã PHÚ TÂN:

Tách từ xã Phú Hoa năm 1994. Xem thêm thị trấn Định Quán ở trên.

10. Xã PHÚ TÚC:

Lập năm 1976. Xem thêm xã La Ngà ở trên.

11. Xã PHÚ VINH:

Tách từ xã Phú Hoa năm 1994.

Xã Phú Hoa lập năm 1976. Xem thêm thị trấn Định Quán ở trên.

12. Xã SUỐI NHO:

Tách từ xã Phú Túc năm 1983. Xem thêm xã La Ngà ở trên.

13. Xã THANH SƠN:

Tách từ xã Phú Ngọc năm 1994. Xem thêm thị trấn Định Quán ở trên.

14. Xã TÚC TRƯNG:

Tách từ xã Phú Túc năm 1994. Xem thêm xã La Ngà ở trên.

IX. HUYỆN TÂN PHÚ:

Xem huyện Định Quán ở trên.

Sau hiệp định Genève tháng 7 - 1954, chính quyền Sài Gòn lập ở phạm vi huyện Tân Phú ngày nay hai khu định cư Phương Thọ (gồm các ấp: Phương Lâm, Thọ Lâm, Mán 5 sao trắng), Đồng Hiệp (gồm các ấp Trà Cổ, Phước Lâm, Lộc Lâm). Ngoài ra còn có 23 xóm thôn người Thượng (đồng bào dân tộc ít người, theo lối gọi cũ) xưa thuộc quận Blao.

Cả huyện Tân Phú bây giờ thuộc hai xã Đồng Hiệp và Phương Thọ năm 1959 (theo sách Địa phương chí tỉnh Long Khánh năm 1968Bản đồ tỉnh Long Khánh năm 1971).

1. Thị trấn TÂN PHÚ:

Năm 1992, tách thị trấn Tân Phú từ xã Phú Lộc. Năm 1976 Nhà nước ta lập xã Phú Lộc. Từ năm 1959, thuộc địa phận xã Đồng Hiệp? Trước năm 1957, thuộc tỉnh Đồng Nai Thượng.

2. Xã ĐAK LUA:

Thuộc khu kinh tế mới huyện Tân Phú, mới lập năm 1988. Trước đó thuộc nông trường 600 của quân đội mở sau năm 1976. Trước ngày giải phóng là vùng rừng Cát Tiên.

3. Xã NAM CÁT TIÊN:

Mới lập năm 1988, thuộc nông trường 600 của quân đội mở sau năm 1976. Xưa là rừng Cát Tiên.

4. Xã NÚI TƯỢNG:

Mới lập năm 1988, thuộc nông trường 600 của quân đội mở sau năm 1976. Xưa là rừng Cát Tiên.

5. Xã PHÚ AN:

Mới lập năm 1988, thuộc nông trường 600 của quân đội mở sau năm 1976. Xưa là rừng Cát Tiên.

6. Xã PHÚ BÌNH:

Lập năm 1976. Trước ngày giải phóng thuộc xã Phương Thọ do chính quyền Sài Gòn lập năm 1959. Xưa kia thuộc tỉnh Đồng Nai Thượng.

7. Xã PHÚ ĐIỀN:

Lập năm 1976. Trước ngày giải phóng thuộc xã Đồng Hiệp.

8. Xã PHÚ LÂM:

Lập năm 1976. Trước ngày giải phóng thuộc xã Phương Thọ.

9. Xã PHÚ LẬP:

Lập năm 1976. Trước ngày giải phóng thuộc tổng Tà Lài.

10. Xã PHÚ LỘC:

Lập năm 1976. Xem thị trấn Tân Phú ở trên.

11. Xã PHÚ SƠN:

Tách từ xã Phú Bình năm 1994. Xem thêm xã Phú Bình ở trên.

12. Xã PHÚ THANH:

Lập năm 1976. Trước ngày giải phóng thuộc xã Đồng Hiệp.

13. Xã PHÚ THỊNH:

Tách từ xã Phú Lộc năm 1994. Xem xã Phú Lộc ở trên.

14. Xã PHÚ TRUNG:

Tách từ xã Phú Bình năm 1994. Xem xã Phú Bình ở trên.

15. Xã PHÚ XUÂN:

Tách từ xã Phú Thanh năm 1994. Xem xã Phú Thanh ở trên.

16. Xã TÀ LÀI:

Tách từ xã Phú Lập năm 1994. Xem xã Phú Lập ở trên.

Comments