1. Những giai đoạn phát hiện, nghiên cứu khảo cổ học ở Đồng Nai

I. NHỮNG GIAI ĐOẠN PHÁT HIỆN, NGHIÊN CỨU KHẢO CỔ HỌC Ở ĐỒNG NAI:

Đồng Nai - tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, gồm gần nửa địa giới tỉnh Biên Hòa cũ ([1][1]), cũng là một trong những trung tâm văn hóa cổ của Việt Nam. Lịch sử khám phá buổi ban đầu khảo cổ học thời tiền sử - sơ sử nơi đây gắn liền với tên tuổi của các nhà thám hiểm, du lịch, truyền giáo và thực dân Châu Âu (T.V.Holbé, J.Chénieux, E.Cartailhac, A.Mougeot, D.Grossin, F.Barthère, J.Repelin, Loesh.v.v..) và các thành viên thuộc Phái bộ A. Pavie làm việc tại Việt Nam những năm 80 - 90 thế kỷ XIX, cùng những địa danh dọc hai bờ Đồng Nai và các chi lưu ở hữu ngạn dòng sông này (Lò Gạch, Bình Đa, Bến Gỗ, An Hưng, Bình Đạt, Cái Vạn, Cù My, Bến Cá, Tam Hiệp, Phước Mỹ, Phước Long, Phước Lễ, Long Ân, v.v..). Sưu tập di vật tiền sử đáng nói nhất do T.V. Holbé sưu tầm từ hơn 20 địa điểm tập trung ở Biên Hòa những năm 1886 - 1890 gồm gần 1200 di vật đá cùng 10 rìu đồng, đã được giới thiệu trong các công trình của E. Hamy (1897), của R. Verneau (1904) và trưng bày tại Hội chợ Quốc tế Paris 1889. Không ít di vật tiêu biểu của các sưu tập tiền sử đầu tiên của Đồng Nai hiện còn lưu giữ trong các bảo tàng Pháp (L’Homme, Toulouse, Saint Germain - en - Laye, Cernuschi... ) hay Việt Nam như Viện Bảo tàng lịch sử (BTLS) tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Mặc dù chỉ là những phát hiện ngẫu nhiên với lý lịch khoa học không rõ ràng, những sưu tập này vẫn có giá trị nghiên cứu cho khảo cổ học tiền sử - sơ sử Đồng Nai và toàn vùng Đông Nam bộ.

Chặng đường khám phá tiếp theo bắt đầu từ ranh giới hai thế kỷ bằng những cuộc khai quật đầu tiên ở Việt Nam tiến hành trên Cù Lao Rùa nằm giữa sông Đồng Nai, cách TP. Biên Hòa gần 10 km của D. Grossin (1902) và A. Jordin (1910). Theo H. Fontaine (1970), chỉ riêng cù lao này đã cung cấp tới 383 di vật đủ kích cỡ và kiểu dáng làm cơ sở cho hiểu biết của chúng ta về thời đại Đá mới đất Biên Hòa xưa. Những di vật tương tự như ở Cù Lao Rùa còn tìm thấy trong thời gian này ở nhiều vùng địa hình của Đồng Nai, từ miền cao đất đỏ về miền thấp phù sa cận biển. Tại vùng đồi gò đất đỏ Xuân Lộc năm 1927, một di tích cự thạch độc đáo tình cờ được phát hiện và khai quật bởi kỹ sư L. Bouchot (1927, 1929). Di tích là một ngôi mộ đá (dolmen), được Toàn quyền Đông Dương xếp hạng trong danh mục những di tích lịch sử quan trọng của Liên Bang năm 1930, gắn liền với nhiều bài viết đương thời cũng như sau đó với những quan điểm khác nhau về nguồn gốc và niên đại của riêng hầm mộ hay cả quần thể kiến trúc cự thạch. Nhìn chung, suốt nửa đầu thế kỷ này, với nhiều khám phá đáng lưu ý trên toàn vùng, các cuộc khai quật về thực chất mang tính chất nghiệp dư và thiếu vắng các tài liệu thực địa cơ bản. Trong quan niệm chung của giới nghiên cứu Pháp và Châu Âu, miền đất này chỉ tồn tại những di tích Đá mới có tuổi vài thế kỷ trước Công nguyên (tr.CN) và các di tích Cù Lao Rùa (Việt Nam), Som Rong Sen - Mlu Prey (Cambodia) là tiêu biểu cho diện mạo văn hóa nguyên thủy của cả vùng Đông Nam Dương.

Giai đoạn ba trong sự phát triển của Khảo cổ học thời tiền sử - sơ sử Đồng Nai bắt đầu từ đầu thập kỷ 60, mà công lao khám phá và nghiên cứu thuộc về các thành viên chủ lực của Hội Địa chất Đông Dương: E. Saurin và F. Fontaine. Những phát hiện của các nhà nghiên cứu có khả năng “lấp” chỗ trống trong tri thức về các kỹ nghệ Đá cũ thời Pleistocène Trung và Thượng tồn tại trên 3 bậc thềm cổ của sông Mékong trong phạm vi Đồng Nai (Việt Nam) và Campuchia. Bằng chứng là người ta đã tìm thấy những công cụ ghè đẽo 2 mặt giống rìu tay kiểu Asen ở Ấn Độ ghi nhận ở Hàng Gòn 6 và Dầu Giây mà niên đại ước định 70 - 60 vạn năm thuộc sơ kỳ Đá cũ tương đương với tuổi Núi Đọ. Bên cạnh các di chỉ thời đá cũ, 7 di chỉ thời kim khí xung quanh mộ đá Hàng Gòn được E. Saurin khám phá, mà quan trọng nhất là những dấu tích xỉ đồng cùng khuôn đúc sa thạch đã xác nhận sự tồn tại nghề luyện kim đồng thau bản địa trong tầng văn hóa ở độ sâu 0,51 m của Hàng Gòn 1 (hay Núi Gốm) (E. Saurin từ năm 1963 đến năm 1971). Với H. Fontaine (từ năm 1970 đến năm 1975), một loạt di tích ở hạ lưu sông Đồng Nai được khám phá với những sưu tập di vật thời tiền sử khá đồ sộ và hiếm có ở khu vực. Đặc biệt, qua nhiều lần khảo sát Phước Tân, H. Fontaine và cộng sự đã thu nhặt được 1214 di vật đá, gốm và trên cơ sở đó, đã đề xuất tên gọi “Văn hóa Phước Tân” cho tập hợp di tích hiện biết ở cả vùng với khung niên đại hậu kỳ Đá mới - sơ kỳ Đồng thau.

Lần đầu tiên ở Đồng Nai, một số di tích đã được giám định niên đại C14 tại các trung tâm nghiên cứu phóng xạ hạt nhân Saclay, gif - sur - Yvette, Monaco (Pháp), kết quả như sau: Hàng Gòn 1 (cách nay 3950 ± 250), Bến Đò (3040 ± 140; 3000 ± 110), Rạch Núi (2400 ± 100), Cù Lao Rùa (2230 ± 100), hai di tích mộ chum quan trọng nhất thời sơ kỳ sắt ở Xuân Lộc - Phú Hòa (2590 ± 290, 2400 ± 100) và Hàng Gòn 9 (2300; 2190; 2100 ± 150).

Với những khám phá như trên, theo chúng tôi việc phát hiện Núi Gốm và cụm di tích mộ bằng quan tài gốm Xuân Lộc, là những đóng góp lớn nhất cho Khảo cổ học tiền sử - sơ sử Đồng Nai tính đến thời điểm này, vì rằng đó là những dẫn liệu rất quan trọng xác nhận niên đại sớm của sự xuất hiện kỹ nghệ đúc đồng - rèn sắt của cả Đông Nam Á đương thời.

Nhìn chung, trải qua ba giai đoạn với non thế kỷ tìm kiếm, khám phá, các nhà khoa học Pháp đã phát hiện 2 địa điểm Đá cũ sơ kỳ, 20 di chỉ - mộ táng thời đại kim khí và định vị 30 điểm có cổ vật tiền sử ở lưu vực sông Đồng Nai. Đương nhiên, khả năng nghiên cứu văn hóa cổ Đồng Nai còn nhiều hạn chế, bởi còn khuyết vắng các công trình chuyên khảo về quá trình hình thành và phát sinh văn hóa tiền sử - sơ sử của vùng đất này. Như vậy, có thể nói, cho đến trước năm 1975, việc khảo cứu về xã hội nguyên thủy nói chung và văn hóa vật chất ở lưu vực sông Đồng Nai nói riêng như là một hiện tượng lịch sử về cơ bản không được khả thi. Sau khi cùng H. Fontaine thăm di chỉ Bến Đò 1974, nhà khảo cổ học Úc P. Bellwood (1978) nhận xét rằng: “Các cuộc khai quật ở những di chỉ vùng châu thổ Mekong có thể đem lại kết quả hết sức thú vị, còn giờ đây chỉ có thể khẳng định được rằng chúng ta còn biết rất ít về sự phát triển của các thời đại Đá mới và Kim khí ở một trong những vùng đất phì nhiêu nhất Đông Nam Á”.

Giai đoạn khám phá thứ tư khởi đầu từ sau ngày giải phóng miền Nam đến nay. Ngay sau 30 - 4 - 1975, các nhà khảo cổ học Việt Nam thuộc nhiều cơ quan nghiên cứu, phối hợp với cán bộ bảo tàng Đồng Nai cùng giới khoa học của các ngành hữu quan từng bước triển khai các chương trình điền dã - khảo cứu một cách có hệ thống miền đất này mà những nỗ lực tìm tòi buổi đầu chủ yếu hướng về thời đại sơ kỳ Đá cũ ở Đồng Nai. Kết quả là các di tích Hàng Gòn 6 và Dầu Giây 2 được kiểm chứng nhiều lần và các điểm có di vật với đặc trưng kỹ thuật thuộc thời Đá cũ được ghi nhận thêm ở chính địa bàn Xuân Lộc - Long Khánh (Cẩm Tiêm, Núi Đất, Suối Đá, Bình Lộc, Bình Xuân), ở Thống Nhất (Gia Tân 2 hay Dốc Mơ), ở Tân Phú (Phú Quý). Sự tồn tại của một nền văn hóa sơ kỳ Đá cũ đang được giới khoa học tiếp tục xem xét, kiếm tìm và khẳng định; bên cạnh đó, những dấu tích đầu tiên về các giai đoạn chuyển tiếp Đá cũ - Đá mới và Đá mới được ghi nhận trong địa tầng Hàng Gòn 7B thuộc Xuân Lộc - Long Khánh hay trong lòng đất Gò Cây Cuôi (Vĩnh Cửu) với những dấu ấn rõ ràng của kỹ nghệ cuội gia công (galets aménages) báo hiệu tiềm năng của Khảo cổ học thời đại Đá còn tiềm ẩn trong lòng đất Đồng Nai từ hàng vạn năm về trước.

Khám phá có tính ấn tượng ở chặng đường nghiên cứu này tại khu vực Đồng Nai là những di tích liên quan đến thời đại kim khí. Các di tích như: Núi Gốm, Gò Đá, Hưng Thịnh, Bình Xuân, Đồi Mít, Đồi Xoài, Phú Hòa, Gò Me, Võ Dõng, Suối Rết, Lòng hồ Trị An, Đại An, Trảng Quân, Cái Lăng, Rạch Lá v.v... Với việc khai quật hàng loạt di tích như trên đã góp phần cung cấp các sưu tập hiện vật làm chuẩn cho việc quy chiếu với các phát hiện ngẫu nhiên trong quá khứ, đặt cơ sở cho việc hệ thống toàn bộ tư liệu vật chất từ hàng trăm di chỉ cùng thời đại và xác nhận rõ ràng các giai đoạn phát triển của truyền thống văn hóa bản địa suốt hai Thiên niên kỷ tr.CN. Tiếp đến là các cuộc khai quật được thực hiện ở các di tích Cầu Sắt (1976), Suối Linh (1985), Rạch Núi (1977), An Sơn (1977, 1997), Bến Đò (1978, 1997), Bình Đa (1979, 1993), Cái Vạn (1978, 1996), Dốc Chùa (1976, 1977, 1979), Bưng Bạc (1986, 1994), Bưng Thơm (1997), Suối Chồn (1978, 1979), Hàng Gòn 7B (1996) v.v... và việc phát hiện - phúc tra - khai đào, nghiên cứu nhiều địa điểm thuộc văn hóa Đồng Nai, cùng với 2 sưu tập tiền sử - sơ sử được nhận biết ở Việt Nam (di chỉ cư trú ngoài trời và trên nhà sàn, mộ đất, mộ chum vò, mộ đá, xưởng thủ công đơn hay đa ngành nghề, kho tàng, bếp nguyên thủy sinh hoạt cộng đồng v.v...) đều là những cơ sở khoa học để nghiên cứu thời đại kim khí ở Đồng Nai.

 Chủ nhân đích thực của văn hóa Đồng Nai được nhận dạng qua nhiều di cốt người xưa, đặc biệt cốt sọ, được tìm thấy trong tầng văn hóa của các di chỉ (An Sơn, Gò Rạch Rừng, Lộc Giang), hoặc trong số đồ tùy táng (vũ khí - trang sức - đồ dùng săn bắn, đá quý hoặc đất nung) bên ngoài hay trong lòng chum vò gốm giống Xuân Lộc nơi rừng sác cận biển (Giồng Phệt, Giồng Cá Vồ). Mặc dù có ý kiến cho rằng thành phần nhân chủng của họ qua số đo giám định là loại hình Mongoloid, hoặc “Thượng cổ” (gần giống Mélanésien) hay Indonésien, song, vấn đề trên vẫn cần có sự bàn bạc và trao đổi thêm.

 Các hội nghị khoa học, hoạt động trưng bày của bảo tàng, các chương trình nghiên cứu cấp tỉnh và cấp bộ trong việc hợp tác khai quật - nghiên cứu - giám định - công bố đã ghi nhận từng bước đi lên của Khảo cổ học tiền sử - sơ sử Đồng Nai. Các chuyên khảo, luận án Phó tiến sĩ khoa học lịch sử về các khu vực văn hóa Đồng Nai, về Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh (Lê Xuân Diệm cb.1991; Đặng Văn Thắng 1992), về cả Phức hệ văn hóa tiền sử - sơ sử Đồng Nai (Phạm Đức Mạnh 1991), về một giai đoạn phát triển cụ thể (Bùi Chí Hoàng 1994), về một ngành thủ công cụ thể (Nguyễn Giang Hải 1997) hay về một loại hình di tích cụ thể (Nguyễn Thị Hậu 1997) được bảo vệ thành công tại TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội và Leningrad. Các chuyên khảo về di tích - di vật tiêu biểu của văn hóa Đồng Nai đã được công bố. Các phân tích mẫu vật đá, đồng, gốm và bào tử phấn hoa bằng các phương pháp khoa học tự nhiên thực thi trong nhiều cơ quan khoa học ở Việt Nam (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh) và nước ngoài (Moscow, Baku, Tokyo). Các kết quả giám định C14 đã nhận được từ các phòng phân tích phóng xạ hạt nhân ở TP. Hồ Chí Minh, Bắc Kinh, Berlin và Leningrad: Bình Đa (3180 ± 50), An Sơn (2885 ± 60; 2775 ± 50), Dốc Chùa (2990 ± 105), sau khi điều chỉnh theo vòng cây mẫu cho niên đại (3145 ± 130 - Bắc Kinh; 2495 ± 50 - Berlin), Bưng Bạc (3080; 3010; 2770; 2640; 2310 ± 40 - Leningrad, 2570 ± 100; 2450; 2376 ± 40; 2505 ± 55; 2470 ± 70 – TP. Hồ Chí Minh), Lộc Giang (3950 ± 75; 1490 ± 50); Giồng Cá Vồ (2480 ± 50); Cái Vạn (3360 ± 80; 3195 ± 70); Cái Lăng (3260 ± 70); Rạch Lá (3100 ± 60), Hàng Gòn 7B (2720; 2590; 2570; 2220 ± 50) và Phú Chánh (2100 ± 40).

Tất cả kết quả khai quật - nghiên cứu - giám định mới minh chứng về sự hiện diện thực tế ở đây một truyền thống văn hóa tiền sử - sơ sử riêng biệt ngày càng được nhiều nhà khoa học gọi bằng tên dòng sông huyết mạch của lưu vực: “Văn hóa Đồng Nai” hay “Phức hệ văn hóa Đồng Nai” thay thế và hàm chứa mọi tên gọi: “Phước Tân”, “Bến Đò”, “Cù Lao Rùa”, “Cầu Sắt”, “Rạch Núi”, “Dốc Chùa”, “Phú Hòa”, “Giồng Phệt” (hay “Cần Giờ”) của dĩ vãng. Đó còn là những nguồn liệu vật chất nền tảng của công cuộc nghiên cứu kinh tế và văn hóa biến diễn trong giao lưu và hội tụ - kết tinh để tạo hình bản sắc với nhiều nét đặc thù của xã hội cổ Đồng Nai - điều chưa thể nhận biết trước 1975. Trong tình hình hiểu biết hiện nay, đã có thể phác họa bức tranh tiền sử - sơ sử Đồng Nai với sự hiện diện ngày càng nhiều những dấu tích đáng tin cậy về hoạt động của con người thuở sơ khai từ Đá cũ sơ kỳ sang Đá mới. Sự hình thành và phát triển của một trung tâm văn hóa - kỹ thuật bản địa thời kim khí đặc sắc như một hiện tượng lịch sử đặc thù trên tất cả các phân vùng cơ bản nhất: đồi gò đất đỏ basalte thuộc các cao trình, đồng bằng châu thổ miền hạ lưu và vùng ven những rừng sác và vùng đầm lầy cận biển. Đã có nhu cầu và đã có điều kiện cần và đủ để định vị phức hợp văn hóa nguyên thủy độc đáo này từ buổi sơ khai đến thời điểm lịch sử vượt qua “ngưỡng cửa” của văn minh, trong không gian phẳng và trong thời gian, từng bước soi rọi những bí ẩn của quá khứ tiền sử Đồng Nai.



([1][1]) Biên Hoà cũ gồm toàn bộ tỉnh Đồng Nai, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, tỉnh Bình Phước, một số huyện của tỉnh Bình Dương, một số quận của Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.

Comments