E. Dân trí và tuổi thọ

DÂN TRÍ VÀ TUỔI THỌ

Mức sống của nhân dân được đo bằng đời sống vật chất và tinh thần của dân cư qua các thời kỳ.

I. Trình độ dân trí:

Trình độ dân trí được biểu hiện qua trình độ văn hóa, kỹ thuật của dân cư. Năm 1979, số người chưa biết chữ từ 6 tuổi trở lên là 12,66%, năm 1989 là 12,54%, năm 1995 là 3,55%. Tỷ lệ người chưa biết chữ trong số dân từ 6 tuổi trở lên năm 1995 giảm xuống nhiều do kết quả huy động học sinh vào lớp một đạt 98,86% độ tuổi đi học, kết quả xóa mù chữ của địa phương đạt tỷ lệ cao.

Tính đến năm 1995, số người học hết lớp 1 trở lên toàn tỉnh là 1.481.552 người (76,52%), số học sinh đang học lớp 1 niên khóa 1995 - 1996 là 59.855 em chiếm 3,6% ở độ tuổi từ 6 tuổi trở lên và bằng 13,73% ở độ tuổi từ 6 - 14 tuổi.

I.1. Về trình độ văn hóa:

Tính đến 31 - 12 - 1995, dân số toàn tỉnh là 1.936.055 người. Số dân từ 6 tuổi trở lên là 1.658.079 người: số người chưa biết chữ là 58.955 người (3,04%); số người mới biết đọc, biết viết (kể cả số đang học lớp 1) là 117.572 người (6,07%), số học hết cấp 1 là 242.373 người (12,51%), số học hết cấp 2 là 114.130 người (5,89%); số học hết cấp 3 là 116.026 người (6%). Trong niên học 1995 - 1996, toàn tỉnh có 405.006 học sinh, trong đó cấp 1 là 262.864 em, cấp 2 là 113.907 em, cấp 3 là 28.235 em.

Số chỉ mới biết đọc, biết viết (chưa học hết lớp 1) là 117. 572 người (6,07%), một con số lớn đối với công tác xóa mù chữ và phổ cập tiểu học.

I.2. Về trình độ chuyên môn kỹ thuật:

Năm 1979, số người có trình độ chuyên môn kỹ thuật là 17.390 người, trong đó: có trình độ trung cấp là 6.666 người, có trình độ cao đẳng là 475 người, có trình độ đại học là 2.133 người, trên đại học là 12 người.

Năm 1989, số người có trình độ chuyên môn kỹ thuật là 27.695 người, trong đó: có trình độ trung cấp là 8.876 người, có trình độ cao đẳng là 2.394 người, có trình độ đại học là 4.723 người, trên đại học là 27 người.

Năm 1995, số người có trình độ chuyên môn kỹ thuật là 37.531 người, trong đó: có trình độ trung cấp là 13.310 người, có trình độ cao đẳng là 3.487 người, có trình độ đại học là 6.190 người, trên đại học là 66 người.

Qua các số liệu trên người ta thấy: kinh tế ngày càng phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện, trình độ dân trí không ngừng được nâng lên. Năm 1979, cứ 1.000 người dân có 2,07 người có trình độ từ đại học trở lên. Năm 1989, cứ 1.000 người dân có 3,07 người có trình độ từ đại học trở lên. Năm 1995, cứ 1.000 người dân có 3,23 người có trình độ từ đại học trở lên.

Dân trí ngày càng cao, tạo điều kiện để tiếp thu khoa học kỹ thuật đưa vào sản xuất. Do đó sản xuất ngày càng phát triển, giá trị sản phẩm xã hội sản xuất ra ngày càng tăng.

Năm 1979, số lao động có kỹ thuật chiếm 3,34% trong tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân; số cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ từ trung học chuyên nghiệp trở lên bằng 2,05% số lao động trực tiếp sản xuất; giá trị sản lượng sản xuất ra trong năm là 601.693 triệu đồng (tính theo giá cố định 1989).

Năm 1989, số lao động có kỹ thuật chiếm 3,57% trong tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân; số cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ từ trung học chuyên nghiệp trở lên bằng 2,37% số lao động trực tiếp sản xuất; giá trị sản lượng sản xuất ra trong năm là 1.070.913 triệu đồng (tính theo giá cố định 1989).

Năm 1995, số lao động có kỹ thuật chiếm 3,87% trong tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân; số cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ từ trung học chuyên nghiệp trở lên bằng 2,76% số lao động trực tiếp sản xuất; giá trị sản lượng sản xuất ra trong năm là 2.608.219 triệu đồng (tính theo giá cố định 1989).

Do dân trí ngày càng phát triển số lao động có kỹ thuật ngày càng tăng lên, nên giá trị sản phẩm xã hội sản xuất ra trong năm cũng không ngừng tăng lên.

Năm 1989 so với năm 1979 tức là sau 10 năm số lao động xã hội tăng lên 47,79%, lao động trực tiếp sản xuất tăng lên 45,73%, lao động có kỹ thuật tăng lên 59,29%, giá trị sản phẩm xã hội sản xuất ra trong năm tăng lên 77,98%.

Năm 1995 so với năm 1989 tức là sau 06 năm số lao động xã hội tăng lên 25,08%, lao động trực tiếp sản xuất tăng lên 26,49%, lao động có kỹ thuật tăng lên 35,52%, giá trị sản phẩm xã hội sản xuất ra trong năm tăng lên 43,55%.

Năm 1995 so với năm 1979 tức là sau 16 năm số lao động xã hội tăng lên 86,75%, lao động trực tiếp sản xuất tăng lên 84,54%, lao động có kỹ thuật tăng lên 115,82%, giá trị sản phẩm xã hội sản xuất ra trong năm tăng lên gấp 4,3 lần. Nhưng một vấn đề nổi cộm là tỉnh ta thiếu công nhân và nhân viên kĩ thuật có tay nghề cao, cần mở thêm các trường dạy nghề phù hợp để khắc phục nhanh chóng tình trạng này.

II. Tuổi thọ bình quân theo giới tính:

Tuổi thọ của dân cư phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội; nhất là điều kiện lao động và sinh hoạt đã ảnh hưởng lớn đến tuổi thọ của từng giới tính do đó tỷ lệ chết bao giờ nam giới cũng cao hơn kể cả mọi lứa tuổi.

II.1. Năm 1976:

Mặc dù chiến tranh đã kết thúc nhưng ảnh hưởng của hậu quả  chiến tranh rất lớn, đời sống đói khổ nhất là đối với những người sống nhờ vào chiến tranh nay không có việc làm tỷ lệ thất nghiệp lớn phải có thời gian mới khắc phục được, một số tật bệnh hoành hành nên tuổi thọ thấp. Tuổi thọ bình quân là 57 tuổi trong đó tuổi thọ bình quân của nữ giới là 60 tuổi, tuổi thọ bình quân của nam giới là 54 tuổi.

II.2. Năm 1980:

Sau 5 năm khôi phục sản xuất khắc phục hậu quả chiến tranh tuy có thu được kết quả nhất định nhưng đời sống vẫn còn nhiều khó khăn nên tuổi thọ vẫn chưa được cải thiện nhiều. Tuổi thọ bình quân của năm 1980 là 60 tuổi trong đó tuổi thọ bình quân của nam giới là 57 tuổi, của nữ giới là 62 tuổi.

II.3. Năm 1989:

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, kinh tế phát triển đời sống nhân dân đã bước đầu được cải thiện nên tuổi thọ tăng lên. Tuổi thọ bình quân năm 1989 là 65 tuổi trong đó tuổi thọ bình quân của nam giới là 63, tuổi thọ của nữ giới là 67 tuổi.

II.4. Năm 1995:

Do kinh tế phát triển hơn đời sống dân cư ngày càng được cải thiện, hệ thống phòng chữa bệnh phát triển, tổng số cán bộ y tế là 3760 người tăng gấp hơn 2 lần năm 1976 (trong đó bác sĩ là 477 người tăng gấp 8,5 lần 1976, y sĩ là 820 người tăng gấp 8 lần năm 1976). Nhờ vậy mà tuổi thọ bình quân năm 1995 là 68 tuổi trong đó tuổi thọ bình quân của nam giới là 66, tuổi thọ của nữ giới là 70 tuổi.

Hiện nay, khoảng 2 triệu dân Đồng Nai - gồm hơn 40 dân tộc anh em đang sống đoàøn kết, thân ái giúp đỡ lẫn nhau trong lao động sản xuất góp phần xây dựng cuộc sống mới ngày càng giàu mạnh, xã hội công bằng văn minh.

Biểu 1: DIỆN TÍCH DÂN SỐ CHIA THEO ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CỦA TỈNH ĐỒNG NAI

Có đến 31 - 12 - 1996

                                               

ĐỊA PHƯƠNG

DIỆN TÍCH

(KM2)

DÂN SỐ

(NGƯỜI)

MẬT ĐỘ DÂN SỐ

(NGƯỜI/KM2)

TỔNG SỐ

5.866,40

1.936.055

330,02

1. Thành phố Biên Hòa

154,73

419.673

2.712,29

2. Huyện Vĩnh Cửu

1.073,18

91.859

85,59

3. Huyện Thống Nhất

506,43

300.159

592,69

4. Huyện Xuân Lộc

946,92

284,407

300,34

5. Huyện Long Khánh

497,75

204.951

411,75

6. Huyện Định Quán

962,91

205,526

206,42

7. Huyện Tân Phú

781,34

155.961

199,60

8. Huyện Long Thành

533,60

175.054

328,06

Comments