B. Phát triển dân số qua các thời kỳ lịch sử

PHÁT TRIỂN DÂN SỐ QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ

I. Dân số thời kỳ các chúa Nguyễn và đầu triều Nguyễn:

Năm 1776, cuốn Phủ biên tạp lục có nói về dân cư "huyện Phước Long và các thuộc dân số 5.532 người. Trừ các chức, các lính cùng đào, số còn nộp thuế là 4.820 người". Con số thống kê này chỉ để tham khảo vì việc điều tra dân số cách đây hơn 220 năm chắc có nhiều sai sót, vả lại báo cáo của chúa Nguyễn về triều đình nhà Lê trong lúc bị chúa Trịnh là kẻ kình địch thao túng chắc chắn còn xa với thực tế.

Năm 1808, vua Gia Long nhà Nguyễn đổi dinh Trấn Biên thành trấn Biên Hòa, thăng huyện Phước Long thành phủ Phước Long, thăng 4 tổng phụ thuộc lên thành 4 huyện: Phước Chánh, Bình An, Long Thành và Phước An. Toàn phủ có 4 huyện, 8 tổng, 310 làng xã; dân số khoảng 10.600 người.

Năm 1832, nhà Nguyễn đổi trấn Biên Hòa thành tỉnh Biên Hòa, dân số 20.841 người bao gồm cả người Việt, người Hoa và người Thượng.

II. Dân số thời kỳ Pháp thuộc:

Năm 1863, sau khi chiếm được 3 tỉnh miền Đông, nhà cầm quyền thực dân Pháp chia lại lãnh thổ hành chính vừa chiếm được.

Tỉnh Biên Hòa có 2 phủ 4 huyện 23 tổng, dân số là 31.381 người, kể cả người Việt, người Hoa và người Thượng.

* Năm 1873, dân số tỉnh Biên Hòa là: 59.568 người.

Trong đó:

- Người Việt

55.488 người

- Người Hoa

1.241 người

- Người Thượng

2.404 người

- Người Khơme

395 người

Năm 1901, cuốn Địa chí Biên Hòa của BSEI cho biết:

* Dân số tỉnh Biên Hòa:        102.941 người ([1][1])

Trong đó:

- Người Việt

98.549 người

- Người Hoa

1.305 người

- Người Thượng

2.581 người

- Người Khơme

443 người

* Năm 1920, dân số tỉnh Biên Hòa: 129.114 người

Năm 1924, cuốn Địa chí Biên Hòa của Robert M cho biết:

* Dân số năm 1923 tổng số là: 132.165 người

Trong đó:

- Người Việt là

115.595 người

 

- Người Hoa là

3.737 người

 

- Người Thượng là

11.400 người

 

- Người Khơme là

1.163 người

 

- Tổng Chánh Mỹ Thượng

9 làng

8.929 người

- Tổng Chánh Mỹ Trung

19 làng

14.846 người

- Tổng Chánh Mỹ Hạ

15 làng

12.298 người

- Tổng Phước Vĩnh Hạ

12 làng

10.603 người

- Tổng Phước Vĩnh Trung

8 làng

7.716 người

- Tổng Phước Vĩnh Thượng

8 làng

11.617 người

- Tổng Long Vĩnh Thượng

9 làng

10.852 người

- Tổng Thành Tuy Thượng

15 làng

16.250 người

- Tổng Thành Tuy Hạ

11 làng

18.169 người

- Tổng Bình Lâm Thượng

8 làng

3.846 người

- Tổng An Viễn

6 làng

1.482 người

- Tổng Bình Tuy

7 làng

1.715 người

- Tổng Phước Thành

10 làng

4.753 người

- Tổng Tập Phước

7 làng

1.859 người

- Tổng Thuận Lợi

6 làng

1.138 người

- Tổng Bình Cách

8 làng

1.163 người

- Tổng Tân Thuận

13 làng

329 người

* Dân số năm 1943, tổng số 201.976 người

Trong đó:

- Người Việt

179.674 người

- Người Hoa

5.412 người

- Người Thượng

15.103 người

- Người Khơme

1.567 người

III. Dân số từ năm 1945 đến năm 1975:

Theo số liệu của sách Việt Nam niên giám thống kê của chính quyền Sài Gòn xuất bản thì:

* Dân số năm 1946, tổng số 202.570 người

Trong đó: 

- Người Việt

180.002 người

- Người Hoa

5.621 người

- Người Thượng

15.221 người

- Người Khơme

1.606 người

* Dân số năm 1948, tổng số 221.000 người

Trong đó: 

- Người Việt

197.285 người

- Người Hoa

5.703 người

- Người Thượng

15.378 người

- Người Khơme

1.634 người

* Dân số năm 1955, tổng số 242.750 người

Trong đó:  ­

- Người Việt

218.569 người

- Người Hoa

10.318 người

- Người Thượng

16.007 người

- Người Khơme

1.856 người

* Dân số năm 1956, tổng số 335.700 người

Trong đó: 

- Người Việt

284.532 người

- Người Hoa  

31.225 người

- Người Thượng  

16.046 người

- Người Khơme

1.877 người

Dân số năm 1956 tăng lên đột ngột do đồng bào miền Bắc di cư được bố trí định cư ở tỉnh Biên Hòa.

Từ năm 1957, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai ngày nay chính quyền ngụy Sài Gòn lập 2 tỉnh Biên Hòa và Long Khánh.

* Dân số năm 1957 (của 2 tỉnh)

- Tỉnh Biên Hòa

283.400 người

- Tỉnh Long Khánh

71.500 người

Cộng:

354.900 người

             * Dân số năm 1963 (của 2 tỉnh)

- Tỉnh Biên Hòa

343.660 người

- Tỉnh Long Khánh

143.518 người

Cộng:

487.178 người

Theo số liệu được ghi trong các tập Địa phương chí của 2 tỉnh Biên Hòa và Long Khánh.

 

* Dân số năm 1970 (của 2 tỉnh):

- Tỉnh Biên Hòa

446.430 người

- Tỉnh Long Khánh

187.000 người

Cộng:

633.430 người

             * Dân số năm 1972 (của 2 tỉnh):

- Tỉnh Biên Hòa

460.296 người

- Tỉnh Long Khánh

190.139 người

Cộng:

650.435 người

Sự biến chuyển dân số qua các thời kỳ 

Nếu không tính số dân đã sống lâu đời trên đất Đồng Nai thì từ năm 1776 khi cuốn Phủ biên tạp lục ra đời đến năm 1808 là 32 năm dân số chỉ tăng lên 5.068 người. Từ năm 1808 đến năm 1832 khi mà nhà Nguyễn lập ra tỉnh Biên Hòa, một trong lục tỉnh Nam Kì, chỉ trong 24 năm, dân số tăng gần gấp đôi. Nếu kể từ năm 1776 đến năm 1932 tức là sau 156 năm dân số tăng lên 15.309 người, điều đó chứng tỏ miền đất mới Đồng Nai có sức thu hút mãnh liệt dân cư các nơi đến đây lập nghiệp. Chính quyền phong kiến nhà Nguyễn chỉ nắm được người Việt, người Hoa còn dân bản địa ở sâu trong rừng không nắm được bao nhiêu. Thời Pháp thuộc, từ năm 1863 khi thực dân Pháp chiếm xong 3 tỉnh miền Đông (Biên Hòa, Gia Định và Định Tường) đến năm 1943 tức là sau 80 năm dân số 170.595 người. Số liệu trên để tham khảo, số dân tăng lên phần lớn là dân phu mộ ở các tỉnh phía Bắc.

Dân số tỉnh Biên Hòa năm 1956 so với năm 1955 tăng lên đột ngột do dân miền Bắc di cư được bố trí về đây định cư.

Từ năm 1957 đến năm 1972, dân số tăng lên gấp hai lần chỉ sau 15 năm chứng tỏ mảnh đất này đã có sức thu hút dân cư các nơi di chuyển về đây làm ăn sinh sống.

IV. Dân số tỉnh Đồng Nai sau 30 - 4 - 1975:

Để phục vụ cho công tác bầu cử Quốc hội thống nhất, tháng 2 năm 1976 ta tổ chức điều tra dân số ở các tỉnh phía Nam. Kết quả điều tra dân số năm 1976 cho biết tỉnh Đồng Nai có 1.261.596 người (nam 606.202 người, nữ 655.394 người).

Năm 1978, tách huyện Duyên Hải chuyển về thành phố Hồ Chí Minh với số dân là 30.046 người.

Năm 1979, tách thị xã Vũng Tàu khỏi tỉnh Đồng Nai với số dân là 94.261 người để thành lập đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo.

Theo kết quả tổng điều tra dân số 01 - 10 - 1979, dân số tỉnh Đồng Nai là 1.291.940 người chia theo các huyện, thành phố như sau:

- Thành phố Biên Hòa

22 phường xã

dân số:

238.470 người

- Huyện Tân Phú

13 xã

dân số:

159.380 người

- Huyện Vĩnh Cửu

13 xã

dân số:

36.721 người

- Huyện Thống Nhất

14 xã

dân số:

190.958 người

- Huyện Xuân Lộc

18 xã, thị trấn

dân số:

222.391 người

- Huyện Long Thành

31 xã, thị trấn

dân số:

188.306 người

- Huyện Châu Thành

13 xã, thị trấn

dân số:

141.153 người

- Huyện Long Đất

11 xã

dân số:

83.377 người

- Huyện Xuyên Mộc

11 xã

dân số:

31.184 người

* Dân số tỉnh Đồng Nai qua các năm:

 

             - Ngày 05 - 02 - 1976:                 1.261.596 người

             - Ngày 01 - 10 - 1979:                 1.291.940 người

             - Ngày 01 - 04 - 1989:                 2.006.837 người

             - Ngày 01 - 01 - 1996:                 1.936.055 người



([1][1]) Có tài liệu ghi: 105.749 người.

Comments