C. Đặc điểm quần cư ở Đồng Nai

ĐẶC ĐIỂM QUẦN CƯ Ở ĐỒng Nai


Làng, xã, ấp, buôn, sóc là hình thức tổ chức quần cư; lúc đầu hình thành theo quan hệ huyết thống; dần dần mở rộng ra quan hệ kinh tế - xã hội. Đồng Nai là một tỉnh đa dân tộc đồng thời cũng là một vùng đất mới thu hút dân cư ở mọi miền đất nước về đây lập nghiệp nên có rất nhiều kiểu quần cư khác nhau.

I. Quần cư của các dân tộc ít người:

Mỗi dân tộc mang một sắc thái riêng biệt nên việc dựng nhà lập làng, ấp của mỗi dân tộc đều khác nhau. Các dân tộc ít người có nét chung là đại bộ phận đều ở nhà sàn nhưng mỗi dân tộc đều có cách cư trú riêng.

I.1. Kiểu xây dựng làng ấp của người bản địa:

a) Cư trú của người Chơ Ro:

Người Chơ Ro thường sống du canh du cư; nhà ở của họ gần nơi sản xuất, họ dựa vào nguồn nước chọn đất làm nhà xây dựng làng ấp. Họ ở nhà sàn dài thấp, mỗi ấp độ vài nhà. Mỗi nhà sàn dài có một số gia đình nhỏ ở chung theo quan hệ anh em ruột thịt, nơi ở từng gia đình nhỏ ngăn cách bằng vách thô sơ. Làng (sóc) tập hợp một số nhà dài, có chủ làng đứng đầu.

Sau năm 1975, họ đã làm nương rẫy chuyên canh, mỗi gia đình ở một nhà riêng, nhiều nơi đã làm nhà trệt như dân tộc Việt, có thưng vách chung quanh, có nơi đã xây dựng nhà ngói.

b) Cư trú của người Mạ (Châu Mạ):

Người Mạ du canh nhưng ít du cư nên họ xây dựng bản, làng (gọi là bòn, bù), xóm, ấp tương đối ổn định. Họ sinh hoạt theo gia đình nhỏ, người vợ quyết định mọi việc trong nhà. Họ cũng xây dựng nhà sàn dài có 5, 7 gia đình nhỏ ở chung nhưng mỗi gia đình nhỏ được ngăn cách nhau bằng một tấm vách đơn sơ. Làng có chủ làng và gia trưởng quản lý, từ khi bị chế độ Sài Gòn dồn dân lập ấp chiến lược đến nay mỗi gia đình nhỏ đã làm một ngôi nhà riêng biệt. Người Mạ đã định canh định cư; có ấp như ấp Hiệp Nghĩa, thị trấn Định Quán đã khai phá ruộng làm lúa nước.

c) Cư trú của người Xtiêng:

Người Xtiêng du canh nhưng không du cư nên chỗ ở của họ tương đối cố định. Người Xtiêng sinh hoạt theo từng gia đình nhỏ do người chồng làm chủ quyết đoán mọi việc trong gia đình, họ cũng ở nhà sàn dài như người Chơ Ro, người Mạ, nhưng rất ít xây dựng làng ấp riêng biệt mà thường ở xen kẽ với các dân tộc khác. Ở những nơi xây dựng làng ấp riêng thì có hội đồng già làng, các gia trưởng chủ yếu giải quyết các công việc thuộc nội bộ dân tộc.

I.2. Quần cư của người Chăm:

Người Chăm ở nhà sàn, xây dựng làng ấp rất tập trung. Người Chăm ở tỉnh Đồng Nai theo đạo Hồi (Ixlam) trong ấp xây dựng một thánh đường, đơn sơ nhưng có nền rộng để trải chiếu cho các tín đồ làm lễ. Số đông người Chăm sống bằng nghề nông; mỗi gia đình xây dựng một nhà riêng chung quanh có một mảnh vườn nhỏ để trồng bầu bí, rau màu. Ấp 4, xã Xuân Hưng, huyện Xuân Lộc có tới 289 hộ với 1.511 nhân khẩu Chăm.

I.3. Bản làng của người Hoa và Nùng:

Người Hoa chia làm 2 nhóm. Nhóm thứ nhất đến Đồng Nai cư trú từ thời Trần Thượng Xuyên làm nghề buôn bán, thợ thủ công nên sinh sống tập trung ở thành phố, thị trấn. Nhóm thứ hai di cư từ ngoài Bắc vào Đồng Nai từ sau năm 1954 chuyên sống bằng nghề làm nương rẫy, trồng hoa màu cây công nghiệp ngắn ngày như: bắp, đậu nành, thuốc lá... nên họ lập làng mở ấp ở nông thôn. Người Hoa và người Nùng là 2 dân tộc khác nhau, nên sinh hoạt trong gia đình, trang trí nội thất mỗi dân tộc đều khác nhau. Nhưng người Hoa và người Nùng xây dựng nhà cửa, bản làng, khóm ấp, tương đối giống nhau. Họ ở tập trung thành từng ấp hoặc từng khóm; mỗi ấp vài ba khóm, nhà ở liền nhau, quanh nhà có vách che thưng bằng ván hoặc bằng phên, nhà xây dựng 3 gian 2 chái theo kiểu chữ môn hoặc chữ khẩu; nhà lợp ngói tàu, phên, nứa (lồ ô) hoặc cây vầu chẻ đôi úp âm dương, tường gạch hoặc tường trình.

II. Quần cư ở vùng nông thôn đồng bằng của người Việt:

Người Việt chuyển cư vào tỉnh Đồng Nai nhiều đợt khác nhau, họ ở nhiều địa phương khác nhau nên khi vào Đồng Nai mang theo cả nền văn hóa và cách cư trú của nơi ở cũ vào Đồng Nai. Mặt khác khi vào Đồng Nai điều kiện canh tác và địa hình mỗi nơi một khác nên việc xây bản làng, thôn ấp cũng khác nhau.

II.1. Quần cư theo kiểu lập làng mở ấp có lũy tre giếng nước:

Trong số những người Việt nhập cư vào tỉnh Đồng Nai có một số người vốn ở các tỉnh phía Bắc di chuyển thẳng vào Đồng Nai nên khi định cư lập nghiệp làm ăn sinh sống đã xây dựng xóm làng kiểu miền Bắc có lũy tre bao bọc xung quanh với giếng nước gốc đa. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Mỹ ngụy đã hủy diệt xóm làng dồn dân vào ấp chiến lược. Sau ngày giải phóng nhân dân trở về làng cũ xây dựng lại thôn ấp, chỉ còn lại một số dấu vết như: rặng tre, giếng nước ở xã Bình Lợi, Thạnh Phú, các làng Bình Ý, Bình Thảo (xã Tân Bình huyện Vĩnh Cửu). Theo lời kể của các cụ bô lão đó là các vết tích còn lại của các làng xưa trước khi dân bị dồn vào các ấp chiến lược.

II.2. Quần cư theo kênh rạch:

Người Việt lớp đầu tiên vào định cư ở Đồng Nai, một số khai hoang, mở làng lập ấp dọc ven sông Đồng Nai. Ở những nơi có nhiều kênh rạch như Long Hưng, Tam An, Phú Hội, Long Tân, Phú Hữu, Đại Phước, Phước Khánh...họ làm nhà, lập làng mở ấp cư trú theo các kênh rạch; mặt nhà trông ra kênh rạch, sàn nhà hoặc cạnh bên nhà là ruộng vườn; gặp chỗ lầy thụt người ta làm nhà sàn trên mặt nước. Nhìn trên bản đồ không ảnh, làng, ấp trải dài theo các kênh rạch trông rất giống làng ấp của miền Tây Nam Bộ.

II.3. Quần cư tự do:

Trong số những người Việt nhập cư vào Đồng Nai thời kỳ đầu, họ là người vùng Ngũ Quảng, Bình Định, tổ tiên họ gốc ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng và Thanh Nghệ chuyển vào miền Trung sinh sống từ lâu. Khi chuyển cư vào Đồng Nai họ đem theo kiểu xây dựng xóm làng tự do của nơi ở cũ; chọn nơi cao ráo mở làng, lập ấp, xây dựng nhà ở, vườn tược bao quanh mang dáng dấp miền Trung. Lúc đầu là nhà tranh vách đất, về sau một số làm nhà cây mái tôn, một số khá giả làm nhà xây mái tôn kiểu một mái. Nay đời sống  khấm khá hơn, nhiều gia đình đã xây dựng được nhà cửa khang trang hơn.

II.4. Cư trú của đồng bào di cư dọc theo các quốc lộ, quanh các khu quân sự:

Từ năm 1954, số đồng bào di cư được bố trí định cư ở dọc các tuyến giao thông quan trọng như quốc lộ 1, quốc lộ 20, quốc lộ 51... và các khu quân sự, góp phần đẩy nhanh quá trình đô thị hóa. Đồng bào mở làng lập ấp ở dọc hai bên đường, nhà cửa xây dựng hàng ngang dãy dọc mang dáng dấp phố phường. Nhiều nhà được xây dựng kiên cố: nhà lầu, tường xây, cột đúc xi măng cốt thép, nền lát gạch bông rất khang trang. Mỗi xứ đạo xây dựng một nhà thờ. Một số sinh sống bằng nghề nông, một số làm nghề thủ công, một số chuyên nghề buôn bán; ngày nay những nơi cư trú của đồng bào đã trở thành các thị tứ thương mại như: khu Phú Lâm, khu Kiệm Tân, khu Trảng Bom, khu Hố Nai, khu Phước Thái... đã góp phần đẩy nhanh quá trình đô thị hóa của địa phương.

II.5. Bản làng kinh tế mới:

Để tạo điều kiện cho đồng bào đi kinh tế mới an tâm sản xuất, chính quyền và các đoàn thể nơi đưa đồng bào đi đã cử lực lượng tiền trạm phối hợp với chính quyền nơi tiếp nhận phân lô xây dựng nhà cửa, đào giếng nước. Lúc đầu nhà cửa còn đơn sơ nhà tranh vách đất nhưng tạo thuận lợi cho công cuộc làm ăn sinh sống lâu dài của bà con. Ngày nay nhiều làng xã kinh tế mới đã được đồng bào tu chỉnh lại, xây dựng nhà cửa khang trang như: Phú Điền, Suối Nho, Cây Gáo, Cẩm Đường, Bầu Cạn, Suối Trầu...

III. Quần cư của các làng cao su:

Phu cao su được mộ ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng và Thanh, Nghệ, Tĩnh cư trú tại các đồn điền cao su, từ đó hình thành các làng công nhân cao su trong các đồn điền cao su.

Lúc đầu các người lãnh đạo đồn điền dựng ở mỗi đồn điền một số dãy nhà tranh vách lá cho công nhân ở. Sau một thời gian xa xứ một số phu mộ nam nữ đã lấy nhau lập nên mái ấm gia đình. Để sử dụng lao động của phu mộ được lâu dài đỡ chi phí tuyển phu mới, các nhà tư bản Pháp đã xây dựng một số dãy nhà cho gia đình công nhân ở, mỗi hộ được một căn nhỏ, chật hẹp. Do đời sống cực khổ chỗ ở chật chội, công nhân cao su đã đấu tranh với chủ. Để xoa dịu, bọn chủ Pháp đã cho xây dựng một số nhà gạch mái ngói làm chỗ ở cho gia đình công nhân diện tích có rộng hơn. Khi mở rộng diện tích, các đồn điền cao su đã nhận thêm công nhân làm khoán, theo hợp đồng các gia đình công nhân mới tự xây dựng nhà ở và một số gia đình công nhân cũ có khả năng cũng tự xây dựng nhà ra ở riêng. Họ cùng nhau làm nhà tranh vách đất ở quây quần gần nhau, nhà nào cũng có vườn rẫy, diện tích chủ dành cho mỗi gia đình rất hạn chế.

Sau tháng 4 - 1975, các đồn điền cao su trong tỉnh đổi thành các nông trường cao su quốc doanh thuộc công ty cao su Đồng Nai quản lý. Các nông trường cao su do công nhân làm chủ, mọi người đều nỗ lực lao động sản xuất để làm giàu cho đất nước. Được sự quan tâm của Đảng và nhà nước, đời sống của công nhân cao su ngày được cải thiện, nhiều làng cao su xây dựng nhà cửa khang trang như Suối Tre, Túc Trưng, Hàng Gòn, Cẩm Mỹ... Làng nào cũng có điện, một số làng có nước máy, các nông trường cao su đã có trường tiểu học, trường phổ thông cơ sở, trạm y tế, hệ thống truyền thanh, câu lạc bộ...

IV. Quần cư đô thị:

Các đô thị, thành phố, thị xã, thị trấn đều được xây dựng theo kiểu phố phường nhà ngang dãy dọc, nhiều nhà cao tầng mọc lên, đường phố, xe cộ đi lại tấp nập; nhưng ngoài những nét cư trú sinh hoạt chung của các đô thị, mỗi khu dân cư cũng mang những sắc thái riêng.

Đồng Nai tuy chưa có những làng tiểu thủ công nghiệp tập trung nhưng cũng đã hình thành các khu riêng biệt để thuận tiện cho sản xuất như: khu sản xuất gạch ngói, lu hũ Tân Vạn, khu sản xuất gạch ngói Long Bình Tân, khu sản xuất gốm Bửu Hòa, khu dệt Tân Mai, khu gò hàn đồ dân dụng Tân Biên, khu chế biến đồ gỗ Tân Hòa, khu chế tác đá Bửu Long...

- Khu làm gạch ngói lu hũ ngoài nhà ở của gia đình công nhân, lò nung cần phải có địa điểm làm sân phơi, chứa nguyên liệu thành phẩm chất đốt.

- Khu sản xuất đồ gốm ngoài nhà ở của gia đình công nhân và chủ lò, lò nung, khu làm việc cho các nghệ nhân, cần phải có địa điểm rộng rãi để làm sân phơi, nơi chứa thành phẩm, nguyên liệu, chất đốt.

- Khu gò hàn đồ gia đình khi xây dựng nhà cửa cần phải rộng rãi để có nơi ở cho gia đình công nhân, địa điểm để công nhân tiến hành các thao tác gò hàn.

- Khu nghề dệt, khi xây dựng khu dân cư cần chú ý đến địa điểm để mắc sợi, nơi lập xưởng dệt nếu là hợp tác xã, nơi đặt máy dệt của gia đình nếu là tư nhân.

- Khu chế biến đồ gỗ cần lưu ý đến địa điểm chứa nguyên liệu, thành phẩm, nơi đặt máy cưa, nơi dành cho thợ thao tác, lắp ghép sản phẩm.

- Khu chế tác đá khi xây dựng khu dân cư cần quan tâm đến nhà ở của gia đình công nhân, nơi chứa đá đã khai thác, nơi làm việc cho các nghệ nhân để đục đẽo, gọt tạo thành các sản phẩm từ đá, nơi để thành phẩm.

Kể từ khi khu công nghiệp Biên Hòa được thành lập (1963), các nhà máy xí nghiệp lớn như: VIKYNO, VICASA, COGIDO, COGIVINA, chế biến gỗ Tân Mai, gỗ An Bình, đường Biên Hòa... đã xây dựng khu nhà ở tập trung cho gia đình công nhân. Các chung cư đó được xây dựng bằng gạch lợp ngói hoặc tôn, mỗi gia đình được phân một căn hộ để ở, nhà nào đông người thì rất chật hẹp.

Sau ngày giải phóng 30 - 4 - 1975, chính phủ ta tiếp quản khu công nghiệp, một số nhà máy xí nghiệp đã cải tạo sửa chữa các khu nhà tập thể của công nhân. Mỗi gia đình công nhân được phân phối một căn hộ diện tích rộng hơn, điều kiện ăn ở của gia đình công nhân được cải thiện.

Từ năm 1980 trở đi một số nhà máy, xí nghiệp quốc doanh mới được thành lập và đi vào hoạt động. Các đơn vị này cũng xây dựng khu tập thể cho gia đình công nhân, hình thành các khu công nhân mới.

Ngoài ra tỉnh đã cho xây dựng khu tập thể Phúc Hải cho cán bộ, viên chức bằng cách phân ô xây dựng các dãy nhà cấp 4 tường gạch lợp ngói, mỗi căn hộ có bể nước và một mảnh vườn nhỏ bao quanh. Một số cơ quan cũng xây dựng khu tập thể cho cán bộ - công nhân viên.

Trong các đô thị như: thành phố, thị xã, thị trấn nhân dân sống chủ yếu bằng nghề buôn bán dịch vụ. Để phục vụ cho nghề nghiệp của mình, nhà cửa của nhân dân đều hướng về mặt tiền hoặc chung quanh khu vực chợ. Nhà trệt làm theo kiểu nhà ống, tường gạch lợp tôn hoặc lợp ngói, phía sau là chỗ ở của gia đình, phía trước là địa điểm kinh doanh. Nhà lầu thì tầng trên là chỗ ở của gia đình, tầng trệt là kho tàng và mở cửa hàng buôn bán, làm dịch vụ.

V. Quá trình đô thị hóa:

Đô thị là nơi nhân dân cư trú tập trung sinh sống bằng các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp như: sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, buôn bán và các dịch vụ khác.

Nhìn bề ngoài, người ta phân biệt giữa đô thị và nông thôn qua bộ mặt kiến trúc nhà cửa, tiệm buôn, xưởng máy, cơ sở sản xuất thủ công, cơ sở y tế, rạp hát, rạp chiếu bóng... Đô thị là hình thức tổ chức xã hội có quan hệ chặt chẽ với trình độ kinh tế phát triển hay các trung tâm chính trị - văn hóa.

Ở các nước tư bản, vấn đề đô thị hóa là kết quả của công nghiệp phát triển, các công trường thủ công xuất hiện rồi dần dần phát triển thành các trung tâm công thương nghiệp lớn đã thu hút nguồn lao động từ nông thôn tới. Những thị trấn, thị xã nhỏ dần dần phát triển thành những thành phố đô thị lớn nổi tiếng thế giới như Luân Đôn, Nữu Ước, Pari, Tokyo, Béclin... chứa chất nhiều mâu thuẫn xã hội gay gắt.

Đối với những nước công nghiệp chậm phát triển như nước ta đô thị hóa bắt đầu từ việc hình thành các trung tâm chính trị hành chính của một địa phương rồi phát triển thành các trung tâm kinh tế văn hóa chính trị của địa phương đó.

Nhân dân ta có câu Thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến. Đối với tỉnh Đồng Nai ngày nay có một đặc điểm là khác với các nơi khác, quá trình đô thị hóa bắt đầu hình thành từ một trung tâm thương mại "Nông Nại đại phố".

V.1. Sự ra đời và hoạt động của Nông Nại đại phố:

Cách đây hơn 300 năm những nhóm người Việt đầu tiên đến định cư ở Đồng Nai vỡ đất khai hoang mới chỉ là những xóm làng thưa vắng. Từ năm 1679, một đoàn người Hoa do Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình dẫn đầu được chúa Nguyễn cho phép cư trú ở Đồng Nai; một nhóm về lập nghiệp ở cù lao Phố. Khi mới đến lập nghiệp họ khai hoang vỡ đất làm ruộng; một số khác làm đường mở chợ, xây dựng Thất phủ Quan Vũ miếu, hình thành Nông Nại đại phố. Người Hoa, người Việt tập trung về đây làm ăn buôn bán, nhà cửa san sát, đường sá lát đá rộng rãi, các hiệu buôn hàng tạp hóa, đồ sắt, dụng cụ gia đình, các tiệm ăn, đông vui, nhộn nhịp trên bến dưới thuyền. Ngoài việc làm ăn buôn bán của người bản xứ, người Việt, người Hoa, Nông Nại đại phố còn có quan hệ buôn bán với người ngoại quốc như: Trung Hoa, Chà và, Nhật Bản và các thương nhân người Âu... Tàu thuyền ra vào tấp nập, từ năm 1693 đến năm 1776, Nông Nại đại phố đã trở thành một cảng thịnh vượng; một đô thị sánh với phố Hiến ở miền Bắc, Hội An ở miền Trung. Sau biến cố 1776, cảng thị cù lao Phố bị tàn phá, người Việt chạy sang bên kia rạch Cát làm ăn sinh sống, người Hoa chia làm 2 cánh: một cánh chạy về Phiên Trấn, một cánh chạy tỏa ra các vùng lân cận. Trung tâm buôn bán chuyển về Bến Nghé, trung tâm đô thị địa phương chuyển dần về làng Bình Trước. Hiện nay người Hoa không còn bao nhiêu ở cù lao Phố (xã Hiệp Hòa) nhưng di tích về Nông Nại đại phố vẫn còn: Thất phủ Quan Vũ miếu, dấu vết đường lát đá, nhà lợp ngói âm dương, rạch Lò Gốm...

V.2. Sự hình thành các trung tâm chính trị của địa phương: tỉnh lỵ, huyện lỵ:

Từ năm 1808, trấn lị Biên Hòa đặt tại làng Bình Trước tổng Phước Vĩnh Thượng, ngoài các dinh thự được xây cất, nhân dân đã xây dựng nhà cửa, mở hiệu buôn, mở chợ, mở đường đi lại buôn bán đông vui; một đô thị mới bắt đầu hình thành.

Địa chí Biên Hòa của Robert M năm 1924 viết: Tỉnh lị Biên Hòa cách Sài Gòn 30 km, ở bờ trái sông Đồng Nai. Dân cư khoảng 3.200 người (làng Bình Trước); cả xã gần 5.000 người.

Thị xã nhỏ này là một trong các thị xã đẹp nhất Nam Kì. Nằm lẩn dưới các tán cây của bờ sông Đồng Nai đầy cây cối, từ điểm dòng sông trải rộng ở đồng bằng, thoạt nhìn từ bờ đối diện người ta say đắm liền, từ bến đò Ngựa (Bình Long, nay thuộc phường Bửu Hòa, NV chú) ở đó có bến đò ngang được người bản xứ dùng thường xuyên và từ khoảng 20 năm nay có chiếc tàu đò của hãng Vận tải đường sông, phương tiện giao thông duy nhất giữa Sài Gòn và miền Đông Nam Kì. Ở phía Bắc, quang cảnh bị hạn chế bởi hòn đảo nhỏ kéo dài và cây cối rậm rạp, đằng sau đảo hiện lên dãy đồi Lò Gạch, về phía Nam, cù lao Phố rộng hơn có cây cầu sắt vượt qua mỏm. Người ta tự cho là ở bờ hồ, đôi khi xáo động mạnh khi gió lốc thổi trên mặt nước rộng lớn trống trải này.

Thị xã đẹp nên thơ trải dài theo dòng sông hơn một ki lô mét. Nó dần dần đẹp ra, nhưng khu trung tâm bản xứ xây dựng khá xấu làm tổn hại vẻ duyên dáng của toàn thể. Trong vườn hoa được quy hoạch đẹp, thoáng đãng trên bờ sông Đồng Nai là tòa bố thật hiện đại, tiện nghi nhất. Một đình tạ duyên dáng dựng bên bờ sông, cạnh cầu tàu tòa bố. Hai cầu tàu khác và chợ cá nổi bật xa hơn, từ bến sông đối diện tòa nhà gỗ hiên rộng (bungalow) và câu lạc bộ đặt trong khu nhà rộng rãi, dưới gốc cổ thụ uy nghi. Rồi đến trại thủy phi cơ vừa lập với nhà chứa máy bay, cơ xưởng, trại lính sắp bổ sung những chòi xinh xắn cho sĩ quan và hạ sĩ quan của phi đội. Bên kia doanh trại, ngôi chùa Bình Trước cổ kính với đường gờ trang trí kiểu Tàu làm bằng tượng sứ nhỏ xíu, vạch lại cuộc đời một vị thần và vài tượng cổ sơn phết trên bệ thờ ([1][2]). Đi ngược bến lên cao có ngôi nhà lớn của rạp hát Việt Nam và trại đóng ghe xuồng của người Tàu. Phía sau sông, trên ụ đất là một lô cốt rộng, người ta đi vào bằng lối đi tuyệt đẹp trồng phượng vĩ thân kếch xù. Xây dựng năm 1879 thay cho thành cổ, hiện nay lô cốt dùng làm chỗ ở cho sĩ quan đại đội lính tập. Trại lính đặt ở chung quanh. Chính trung tâm không phô bày vẻ kì dị khác lạ. Đó là những tòa nhà công ([2][3]) và những vi la của viên chức mà người ta nhận ra ở các tỉnh lị.

Cách thị xã ba ki lô mét, trên cao nguyên Bình Thạnh và dọc đường đi Trị An, lập một trại không quân trên bộ với nhiều nhà chứa máy bay, kho, xưởng may và một bãi cất hạ cánh rộng rãi. Ở gần bìa rừng là một nhóm chòi cho nhân sự người Âu ở, họ thuộc bộ phận mặt đất của phi đội.

Từ năm 1955, một số đồng bào miền Bắc di cư đến định cư ở khu Hố Nai và một số xã dọc quốc lộ 15. Tỉnh lị Biên Hòa càng thêm sầm uất thu hút nhân dân các nơi về đây làm ăn sinh sống.

Từ những năm 1960, khu kĩ nghệ Biên Hòa bắt đầu được thành lập và đi vào hoạt động càng làm đô thị Biên Hòa thêm phát triển.

Trong những năm dưới thời Pháp thuộc Biên Hòa là tỉnh lỵ của một tỉnh lẻ nên việc xây dựng cơ sở hạ tầng ít được chú ý. Vào những năm đầu của thập niên 60 thế kỷ XX, khu kĩ nghệ Biên Hòa được thành lập, nhưng thuộc địa phận hai xã Tam Hiệp và Long Bình Tân ở ngoại ô. Khu trung tâm tỉnh lị vẫn chưa có gì thay đổi chỉ là xã Bình Trước với địa giới lúc ban đầu (5 khu, 8 ấp) cho đến năm 1975. Sau ngày giải phóng, địa giới Biên Hòa được mở rộng và nâng lên thành một thành phố với 22 phường, xã; các nhà máy, xí nghiệp được xây dựng thêm, sự bố trí như hiện nay là hợp lý. Khu trung tâm thành phố vẫn chưa có gì thay đổi; là một đô thị điều quan trọng nhất là điện, nước, đường giao thông nội thị, đường ngang, phố dọc nhưng việc xây dựng cao ốc ở khu trung tâm thành phố Biên Hòa phát triển rất chậm.

Từ một tỉnh lị nhỏ năm 1923 với số dân là 4.834 người, năm 1977 tăng lên 224.505 người, ngày nay Biên Hòa là một thành phố loại 2 với số dân là 419.673 người (năm 1996).

Năm 1808, tổng Long Thành thuộc huyện Phước Long đã thăng thành huyện Long Thành, huyện lỵ đặt tại làng Phước Lộc. Cùng với việc xây dựng các dinh thự, công sở, các xưởng thủ công, tiệm buôn cũng mọc lên và chuyển dần từ một làng sản xuất nông nghiệp thành một thị trấn, thu hút nhân dân các vùng nông thôn về đây sinh sống. Làng Phước Lộc năm 1923 với 1.663 dân nay đã là một thị trấn hoạt động nhộn nhịp với số dân là 20.927 người, nhà cửa kiến trúc đường sá, chợ búa, bệnh viện, trường học, có đầy đủ của dáng dấp một đô thị loại 5.

Thị trấn Xuân Lộc phát triển từ một làng trung tâm của tổng Bình Lâm Thượng. Năm 1957 là tỉnh lỵ của tỉnh Long Khánh, năm 1976 là huyện lỵ của huyện Xuân Lộc, hiện nay là huyện lỵ của huyện Long Khánh, trở thành một đô thị loại 4. Dân số từ 1.846 người năm 1923 lên 56.920 người năm 1996.

Thị trấn Định Quán, một trung tâm chính trị kinh tế văn hóa của huyện Định Quán được hình thành từ một xã của tổng Bình Tuy, từ năm 1957 trở thành huyện lỵ của huyện Định Quán, hiện đang trên đường xây dựng để trở thành một đô thị.

Các thị trấn Vĩnh An (huyện lỵ huyện Vĩnh Cửu), Trảng Bom (huyện lỵ huyện Thống Nhất), Gia Ray (huyện lỵ huyện Xuân Lộc), thị trấn Tân Phú vừa lập gần đây cũng đang trên đà phát triển.

V.3. Sự hình thành và phát triển của các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tập trung:

Ở các nước công nghiệp phát triển, việc đô thị hóa đều bắt đầu từ các công trường thủ công. Ở tỉnh Đồng Nai ngoài các yếu tố là trung tâm chính trị, trung tâm thương mại dịch vụ; việc thành lập các trung tâm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đã lôi cuốn khá nhiều lao động ở nông thôn, một số công nhân còn đem theo cả gia đình về các khu này làm ăn sinh sống, do đó đã thúc đẩy quá trình đô thị hóa nhanh chóng hơn.

Các cơ sở chế biến lâm sản như sản xuất bàn ghế, giường tủ, cưa xẻ gỗ xây dựng đã hình thành những khu sản xuất tập trung như Tân Hòa, Tân Mai.

Các cơ sở sản xuất gạch ngói tập trung ở Long Bình Tân, Tân Vạn, Tân Hạnh...

Các cơ sở sản xuất đồ gốm sứ tập trung ở Bửu Hòa, Hóa An, Tân Vạn...

Năm 1963, chính quyền Sài Gòn cho thành lập khu kĩ nghệ Biên Hòa trên địa bàn 2 xã Tam Hiệp và Long Bình Tân; sau đó tuyên bố chuyển nhượng đất cho công ty quốc gia phát triển kỹ nghệ SONADEZI. Năm 1972, khu kĩ nghệ Biên Hòa đã có 42 nhà máy lớn nhỏ đi vào hoạt động với số công nhân là 6.355 người, nhiều khu chung cư của công nhân được các nhà máy xí nghiệp xây dựng.

Năm 1981, hơn 40 xí nghiệp trung ương quản lý được đưa vào hoạt động, ta xây dựng thêm 29 xí nghiệp công nghiệp địa phương; đưa tổng số nhà máy, xí nghiệp trong tỉnh lên 82 với số công nhân là 17.205 người.

Sau 20 năm xây dựng và phát triển kinh tế tính đến năm 1996 toàn tỉnh đã có 2 khu công nghiệp tập trung: Biên Hòa 1, Biên Hòa 2 và các khu công nghiệp tập trung khác như: Gò Dầu, Nhơn Trạch, Hố Nai, Sông Mây... cũng đang hình thành và phát triển thu hút ngày càng nhiều lao động.

V.4. Quá trình hình thành và phát triển của các tụ điểm thương mại, dịch vụ:

Ngoài các trung tâm thương mại dịch vụ lớn của địa phương như thành phố Biên Hòa, các thị trấn huyện lỵ của các huyện; các tụ điểm thương mại dịch vụ ở các thị tứ cũng đang phát triển hình thành mạng lưới thương mại dịch vụ phục vụ các ngành sản xuất phát triển và cải thiện đời sống nhân dân địa phương.

Năm 1980, số lao động hoạt động trong các ngành thương mại dịch vụ là 54.846 người, trong đó có 19.460 người hoạt động trong ngành thương nghiệp vật tư.

Năm 1996, số lao động hoạt động trong các ngành thương mại dịch vụ là 144.125 người, trong đó có 56.442 người hoạt động trong ngành thương nghiệp vật tư.

Các thị tứ là các tụ điểm thương mại dịch vụ hoạt động rất nhộn nhịp như: Phương Lâm, Phú Vinh, Túc Trưng, Gia Kiệm, Gia Tân, Dầu Giây, Xuân Định, ngã ba Suối Cát, Hưng Lộc, ngã ba Sông Thao, ngã ba Bùi Chu, Thạnh Phú, Tân Mai II, Phước Thái, Đại Phước... góp phần vào việc đẩy mạnh đô thị hóa trong địa phương.



([1][2]) Đây là đình Tân Lân, tác giả lầm là chùa (người viết chú).

([2][3]) Nhà thương, trường học, tòa án, trại lính bảo an... 

Comments