D. Cơ cấu dân số

CƠ CẤU DÂN SỐ

Để thuận tiện cho việc phân tích đánh giá tình hình phát triển dân số và phục vụ cho công tác nghiên cứu về dân số của tỉnh Đồng Nai, chúng tôi dựa vào các tài liệu thống kê cơ sở để cắt bỏ: số dân của huyện Duyên Hải chuyển về thành phố Hồ Chí Minh; số dân của thị xã Vũng Tàu, các huyện Châu Thành, Long Đất, Xuyên Mộc chuyển về tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cho đồng nhất về phạm vi, thời gian, không gian.

* Dân số tỉnh Đồng Nai qua các thời điểm:

             - Ngày 05 - 02 - 1976:                 905.247      người

             - Ngày 01 - 10 - 1979:                 1.035.937   người

             - Ngày 01 - 04 - 1989:                 1.542.927   người

             - Ngày 01 - 01 - 1996:                 1.936.055   người

Tính từ năm 1957 đến năm 1976 tức là sau 19 năm, dân số Đồng Nai đã tăng gấp 2,5 lần. Nếu tính từ năm 1957 đến năm 1996 tức là sau 38 năm dân số đã tăng lên 5,5 lần. Nếu tính từ năm 1976 đến năm 1996 tức là sau 20 năm đã tăng lên 2,1 lần. Vùng đất này đã có sức hút mãnh liệt đối với dân cư các miền đất nước, đây là vùng kinh tế phát triển cực kỳ sôi động so với nhiều địa phương khác trong cả nước, nó nằm trong tam giác thành phố Hồ Chí Minh - Đồng Nai - Bà Rịa - Vũng Tàu, trọng điểm kinh tế phía Nam.

I. Cơ cấu dân số theo giới tính:

Ở tỉnh Đồng Nai cũng như trong cả nước do ảnh hưởng của nhiều năm chiến tranh tỷ lệ nữ giới trong dân số cao hơn nam giới. Nhưng kể từ sau năm 1975 tỷ lệ nữ giới giảm dần. Năm 1976, tỷ lệ nữ trong dân số chiếm 51,95%, năm 1979 chiếm 51,58%, năm 1989 là 50,76%, năm 1996 là 49,48%; do đó tháp tuổi không bao giờ cân xứng; số nam giới sinh ra bao giờ cũng nhiều hơn nữ giới. Do nhiều yếu tố ảnh hưởng như: điều kiện xã hội, lao động và sinh hoạt nên số chết ở mọi lứa tuổi bao giờ nam giới cũng cao hơn nữ nhất là ở lứa tuổi đã trưởng thành; từ đó trong cùng một lứa tuổi tỷ lệ nam sẽ giảm dần mà tỷ lệ nữ sẽ tăng dần. (xem các biểu thống kê phần phụ lục).

II. Cơ cấu dân số theo độ tuổi:

Số liệu thống kê nhiều năm cho thấy ở tỉnh Đồng Nai cứ 10.000 trẻ em sơ sinh có khoảng 4.750 đến 4.830 nữ, tương ứng với kết quả nghiên cứu về trẻ sơ sinh của thế giới cứ 100 nữ có 105 nam. Lứa tuổi càng nhỏ nữ chiếm tỷ lệ càng ít, tỷ lệ đó sẽ tăng dần. Tỷ lệ nam giới do phụ thuộc nhiều về các điều kiện sinh hoạt và xã hội tỷ lệ sẽ giảm dần vào lứa tuổi từ 20 trở đi.

Qua các bảng thống kê về cơ cấu dân số chia theo độ tuổi của 3 kỳ điều tra dân số 1979, 1989 và 1996: tỷ lệ cấu trúc nam nữ  ở độ tuổi từ 0 - 14; năm 1979 nam là 23,49%, nữ là 22,20%; năm 1989 nam là 19,25%, nữ là 17,61%. Theo quy luật chung độ tuổi càng cao, tỷ lệ nữ ngày một tăng và tỷ lệ nam ngày càng giảm dần. Nhưng trong điều kiện xã hội có thay đổi và đời sống ngày càng cải thiện thì tỉ lệ đó cũng thay đổi.

Năm 1979 ở độ tuổi 20 - 24 tỷ lệ nữ tăng hơn nam cụ thể, nam là 3,62% nữ là 4,59%. Năm 1989 ở độ tuổi 25 - 29 tỷ lệ nữ mới tăng hơn nam chút ít cụ thể, nam là 4,46%, nữ là 4,70%. Năm 1996 do nền kinh tế phát triển, đời sống nhân dân có nhiều cải thiện, số lao động nhập cư nhiều nên đến độ tuổi 40 - 44 tỷ lệ nữ mới nhích lên, cụ thể nam là 1,47% nữ là 1,57%.

Quy mô dân số trong độ tuổi lao động, năm 1979 là 47,12%, năm 1989 là 51,88%, năm 1996 là 54,71%. Số lao động tăng nhanh ở thời kỳ 1989 đến 1996, phần lớn là do tăng cơ học; chỉ trong vòng 7 năm mà số lao động của toàn tỉnh đã tăng lên 259.833 người. (xem biểu thống kê và tháp tuổi ở phần phụ lục).

III. Cơ cấu dân số thành thị nông thôn:

Đồng Nai lại nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, các mặt công nghiệp, dịch vụ phát triển tương đối nhanh, quá trình đô thị hóa trong mấy năm gần đây với tốc độ nhanh nên cơ cấu dân số nông thôn và thành thị cũng có chuyển dịch lớn. Số dân thành thị ngày càng tăng, tỉ lệ dân nông thôn giảm dần.

Năm 1976, số dân thành thị chiếm 23,70%, dân nông thôn chiếm 76,30%.

Năm 1989, số dân thành thị chiếm 27,21%, dân nông thôn chiếm 72,79%.

Năm 1996, số dân thành thị chiếm 28,97%, dân nông thôn chiếm 71,03%.

(xem các biểu thống kê phần phụ lục)

IV. Cơ cấu ngành nghề:

Kết quả các kỳ tổng điều tra dân số cho thấy số liệu lao động tuyệt đối trong nông nghiệp cũng như các ngành khác đều có tăng lên cùng với nhịp độ tăng dân số nhưng cơ cấu có sự thay đổi phù hợp với xu thế phát triển kinh tế địa phương.

(Tính theo tỷ lệ%)

NĂM

Số lao động

Giá trị tổng sản phẩm quốc nội GDP

KV1

KV2

KV3

KV1

KV2

KV3

1976

78,59

10,49

10,92

58,1

16,3

25,6

1989

1995

77,64

76,38

9,60

11,84

12,76

11,78

50,1

32,7

20,6

36,5

29,3

30,8

Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đề ra đường lối đổi mới, xóa bỏ từng bước chế độ bao cấp và áp dụng cơ chế thị trường thì số lao động cũng như GDP ở Đồng Nai có bước giảm sút tất yếu do việc sắp xếp lại các nhà máy và doanh nghiệp quốc doanh. Một số đơn vị làm ăn kém hiệu quả phải sáp nhập, giải thể đã gây biến động nêu trên. Vượt qua cơn khủng hoảng, từ khi mở cửa đón nhận đầu tư, liên doanh với nước ngoài và thương mại - dịch vụ tư nhân bung mạnh thì số lao động cũng như GDP của khu vực 2 và 3 ngày càng tăng nhanh.

IV.1. Lao động sản xuất nông nghiệp:

Năm 1980, số lao động làm việc trong ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Nai là 405.884 người đã tạo ra giá trị sản lượng của ngành nông nghiệp là 386.004 triệu đồng (tính theo giá cố định 1989) bình quân một lao động nông nghiệp làm ra 951.020 đồng.

Năm 1990, số lao động làm việc trong ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Nai là 503.856 người đã tạo ra giá trị sản lượng của ngành nông nghiệp là 629.622 triệu đồng (tính theo giá cố định 1989), bình quân một lao động nông nghiệp làm ra 1.249.607 đồng.

Năm 1995, số lao động làm việc trong ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Nai là 731.266 người, đã tạo ra giá trị sản lượng của ngành nông nghiệp là 821.792 triệu đồng (tính theo giá cố định 1989), bình quân một lao động nông nghiệp làm ra 1.123.794 đồng.

IV.2. Lao động công nghiệp:

Năm 1980, số công nhân viên làm việc trong các ngành công nghiệp là 47.237 người, tạo ra giá trị sản lượng của ngành công nghiệp là 215.689 triệu đồng (tính theo giá cố định 1989), bình quân một công nhân làm ra 4.566.103 đồng.

Năm 1990, số công nhân viên làm việc trong các ngành công nghiệp là 51.094 người, đã bắt đầu đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất, giá trị sản lượng của ngành công nghiệp tạo ra là 441.291 triệu đồng (tính theo giá cố định 1989), bình quân một lao động của ngành công nghiệp tạo ra 8.636.846 đồng.

Năm 1995, số công nhân viên làm việc trong các ngành công nghiệp là 102.280 người và đã đổi mới các phương tiện sản xuất của ngành công nghiệp nên đã tạo ra giá trị sản lượng của ngành công nghiệp là 1.786.427 triệu đồng (tính theo giá cố định 1989), bình quân một lao động của ngành công nghiệp tạo ra 17.466.044 đồng.

V. Mật độ dân số:

Diện tích : 5.866,40 km2

             - Mật độ dân số năm 1979 là       183 người/km2

             - Mật độ dân số năm 1989 là       272 người/km2

             - Mật độ dân số năm 1995 là       300 người/km2

             - Mật độ dân số năm 1996 là       341 người/km2.  

Xem bản đồ mật độ dân số Đồng Nai, người ta thấy rõ: đô thị là nơi tập trung dân cư bậc nhất và có khuynh hướng gia tăng liên tục. Mật độ dân cư các huyện cũng tăng dần theo mức gia tăng cơ giới (các huyện Xuân Lộc, Tân Phú, Định Quán …) .

Comments