A. Quá trình hình thành dân cư

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH DÂN CƯ


Dân cư là quần thể người cư trú theo bộ tộc, làng, xã, thôn, ấp, buôn sóc, địa phương hoặc một quốc gia. Dân cư tỉnh Đồng Nai là một quần thể người bao gồm nhiều dân tộc cư trú trong địa giới tỉnh Đồng Nai.

I. Đặc điểm dân cư tỉnh Đồng Nai:

Trong quá trình hình thành và phát triển dân cư đã xuất hiện các đặc điểm: hình thành trong thời gian dài, sống xen kẽ, đa dân tộc, đa tôn giáo, phát triển cả hai hướng tự nhiên và cơ học.

I.1. Hình thành và phát triển trong thời gian dài:

Các di tích, di vật mà ngành khảo cổ đã tìm được ở các địa phương trên đất Đồng Nai đã chứng minh điều này.

Các nhà khảo cổ đã tìm được các công cụ ghè đẽo ở Dầu Giây, Dốc Mơ, Hàng Gòn, An Lộc, đồi 275, là những di vật xưa nhất phát hiện được trên lãnh thổ Đồng Nai. Đó là những công cụ được người xưa ghè đẽo sơ sài để làm công cụ sản xuất tự vệ chống lại thú dữ, tạo ra vào sơ kì đá cũ cách đây khoảng vài trăm ngàn năm.

Các di chỉ khảo cổ với diện tích rộng lớn hơn ở rải rác khắp các địa bàn trong tỉnh: Phước Tân, Bến Đò, Bình Xuân, Đồi Mít, Đồi Xoài, Trảng Bom, Võ Dõng, Bến Nôm, Đồi Ba, Suối Nho, Suối Quýt, Sông Ray, Bình Đa... tìm được các công cụ tuy vẫn bằng đá nhưng đã được ghè đẽo, mài, trau chuốt tinh vi hơn với nhiều loại như: rìu có lưỡi sắc, góc cạnh vuông vắn đa dạng hơn có niên đại khoảng 5000 năm.

Hàng ngàn năm trôi qua văn hóa đồ đá mới chuyển sang thời kỳ đồng thau. Các di vật tìm được ở Suối Chồn, Bưng Bạc, Hàng Gòn, Long Giao, Phú Hòa, Bình Đa, Cái Vạc gồm có: qua, rìu cạnh thẳng, lưỡi mác, lưỡi giáo và các công cụ bằng đồng khác. Đàn đá Bình Đa có niên đại tương đương với nền văn hóa Đông Sơn (Thanh Hóa), trống đồng Ngọc Lũ, di vật khảo cổ làng Vạc (Nghệ An)

Các nhà khảo cổ cũng đã tìm được các di vật: lưỡi giáo, lưỡi rìu, dao, cuốc, liềm bằng sắt ở các ngôi mộ cổ ở Long Giao, Hàng Gòn, Phú Hòa, có niên đại tương đương với thời kỳ đồ sắt sớm.

Những di vật thu thập được ở Phước Thọ, Tân Thành, Phước Thái, Hóa An... gồm: đồ sành sứ, chum vại, ly ấm, bát dĩa và các đồ bằng gốm khác chứng tỏ trên đất Đồng Nai từ thời kỳ tiền sử đến nay luôn luôn có con người sinh sống và phát triển.

Kết quả khảo cổ cho thấy trên mảnh đất Đồng Nai này đã có thời kỳ dân số phát triển gia tăng. Một số hậu duệ của họ là dân bản địa cộng với số dân di nhập từ các nơi khác đến đã hình thành dân cư tỉnh Đồng Nai ngày nay và không ngừng phát triển nhanh kể từ 300 năm trở lại đây, tức là kể từ khi có người Việt vào đây cư trú lập nghiệp làm ăn sinh sống.

I.2. Đa dân tộc:

Bán đảo Đông Dương như một bao lơn của khu vực đất liền Đông Nam Á nhìn ra Thái Bình Dương bao la. Một số nhà khảo cổ và dân tộc học cho biết từ thời xa xưa cách nay vài ngàn năm có những luồng người thiên di từ nội địa châu Á qua đây tiến ra các  hải đảo và cũng có những luồng di dân ngược chiều. Điều đó lí giải vùng đất Đồng Nai - nằm ở phía Đông Nam bán đảo Đông Dương, trên đường giao lưu của nhiều tộc người từng qua lại từ thời tiền sử - là một trong các tỉnh có nhiều dân tộc ít người khác nhau cùng chung sống từ lâu. Do nhiều biến thiên của lịch sử, hiện nay Đồng Nai có khoảng 41 dân tộc ít người.

Theo số liệu thống kê của tỉnh ngày 01 tháng 01 năm 1996, số lượng đồng bào các dân tộc ít người là 157.870 người, chiếm tỉ lệ 8,15% số nhân khẩu toàn tỉnh.

 

Người Hoa

103.540

Người Giáy

63

Người Tày

12.419

Người Hmông

53

Người Nùng

12.279

Người Bana

43

Người Chơro

11.805

Người Tà Ôi

43

Người Dao

3.230

Người Pà Thẻn

28

Người Mường

2.673

Người Mnông

22

Người Khmer

2.063

Người Kháng

16

Người Chăm

1.854

Người Xinh Mun

12

Người Mạ

1.848

Người Bru

8

Người Giarai

1.252

Người Lào

7

Người Xtiêng

1.185

Người Hrê

5

Người Kơho

646

Người Xơđăng

4

Người Êđê

491

Người Hà Nhì

4

Người Thái

466

Người La Chí

3

Người Sán Dìu

392

Người Cơ Lao

3

Người nước ngoài

392

Người Cơtu

3

Người Thổ

377

Người Rơmăm

3

Các dân tộc khác

299

Người Khơmú

2

Người Sán Chay

297

Người Giẻ Triêng

1

Người Raglay

94

Người Bố Y

1

Người Lô Lô

70

Người Vân Kiều

1

Các dân tộc bản địa: Chơro,  Mạ, Xtiêng, Kơho... là chủ nhân vùng đất Đông Nam Bộ từ rất lâu đời. Người Xtiêng ở phía Tây Bắc Đồng Nai, nhưng địa bàn cư trú tập trung nhất ở tỉnh Bình Phước (thuộc Tây Bắc tỉnh Biên Hòa xưa); một số mới về ở huyện Xuân Lộc từ những năm 1970. Người Mạ và Kơho ở từ phía Bắc sông La Ngà trở lên Lâm Đồng. Người Chơro ở rìa phía Nam dãy Trường Sơn - Tây Nguyên tiếp giáp với đồng bằng Nam Bộ...

a) Người Chơro (Jro):

Người Chơro được gọi bằng nhiều tên khác nhau. Người Khmer gọi họ là Ph'nôông. Sách báo cũ ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975 gọi họ là Ro, Tô, Xôp (Coop)... Danh mục thành phần các dân tộc Việt Nam của Tổng cục thống kê ngày 2 - 3 - 1979 thống nhất gọi là Chơro hoặc Dơro. Đồng bào tự gọi là Chrau Jro (chrau: người; Jro: tên bộ tộc).

J. Boulbet cho rằng:" Chrau Jro: nhóm con của Người ở rời rạc ở đồng bằng phía Tây Nam người Mạ (Đông Nam thì đúng hơn, NV chú). Nhiều làng Jro là láng giềng của những làng thường trực Việt Nam đầu tiên. Các nhà thám hiểm Pháp mô tả vào cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20, người Jro mà họ gọi là Chrau như là rất gần người Mạ, Maitre cho đó là người Mạ ở đồng bằng và những bức ảnh đầu tiên cho ta thấy họ rất gần với người Mạ hơn là người Jro hiện nay". (J. Boulbet: Pays des Maa, domaine des génies - Nggar Maa, nggar yang, p.134).

Người Chơro có nhiều thị tộc cư trú ở các địa bàn khác nhau:

- Chrau M'Xang ở vùng Võ Đắc, Tánh Linh (Bình Thuận).

- Chrau B'Giêng ở vùng Túc Trưng, Long Khánh.

- Chrau Chà Lun ở vùng Gia Kiệm (xưa là Võ Dõng), Bảo Chánh.

- Chrau M'Rơ ở vùng Bàu Lâm (Xuyên Mộc)...

Dân số Chơro đầu năm 1996 là 11.805 người (5.942 nữ) xếp thứ 5 trong số 40 dân tộc ít người ở Đồng Nai và đông nhất khối dân tộc bản địa. Người Chơro là một trong các cư dân bản địa mà địa bàn sinh sống là vùng đồi núi thấp của tỉnh Biên Hòa (cũ). Miền Đông Nam bộ còn có người Chơro ở các tỉnh lân cận: Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Thuận, Bình Phước,   nhưng số lượng ít hơn nhiều. (Tổng số dân tộc Chơro cả nước khoảng hơn 15.000 người). Tiếng Chơro thuộc dòng Nam Á, nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer.

Một số người Chơro lớn tuổi ở ấp Đức Thắng, xã Túc Trưng  (Định Quán) cho biết: một tổ tiên của họ là Điểu Ú sinh năm 1841, qua đời năm 1964, thọ 123 tuổi nói cho con cháu rõ xưa kia cụ và những người cùng palây có quê ở sát Ngã Bảy (thành phố Sài Gòn), bộ tộc Chơro này hồi đó chỉ có vài chục người. Họ trôi dạt dần về phía Đông Bắc, con cháu cụ bây giờ định cư ở ấp Đức Thắng. Vì sống du canh, du cư nên bộ tộc này - cũng như cả dân tộc Chơro - luôn luôn thay đổi vùng canh tác, họ đi ngược lên vùng trung lưu sông Đồng Nai, tỏa ra nhiều địa điểm khác nhau. Người Việt theo sau, nơi nào người Chơro bỏ không làm, thì người Việt trồng trọt ở mảnh đất đó, nhưng vì biết thâm canh nên họ đạt năng suất khá hơn, định cư luôn tại đó.

 Theo số liệu năm 1996, người Chơro cư trú xen kẽ ở 47/163 xã thuộc 7 huyện, thị; huyện Long Khánh hiện có số cư dân Chơro đông nhất tỉnh: 4.015 người (2.084 nữ); trong đó xã Xuân Bình có 1.015 nhân khẩu (534 nữ) với 128 hộ và xã Xuân Vinh có 1.649 người (1.238 nữ) thuộc 306 hộ...

Huyện Xuân Lộc có 3.471 người Chơro (1.715 nữ). Xã Xuân Trường đông nhất, có 1.117 người (569 nữ) với 249 hộ. Xã Xuân Phú có 794 người (399 nữ) của 132 hộ; xã Xuân Thọ có 769 nhân khẩu (373 nữ) với 145 hộ. Còn lại, người Chơro sống rải rác ở các xã Xuân Hòa, Xuân Hiệp...

Ở huyện Định Quán, người Chơro có 3.387 nhân khẩu (1.666 nữ) tập trung nhất ở 2 ấp Đức Thắng và Đồng Xoài, xã Túc Trưng: 2.900 nhân khẩu với 503 hộ.

 Ấp Lý Lịch, xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu có 66 hộ người Chơro gồm 397 nhân khẩu (189 nữ).

Huyện Long Thành chỉ có 42 hộ Chơro gồm 174 người (93 nữ) ở khá rải rác...

b) Người Mạ:

Dân tộc Mạ được gọi bằng nhiều tên khác nhau: Chau Mạ (Chau: người, Mạ: tên tộc người), Chê Mạ, Mạ Ngan (Ngan: chính dòng), Mạ Xôp (xôp: đá phiến, Mạ Xôp: người Mạ ở vùng đá phiến, người Pháp phiên âm çop), Mạ Tô (Tô: vùng thượng nguồn sông Đồng Nai), Mạ Krung (Krung: vùng đồng bằng), Mạ Xrê (Xrê: ruộng, Mạ Xrê: người Mạ làm ruộng), Mạ Hoang (Hoang: người Pháp xưa kia không kiểm soát được). Một số sách  báo cũ liệt các nhóm tộc người Jiroo (gọi đúng: Jro), Nôp, Lạt, Kơho, Chéttô... vào dân tộc Mạ, thực ra các nhóm này thuộc các tộc người Jro (Chơro), Kơho.

Nhà nước ta xác định dân tộc thiểu số dựa vào ba tiêu chuẩn cơ bản: đặc điểm ngôn ngữ, đặc điểm sinh hoạt - văn hóa và ý thức tự giác dân tộc. Theo Danh mục thành phần dân tộc Việt Nam ban hành ngày 2 - 3 - 1979, người Mạ được gọi bằng tên chính thức: dân tộc Mạ thuộc dòng Nam Á, nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer, xưa kia chỉ có tiếng nói, chưa có chữ viết riêng. Tiếng nói của người Mạ và người Kơho căn bản giống nhau, họ có thể học được chữ Kơho la tinh hóa được tạo ra chưa lâu.

Người Mạ là một trong các cư dân bản địa. Xưa kia họ đã lập được Nggar Chau Mạ (nước người Mạ), mà Bernard Bourotte gọi là công quốc Mạ (principauté Mạ), đại khái ranh giới phía Nam là sông La Ngà (Đạ R'Nga), phía Bắc là vùng Đức Trọng (Lâm Đồng), phía Đông giáp đồng bằng Bình Thuận, phía Tây giáp sông Bé (tỉnh Bình Phước hiện nay). Nước người Mạ nằm trên phần lớn cao nguyên Di Linh - Bảo Lộc, nửa phía Bắc huyện Định Quán và toàn huyện Tân Phú hiện nay.

Năm 1994, ngành khảo cổ khám phá thánh địa Cát Tiên (nằm ở hai bờ Bắc, Nam sông Đồng Nai thuộc phạm vi hai tỉnh Lâm Đồng và Đồng Nai hiện thời) khẳng định sự tồn tại của tiểu quốc này. Nó là trái độn giữa vương quốc Chămpa với xứ sở người Xtiêng, từng tồn tại khá lâu. Cũng có nhà nghiên cứu cho rằng tiểu quốc Mạ chỉ là sự liên minh của nhiều bộ lạc, thị tộc. Cuối thế kỷ 17, tiểu quốc Mạ biến mất chưa rõ vì nguyên nhân nào.

Trong phạm vi tỉnh Đồng Nai, trước Cách mạng tháng Tám 1945, người Mạ sống tập trung ở địa điểm bây giờ là thị trấn Định Quán, các làng Thuận Tùng, Cao Cang, Gia Canh và Tà Lài. Năm 1947, họ bị quân Pháp cưỡng bức tập trung về Trảng Bom (huyện Thống Nhất bây giờ) nhằm bắt thanh niên Mạ đi lính ngụy - mà người ta quen gọi là lính Thổ - để thực hiện âm mưu gây chia rẽ dân tộc, "dùng người Việt đánh người Việt".

Nhưng không bao lâu bà con đấu tranh bỏ về quê cũ không chịu sống cảnh cá chậu chim lồng.

Theo số liệu của Cục Thống kê Đồng Nai năm 1996, số người Mạ toàn tỉnh là 1848, xếp thứ 10 trong số hơn 40 dân tộc anh em. Họ tập trung đông nhất tại ấp Hiếu Nghĩa (trước đây là ấp Trung Hiếu, thị trấn Định Quán, huyện Định Quán): 182 hộ với 923 nhân khẩu. Xã Tà Lài có 433 nhân khẩu, đông thứ nhì. Số còn lại rải ra ở một số xã khác thuộc huyện Tân Phú như Phú Bình, Phú Sơn...

c) Người Xtiêng:

Xtiêng là tên gọi chính thức của một dân tộc ít người mà địa bàn cư trú chính ở các tỉnh Bình Phước, Tây Ninh (và cả ở Campuchia); ngoài ra họ còn phân bố ở Lâm Đồng, Đồng Nai. Các sách báo từ trước đến nay gọi tộc người này bằng nhiều tên khác nhau: Xađiêng, Tàmun, Dalmer (đọc: Đanme), Bà Tô, Bù Đip, Bù Lach, Ray, Bà Rá, Rong, Ah, Bù Le, Bù Lơ (người vùng cao), Bù Đek (người vùng thấp)... Song Danh mục thành phần các dân tộc Việt Nam (2 - 3 - 1979) thống nhất gọi họ là dân tộc Xtiêng (còn viết là Xtiêng).

Bản đồ An Nam đại quốc họa đồ của Taberd (1838) ghi địa điểm thành Xương tinh (âm Hán - Việt của Xtiêng) nằm ven biên giới Nam Kì - Campuchia, đó là thủ phủ của dân Xtiêng. Tiếng nói của người Xtiêng thuộc dòng Nam Á, nhóm Môn - Khmer, có nhiều từ ngữ khá gần với tiếng Chơro, Mạ, Kơho... Người Xtiêng chưa có chữ viết, chỉ từ khi thực dân Pháp thống trị đất nước ta, một số học giả Pháp mới phiên âm la tinh hóa tiếng Xtiêng, thứ chữ này không phổ biến trong đồng bào.

Trong cộng đồng các dân tộc ở Đồng Nai, người Xtiêng có 1185 nhân khẩu (603 nữ) xếp thứ 12/40 dân tộc anh em. Bà con tập trung đông nhất ở xã Tà Lài (huyện Tân Phú), 422 nhân khẩu. Xã Xuân Hưng (huyện Xuân Lộc) có 52 hộ với 275 nhân khẩu là nơi có đông người Xtiêng.  Các xã khác, huyện khác cũng có bà con sinh sống song ở phân tán hơn, xen kẽ với các dân tộc anh em.

Người Xtiêng ở Bù Chrap (xã Tà Lài) là nhóm dân bản địa suốt hai thời kì kháng chiến một lòng đi theo cách mạng; khi địch càn quét gom dân thì họ vào rừng chứ không chịu vào ấp chiến lược. Ngay từ năm 1861, khi thực dân Pháp mới đánh chiếm tỉnh Biên Hòa lần đầu, người Xtiêng đã kề vai sát cánh cùng người Việt, người Mạ, người Chơro... đứng lên chống xâm lược khiến địch nhiều phen hoang mang lo lắng, chịu nhiều tổn thất. Bà con Xtiêng ở Xuân Hưng (huyện Xuân Lộc) và một số nơi khác ở Đồng Nai vốn quê ở biên giới Bình Phước - Campuchia mới bị địch gom đưa về đầu thập niên 70, nhất là trong đợt tiến công chiến lược xuân 1972 (chiến dịch Nguyễn Huệ) của  quân giải phóng ở khu Đông Nam bộ.

d) Người Kơho:

Dân tộc Kơho (có sách báo viết là K'ho, Kaho) là một trong 54 dân tộc ở Việt Nam, phân bố thành dải dài từ Nam Khánh Hòa, Lâm Đồng, Tây Bình Thuận tới Bắc Đồng Nai, nhưng tập trung đông nhất ở  Lâm Đồng.

Cộng đồng dân tộc Kơho có nhiều nhóm:

- Xrê (Srê):tập trung đông nhất ở cao nguyên Di Linh

- Nôp (còn gọi Tơ Nôp, Tơ La, Tala): ở phía Nam cao nguyên Di Linh, dọc đường 6 đi về Phan Thiết.

- Cơ Don (còn gọi là Cơ Dòn, Queyon) ở Đông Nam Di Linh và Tây Bình Thuận.

- Chil: sống ở cao nguyên Di Linh và Lâm Viên, gốc là Mnông đã hòa nhập khá lâu với dân Kơho.

- Lạt (có sách báo viết Lach): sống tập trung ở phía Bắc Đà Lạt.

- T'ring (Tơrinh) sống thành một dải từ Tây Nam Khánh Hòa, huyện Đơn Dương (Lâm Đồng).

Sống xen kẽ và giao lưu chặt chẽ với các dân tộc Mạ và Mnông anh em nên một số nhóm Kơho khó phân biệt với hai dân tộc trên, nhất là về tiếng nói. Ngay ở Đồng Nai, khi được hỏi, một số bà con lúc nhận mình là người Kơho, lúc lại nhận là Mạ, khiến cho công tác điều tra thống kê dân số gặp khó khăn.

Cũng như các tộc người ở Nam Tây Nguyên - Đông Nam bộ, dân tộc Kơho thuộc dòng Nam Á, nhóm Môn - Khmer. Người Kơho là một trong các cư dân bản địa sinh sống lâu đời ở phía Bắc tỉnh Đồng Nai. Năm 1996, người Kơho có 646 nhân khẩu (324 nữ) xếp thứ 13 về dân số trong cộng đồng các dân tộc ít người của Đồng Nai. Bà con sống tập trung ở huyện  Tân Phú 462 người thì riêng xóm Là Ủ ấp Phú Kiên, xã Phú Bình (Tân Phú) có 76 hộ với 413 nhân khẩu (208 nữ)...Ngoài ra người Kơho còn rải rác ở các huyện Long Khánh, Định Quán...

Các dân tộc ít người tới sau vào các thời điểm khác nhau do những biến thiên của lịch sử. Người Chăm và người Khmer có thể có mặt tại đây khoảng vài thế kỷ sau Công nguyên; nhưng số người Khmer hiện ở Đồng Nai có gốc từ miền Tây Nam bộ và Tây Ninh, Bình Long dạt về từ thập niên 60 và số người Chăm tập trung ở Xuân Lộc thì mới tới năm 1972. Người Hoa có mặt hơn ba trăm năm trước, sử sách còn ghi chép rõ. Các dân tộc Tày, Nùng, Thái, Mường đến cư trú từ sau hiệp định Genève tháng 7 - 1954 và đến đông đảo từ sau ngày đất nước thống nhất...

I.3. Đa tôn giáo:

Đặc điểm nổi bật thứ nhì của dân cư tỉnh Đồng Nai có quan hệ rất lớn đến đời sống xã hội của nhân dân là đa tôn giáo.

Theo kết quả điều tra dân số tháng 1 năm 1996, toàn tỉnh có 231.690 hộ theo các đạo, chiếm 62,2% số hộ trong toàn tỉnh, trong đó:

- Đạo Phật

101.207 hộ

chiếm 27,18%

- Đạo Thiên Chúa

126.221 hộ

chiếm 33,20%

- Đạo Cao Đài

3.410 hộ

chiếm 0,91%

- Đạo Tin Lành

1.838 hộ

chiếm 0,49%

- Đạo Hòa Hảo

88 hộ

chiếm 0,03%

- Các tôn giáo khác

1.509 hộ

chiếm 0,42%

Trong đó có 254 hộ theo đạo Ixlam (đạo Hồi) chủ yếu là người Chăm.

Phần lớn nhân dân trong tỉnh thờ cúng ông bà tổ tiên (theo đa thần giáo)

I.4. Phát triển cả hai hướng tự nhiên và cơ học:

Dân cư Đồng Nai phát triển theo cả hai hướng tự nhiên và cơ học.

Từ năm 1698 đến nay có 5 đợt nhập cư lớn vào tỉnh Đồng Nai:

1. Cuộc di dân các tỉnh miền Trung (vùng Ngũ Quảng) vào khẩn hoang từ thời kỳ các chúa Nguyễn, vua Nguyễn.

2. Các đợt mộ phu cao su là dân các tỉnh miền Bắc và miền Trung của các công ty cao su trên đất Đồng Nai.

3. Đợt đồng bào các tỉnh miền Bắc di cư vào Nam sau hiệp định Genève 1954.

4. Cuộc vận động dân các thành thị đi xây dựng vùng kinh tế mới sau ngày giải phóng 30 - 4 - 1975.

5. Cuộc vận động đưa dân các tỉnh phía Bắc đi lập nghiệp xây dựng quê hương mới.

Mỗi đợt di dân lớn làm cho dân số Đồng Nai tăng đột xuất. Năm 1955 dân số của tỉnh Biên Hòa cũ là 246.750 người, năm 1956 là 335.700 người tăng thêm 88.950 người, bằng 36,04%. Từ năm 1955 đến năm 1957, chỉ 2 năm dân số tỉnh Biên Hòa tăng thêm 108.200 người, bằng 43,9% dân số 1955, đó là hệ quả của việc di cư ồ ạt sau năm 1954.

Một số số liệu từ năm 1977 đến nay chứng minh thêm cho sự phát triển dân số Đồng Nai theo cả hai hướng tự nhiên và cơ học.

Năm 1977:

*  Số trẻ em sinh ra trong năm là 33.624 em.

*  Số dân các địa phương khác chuyển đến là 34.014 người, bằng 101% số trẻ em sinh ra trong năm.

Năm 1980:

*  Số trẻ em sinh ra trong năm là 37.793 em.

*  Số dân các địa phương khác chuyển đến là 28.238 người, bằng 74,7% số trẻ em sinh ra trong năm.

Năm 1985:

*  Số trẻ em sinh ra trong năm là 44.145 em.

*  Số dân các địa phương khác chuyển đến là 41.017 người, bằng 92,9% số trẻ em sinh ra trong năm.

Năm 1990:

*  Số trẻ em sinh ra trong năm là 48.211 em.

*  Số dân các địa phương khác chuyển đến là 76.956 người, bằng 159,8% số trẻ em sinh ra trong năm.

Năm 1995:

*  Số trẻ em sinh ra trong năm là 45.291 em.

*  Số dân các địa phương khác chuyển đến là 33.357 người, bằng 73,6% số trẻ em sinh ra trong năm.

Sự tăng dân số cơ học đã có ảnh hưởng đến vấn đề cơ cấu dân cư của tỉnh Đồng Nai hiện nay.

II. Các đợt di dân nhập cư chủ yếu vào tỉnh Biên Hòa xưa và tỉnh Đồng Nai ngày nay:

II.1. Di dân thời các chúa Nguyễn:

Từ thế kỷ thứ XVI trở đi, đất nước ta có nhiều biến đổi sâu sắc. Cuộc xung đột dai dẳng giữa hai tập đoàn thống trị Lê - Mạc kéo dài gần một thế kỷ; cuộc chiến tranh đẫm máu giữa hai tập đoàn Trịnh - Nguyễn làm nhân dân cực khổ, đời sống điêu linh, lòng người tứ tán. Một số dân ở đồng bằng sông Hồng, Thanh Nghệ Tĩnh phiêu bạt, lưu dân phải đi tìm miền đất mới để tị nạn, lập nghiệp làm ăn sinh sống.

Họ đã dùng thuyền buồm vượt biển vào phương Nam, tìm nơi yên ổn lập nghiệp dựng làng, lập ấp làm ăn sinh sống.

Địa chí tỉnh Biên Hòa xuất bản năm 1924, viết: khoảng năm 1650, người Việt Nam qua mũi Đại Lãnh (Varella) dùng thuyền vào vùng Đồng Nai; họ cùng với dân bản địa khai hoang lập ấp chung sống với nhau hòa thuận. Lưu dân vào Đồng Nai thời kỳ này là những nông dân nghèo bị áp bức, bóc lột mất hết ruộng đất không sống nổi ở quê hương phải vượt biển vào đây; là những tội đồ bị lưu đày; là những người trốn tránh binh dịch, lính đào ngũ... Họ di cư tự động vào phương Nam xa xôi với hy vọng thoát ách áp bức bóc lột.

Cuốn Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (năm 1776) viết: Đất Đồng Nai từ các cửa biển Cần Giờ, Soi Lạp, cửa Đại, cửa Tiểu đều là rừng rậm hàng mấy ngàn dậm... Đất hoang đã vẫy gọi nhiều nhóm di dân người Việt vào làm ăn. Công cuộc di dân khẩn hoang tiến hành một cách hòa bình, âm thầm không kế hoạch định trước, được thực hiện một cách suôn sẻ. Năm 1658, vua Chân Lạp xâm phạm biên cảnh, chúa Nguyễn sai Nguyễn Phúc Yên phó tướng dinh Trấn Biên (vùng Phú Yên ngày nay) đem 3.000 quân đi đánh dẹp bắt được Nặc Ong Chân giải về Quảng Bình. Chúa Nguyễn tha cho về, bắt cam kết không được xâm nhiễu dân sự ngoài biên cương, từ đó dân Việt đến vùng đất phương Nam hoang hóa ngày càng đông.

Năm 1698, chúa Nguyễn Hiền vương (Nguyễn Phúc Tần) sai Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh (Kính) vào kinh lược xứ Đồng Nai lập huyện Phước Long, đặt dinh Trấn Biên, thiết lập hệ thống hành chính huyện, tổng, làng, xã, thôn ấp, trang trại phụ thuộc. Từ đây mở đầu cuộc di dân có tổ chức vào miền đất mới. Họ vào đây phá rừng khai hoang, lập nên các làng ấp ở dọc hai bên bờ sông Đồng Nai và các vùng lân cận. Chính quyền phong kiến họ Nguyễn cho phép các địa chủ, quan lại vùng Ngũ Quảng, Bình Định... mộ dân lưu vong, đem theo nô tì vào khẩn hoang. Lúc đầu công cuộc khai hoang này đã làm hòa dịu mâu thuẫn xã hội; về sau cũng chính bọn quan lại, địa chủ do các chúa Nguyễn tạo lập đã dựa vào của cải, quyền thế, không những bóc lột sức lao động của dân lưu vong, nô tì mà còn chiếm đoạt luôn thành quả khai phá của nông dân; cướp đoạt nhiều ruộng đất mà họ đem sức lao động lập nên; biến họ từ những nông dân tự do thành tá điền hoặc nông nô; do đó mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân ngày càng gay gắt. Cuốn Phủ biên tạp lục (năm 1776) viết: ... cuộc sống của dân lành trăm chiều cực khổ vì mỗi năm có hàng trăm thứ thuế, mà trưng thu thì phiền phức, gian lận; nhân dân khốn khổ vì nỗi một cổ hai tròng. Từ quan to đến quan nhỏ nhà cửa chạm trổ, tường xây bằng gạch đá, trướng vóc màn the, đồ dùng bằng đồng sứ, bàn ghế bằng gỗ đàn, gỗ trắc; yên ngựa dây cương đều nạm vàng đính bạc; quần áo là lượt, nệm bông, chiếu hoa; họ lấy sự phú quý phong lưu để khoe khoang lẫn nhau, họ coi vàng bạc như cát, thóc gạo như bùn... trăm họ đói khổ, nổi dậy bốn phương.

II.2. Nhập cư của người Hoa:

Sau khi nhà Mãn Thanh chiếm Trung Quốc, năm 1679 Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình là những cựu tướng lĩnh của nhà Minh dẫn theo 3.000 chiến binh và gia đình trốn chạy bằng thuyền xuống phương Nam. Họ được chúa Nguyễn Hiền vương cho phép tị nạn chính trị ở xứ Đàng Trong.

- Nhóm thứ nhất do Dương Ngạn Địch dẫn đầu được đến định cư ở vùng Mỹ Tho (ngày nay).

- Nhóm còn lại do Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình dẫn đầu được cư trú ở các địa phương, dọc hai bờ sông Đồng Nai thuộc tỉnh Đồng Nai ngày nay.

Nhóm người Hoa cư trú ở Đồng Nai phần lớn là người ở các địa phương thuộc tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến, đảo Hải Nam Trung Quốc nên họ phân chia thành các bang đồng hương:

- Người bang Phúc Kiến chuyên buôn bán tạp hóa, đồ sắt, thuốc bắc, mở hàng ăn, hàng giải khát; cư trú ở cù lao Phố, các làng Bình Trước, Bình Long...

- Người Hải Nam sống bằng nghề buôn bán, mở quán trọ, quán cà phê; cư trú ở cù lao Phố, các làng Bình Long, Bình Trước.v.v...

- Người bang Quảng Đông một số sống bằng nghề buôn bán; số còn lại làm các nghề thủ công như: lò gốm, lò gạch, thợ mộc, trại cưa, thợ may... Họ cư trú ở cù lao Phố, Bình Trước và các làng Bình Long, Tân Bản, Tân Vạn...

- Người bang Tiều (Triều Châu) sống bằng nghề buôn bán vặt, chế biến chè, bán hàng rong, xe đẩy; cư trú ở cù lao Phố, Bình Trước, Tân Bản...

- Người bang Hẹ (một địa phương thuộc Quảng Đông Trung Quốc) làm các nghề lò rèn, đục đá; họ cư trú ở Bàn Lân, Tân Lại, Bình Điền...

Sau biến cố năm 1776, số đông chuyển về Bến Nghé, Chợ Lớn còn một số nhỏ phân tán ra các địa phương khác của Đồng Nai. Hiện nay các hậu duệ của họ sống tập trung ở Biên Hòa và một số thị trấn để buôn bán làm nghề thủ công và đã trở thành người Việt từ lâu.

Những nơi mà người Minh Hương cư trú hiện nay còn lại các di tích như: Thất phủ Quan Vũ miếu xây dựng năm 1693 ở xã Hiệp Hòa, chùa Bà Thiên Hậu xây dựng năm 1894 ở Bửu Long, chùa Ông xây dựng năm 1895 ở xã Phước Thiền, đình Tân Lân xây dựng năm 1885 ở gần cổng thành Biên Hòa  năm 1935 chuyển về địa điểm hiện nay (phường Hòa Bình) và trùng tu lại.

Bộ phận người Hoa do Trần Thượng Xuyên dẫn đầu đã đến cư trú lập nghiệp tại cù lao Phố. Họ góp phần hình thành Nông Nại đại phố tồn tại từ năm 1693 đến năm 1776. Trong 83 năm tồn tại, Nông Nại đại phố trở thành nơi đô hội đông vui kẻ mua người bán, thuyền bè các nước ra vào tấp nập chẳng khác chi Hội An ở miền Trung, phố Hiến ở miền Bắc (xem trình bày cụ thể ở phần đô thị hóa "Sự ra đời và các hoạt động của Nông Nại đại phố")

II.3. Những cuộc di dân trong thời kỳ Pháp thuộc:

Những đợt nhập cư vào tỉnh Biên Hòa xưa (nay là tỉnh Đồng Nai) chủ yếu là các đợt mộ phu cao su ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng và các tỉnh Thanh Nghệ Tĩnh...

Tỉnh Biên Hòa có vùng cao nguyên đất đỏ bazan là loại đất lý tưởng đối với cây cao su. Sau khi xâm chiếm đất nước ta và đặt nền thống trị, thực dân Pháp tiến hành khai thác vùng này. Năm 1906, đồn điền Suzannah bắt đầu trồng cao su. Chúng lập các đồn điền cao su: Dầu Giây, An Lộc, Bình Lộc, Ông Quế,... tiếp sau đó mở thêm các đồn điền: Long Thành, Túc Trưng, Hàng Gòn, Cẩm Mỹ... Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918) để phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa lần thứ nhì, các đồn điền cao su đẩy mạnh việc mở rộng diện tích  trồng trọt. Lúc đầu khi mới thành lập, các đồn điền cao su chủ yếu huy động nhân dân các dân tộc tại chỗ khai phá đất đai trả công rẻ mạt. Đến giai đoạn sau,  sức lao động tại chỗ thiếu không đáp ứng được nhu cầu mở rộng của chúng; nên chúng bắt đầu mộ phu ở các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ vào các đồn điền cao su. Kết quả từ năm 1914 đến trước năm 1945,  riêng công ty SIPH đã mộ được 316.000 phu kể cả nam lẫn nữ từ các tỉnh Nam Định, Hà Nam, Thái Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An... đưa vào khai phá mở rộng các nơi này. Riêng năm 1923, chúng đã mộ được 11.250 người. Mỗi đợt mộ phu làm cho dân số địa phương tăng lên một cách đáng kể, hiện nay con cháu của phu contrat là một bộ phận quan trọng của dân cư các huyện Long Khánh, Long Thành, Thống Nhất, Định Quán...

Ngoài công ty SIPH, tỉnh Biên Hòa cũ còn có:  công ty cao su Đất đỏ SPTR, công ty cao su CEXO, công ty cao su Michelin. Các công ty trên sinh sau đẻ muộn nhưng cho đến trước năm 1945 cũng đã mộ được 210.000 dân phu thuộc các tỉnh đồng bằng sông Hồng và Trung Bộ, hiện nay con cháu của họ là một bộ phận dân cư của huyện Thống Nhất (Đồng Nai), Đồng Phú (tỉnh Bình Phước)...

Những người phu mộ ở các đồn điền cao su sống rất khổ cực; họ đã trót ký hợp đồng giao kèo, họ phải bán sức lao động với tiền công rẻ mạt, họ bị đối xử rất tàn tệ. Nhà thơ Tố Hữu đã viết:

Bán thân đổi mấy đồng xu.

Thịt da vùi gốc cao su mấy tầng

Sau khi hết hợp đồng rất ít phu mộ được trở về quê quán; đại bộ phận chết vùi thây tại các đồn điền cao su do đói khát, bệnh tật; một số do may mắn còn sống sót, họ đã cùng với con cái, cháu chắt của họ cấu thành bộ phận quan trọng trong cư dân của tỉnh, tham gia tích cực vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

III. Cuộc di cư do Mỹ Diệm tổ chức:

Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 buộc thực dân Pháp phải ký hiệp định Genève; lập lại hòa bình ở Đông Dương lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới tạm thời; ngăn cách khu vực tập kết quân đội hai bên. Đế quốc Mỹ lợi dụng thời cơ hất cẳng Pháp lập ra chính quyền Ngô Đình Diệm, tổ chức đưa đồng bào Thiên Chúa giáo và một số đồng bào Hoa, Nùng ở các tỉnh miền Bắc di cư vào Nam.

Đồng bào miền Bắc di cư được bố trí định cư ở tỉnh Biên Hòa chừng 135.000 người dọc các trục giao thông quan trọng như QL1, QL15, QL20...

Theo thống kê của tòa Giám mục địa phận Xuân Lộc (gồm tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) năm 1980 toàn địa phận có 283 linh mục, 1.315 tu sĩ nam, nữ làm nhiệm vụ chăm sóc phần hồn cho 515.512 tín đồ.

Trong đó:

- Giáo dân gốc di cư là: 358.478 người (69,53%)

- Giáo dân các nông trường cao su là: 38.256 người

- Giáo dân gốc miền Nam là: 30.279 người (5,87%)

- Giáo dân mới tới sau 1975 là: 24.849 người

Voòng A Sáng chỉ huy sư đoàn 5 cưỡng ép đồng bào Hoa, Nùng và các dân tộc thiểu số khác ở tỉnh Quảng Ninh và các vùng phụ cận di cư vào Nam; chúng ghép đồng bào thành người Hoa - Nùng. Đa số đồng bào được bố trí định cư ở tỉnh Biên Hòa (nay là tỉnh Đồng Nai) hình thành các ấp người Hoa, người Nùng.

Số đồng bào Hoa di cư phần lớn có nguồn gốc từ tỉnh Quảng Đông và các tỉnh Hoa Nam. Khi chuyển cư vào Việt Nam cha ông họ là những nông dân chuyên làm ruộng rẫy; vào Đồng Nai không có ruộng, họ phá rừng làm rẫy, trồng các loại bắp, đậu nành, thuốc lá... Số đồng bào Hoa di cư đến định cư ở Đồng Nai đã khai hoang làm rẫy ở nhiều huyện: Long Khánh, Định Quán, Thống Nhất...

IV. Quá trình chuyển cư từ các tỉnh miền Trung vào tỉnh Biên Hòa và Long Khánh cũ:

Từ năm 1954 đến năm 1976 có 2 đợt chuyển cư của nhân dân các tỉnh miền Trung vào các tỉnh miền Nam.

IV.1. Dân chuyển cư để tránh sự khủng bố của Mỹ Diệm:

Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, dải đất từ phía Nam tỉnh Quảng Nam và tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Bắc Phú Yên là vùng tự do. Nhân dân các địa phương này đã đóng góp nhiều sức người sức của vào cuộc kháng chiến. Một phần tỉnh Quảng Nam tuy thuộc vùng tạm chiếm nhưng nhân dân luôn hướng về kháng chiến, hướng về Đảng, hướng về Bác Hồ, không ngừng đấu tranh chống ngoại xâm. Hiệp định Genève được ký kết; các tỉnh thuộc vùng tự do Liên khu 5 thuộc quyền quản lý của chính quyền Sài Gòn. Để trả thù những người kháng chiến cũ, chính quyền Ngô Đình Diệm đã khủng bố các cán bộ, các đảng viên Cộng sản, các người thân và gia đình của cán bộ, đảng viên, những người tham gia kháng chiến và ủng hộ kháng chiến. Các gia đình thuộc các đối tượng trên đã phải rời bỏ quê hương vào các tỉnh phía Nam ở lẫn với nhân dân địa phương các huyện Xuân Lộc, Long Khánh, Long Thành, Thống Nhất, Định Quán... Sau ngày giải phóng một số hồi cư trở về quê hương cũ, một số đông do ổn định được cuộc sống nên ở lại xây dựng quê hương mới.

IV.2. Sự chuyển cư của các gia đình binh sĩ  Sài Gòn thuộc Quân khu 1 và đồng bào Trị Thiên vào Nam:

Mùa xuân năm 1972 và mùa xuân năm 1975, bị thua tơi bời trên các chiến trường Tây Nguyên và miền Trung, Mỹ ngụy đã lừa bịp cưỡng ép dân từ Trị Thiên Huế, Tây Nguyên di tản theo cuộc tháo chạy của chúng, gọi đó là "cuộc bỏ phiếu bằng đôi chân". Đây là cuộc xáo trộn dân cư lớn nhất trong lịch sử nước ta. Hàng trăm ngàn đồng bào Quảng Trị và Bắc Thừa Thiên đã chuyển cư từ năm 1972 - 1973 vào Tây Nguyên, Phước Long và một số địa phương khác; trong chiến dịch mùa xuân năm 1975 trôi dạt về tỉnh Đồng Nai. Sau ngày giải phóng một số trở về quê cũ, phần đông vẫn ở lại làm ăn sinh sống, lao động sản xuất góp phần xây dựng đất nước.

V. Cuộc di dân đi lập nghiệp xây dựng vùng kinh tế mới sau 30 - 4 - 1975:

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, để khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục sản xuất ta đã có chủ trương phân bố lại dân cư nhất là dân thành thị.

Nhiệm vụ hàng đầu lúc đó là thực hiện chủ trương dãn bớt dân số thành thị, giảm bớt số người phi sản xuất (do các nơi dồn về đô thị vì ảnh hưởng của chiến tranh), đưa họ đi xây dựng vùng kinh tế mới để tăng cường lực lượng cho sản xuất nông nghiệp. Số dân này vốn là nông dân ở vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh bị địch  gom lại phải rời bỏ quê hương ruộng vườn về thành phố và vùng chúng kiểm soát. Kết quả trong những năm đầu kể từ sau giải phóng đến năm 1978 tỉnh Đồng Nai đã đưa 213.020 người trở về quê cũ, làm số lao động nông nghiệp tăng lên, đã khai hoang phục hóa 81.718 ha; riêng 2 năm 1976 - 1977 đã khai hoang được 44.456 ha, đưa diện tích gieo trồng từ 130.792 ha năm 1975 lên 236.525 ha vào năm 1978 (trong đó diện tích gieo trồng cây hàng năm từ 83.770 ha vào năm 1975 lên 185.142 ha vào năm 1978).

Ngoài việc vận động đồng bào vốn ở nông thôn trở về quê cũ, chính quyền cách mạng còn vận động nhân dân đô thị đi khai hoang lập nghiệp xây dựng vùng kinh tế mới. Kết quả trong kế hoạch 5 năm (1976 - 1980) tỉnh Đồng Nai đã tiếp nhận 150.318 nhân khẩu của thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh bạn về Đồng Nai lập nghiệp xây dựng được 26 xã kinh tế mới. Ngoài ra từ năm 1976 đến năm 1985, tỉnh Đồng Nai còn tiếp nhận 215.016 nhân khẩu của tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và các miền của đất nước đến Đồng Nai cư trú làm ăn sinh sống; tiếp nhận số Việt kiều ở Campuchia hồi hương để tránh sự khủng bố của Khơme đỏ.

VI. Sự chuyển cư của nhân dân các tỉnh phía Bắc vào Đồng Nai sau khi nước nhà thống nhất:

Thực hiện việc chuyển một bộ phận dân cư các tỉnh phía Bắc vào các tỉnh phía Nam để bổ sung lực lượng lao động nhằm phát triển sản xuất nhất là sản xuất nông nghiệp, các đơn vị kinh tế nhà nước và một số địa phương đã quy hoạch vùng sản xuất tiếp nhận lao động và gia đình họ.

Một số nông trường quốc doanh và một số địa phương của tỉnh Đồng Nai đã tiếp nhận dân của các tỉnh phía Bắc như: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Thái Bình...

Nông trường quốc doanh 600 tiếp nhận một số dân các tỉnh phía Bắc vào cộng với số gia đình bộ đội đoàn 600 cũ nay thành dân của 4 xã Phú An, Núi Tượng, Đắc Lua, Nam Cát Tiên, tổng cộng là 20.304 người (huyện Tân Phú).

Nông trường quốc doanh cà phê Sông Ray và huyện Xuân Lộc đã tiếp nhận số dân của các tỉnh phía Bắc cùng với số cán bộ công nhân viên của nông trường và 1.278 người của xã Tân Lập năm 1985 thành 66.634 người của các xã Xuân Đông, Xuân Tây, Lâm San và Sông Ray thuộc huyện Xuân Lộc...

Ngoài số dân nhập cư theo tổ chức được chính quyền địa phương chấp thuận, khoảng mười năm trở lại đây một số đồng bào ở các tỉnh phía Bắc như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Yên Bái, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Tây, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình... do yêu cầu của cuộc sống đã tự động đi tìm đất lập nghiệp, từ năm 1990 đến năm 1994 đã có 245.180 người di cư tự do đến tỉnh Đồng Nai. Riêng năm 1975 đã có 33.357 người chuyển cư đến tỉnh Đồng Nai trong đó 15.232 người đi không có hộ khẩu. Xã Thanh Sơn là xã miền núi thuộc huyện Định Quán, trước năm 1990 vốn là một ấp của xã Phú Ngọc với số dân khoảng 5.600 người, theo số liệu điều tra dân số 01 - 01 - 1996 đã có 26.292 người trong đó số có hộ khẩu chỉ mới khoảng 12.000 người.

Comments