2. Những dấu tích hoạt động của con người thời đại đá ở Đồng Nai

II. NHỮNG DẤU TÍCH HOẠT ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI THỜI ĐẠI ĐÁ Ở ĐỒNG NAI:

Thời đại Đá cũ ở Đồng Nai gắn liền với địa danh Xuân Lộc. Trong các tư liệu khảo cổ học, khái niệm “Đá cũ Xuân Lộc” ban đầu để chỉ các công cụ do E. Saurin khám phá ở Hàng Gòn 6 và Dầu Giây 2.

Di tích Hàng Gòn 6 thuộc ấp Lò Than, xã Thới Giao (sau là xã Xuân Tân), nằm cách Xuân Lộc 7 km về phía Nam và cách núi Cẩm Tiêm 3,5 km về phía Bắc được E. Saurin phát hiện vào những năm 1966 - 1968 và công bố đầy đủ vào năm 1971 dưới nhiều tên gọi khác nhau (Đồi 275, Lò Than, Nhân Gia, Nhân Nghĩa, Sáu Lé). Công cụ do ông tìm ra trong lớp đất đỏ sâu 40 cm của bậc thềm cổ cao 35 - 40 cm so với suối Lét, bao gồm: 3 rìu tay (có chiếc được coi là rìu tay A Sơn điển hình), 5 công cụ thô có 3 mặt (có chiếc mang đặc điểm Abbeville - A Sơn), 3 công cụ nhiều mặt, 1 công cụ hình rìu, 1 mũi nhọn có đốc cầm, 1 nạo và một số hòn ném. Căn cứ vào loại hình di vật và địa mạo, E. Saurin xếp Hàng Gòn 6 vào giai đoạn A Sơn sớm, sau 65 vạn năm cách nay, tương ứng với bậc thềm 40 - 50 m của sông Mékong ở Đông Nam Campuchia, ngang với thời kỳ băng hà mindel hoặc đầu gian băng Mindel - Riss ở Châu Âu. Theo một số nhà nghiên cứu, những phát hiện của E. Saurin và sưu tập 4 mảnh tước thu thêm những năm 1977 - 1978 ở Hàng Gòn 6, cùng với di tích Núi Đọ, đã mở rộng khu vực phát triển của “văn hóa Rìu tay” hay “văn hóa công cụ có 2 mặt” từng tồn tại ở Châu Âu, Châu Phi, Tiểu Á, Ấn Độ về phía Đông. Mặt khác, Hàng Gòn 6 với đặc điểm kỹ thuật chế tác đá Clacton - Levallois và những rìu tay hình hạnh nhân giống công cụ của nhóm người vượn sơ kỳ Đá cũ sinh sống ở Patjitan (Indonesia) và với các dấu ấn “văn hóa hạch cuội” vốn phổ cập ở Đông Nam Á, có thể có niên đại A - Sơn sớm (hay Ableville) - A - Sơn muộn, khoảng 60 vạn năm trước đây.

Ở Dầu Giây 2 ven Quốc lộ 1, thuộc địa phận giáp ranh 2 huyện Thống Nhất - Xuân Lộc (nay là huyện Long Khánh), E. Saurin đã tìm thấy vào năm 1968 4 di vật ven bờ suối dốc, thấp hơn bề mặt vùng đất đỏ khoảng 15m, bao gồm: 1 rìu tay hình hạnh nhân, 2 nạo, 1 mũi nhọn mang đặc điểm kỹ thuật A Sơn muộn.

Từ sau năm 1975, Bảo tàng Đồng Nai cùng Trung tâm Khảo cổ học (KCH) - Viện KCH, Đoàn Địa chất 500 đã nhiều lần tổ chức điều tra khảo sát vùng này và phát hiện thêm nhiều công cụ ở Núi Đất (1 công cụ mảnh tước, 1 công cụ hình rìu, 1 công cụ 2 mặt kiểu A Sơn sớm), Cẩm Tiêm (3 hạch đá giống nạo hay công cụ chặt đập), Suối Đá (Gia Liêu) (1 công cụ chặt thô có mũi nhọn, 1 mảnh tước, 1 vuốt động vật hóa thạch), Bình Lộc (1 công cụ hạnh nhân giống rìu tay A Sơn), Bình Xuân 2 (1 công cụ hạnh nhân tương ứng thời A Sơn muộn) thuộc vùng Xuân Lộc - Long Khánh; và Dốc Mơ (Gia Tân 2) (1 hạch đá giống bôn tay, 1 rìu tay hạnh nhân thể hiện những đặc trưng thời trung kỳ A Sơn vào cuối gian băng Mindel - Riss khoảng 30 - 25 vạn năm) ở Thống Nhất; cùng Phú Quý (1 công cụ hình dĩa, 1 mảnh tước gia công có thể thuộc thời A Sơn muộn) ở Tân Phú và Rạch Bà Giá (3 công cụ ghè với 1 chiếc mang đặc trưng công cụ hình rìu A Sơn muộn ở Vĩnh Cửu).

Nhìn chung, các đặc điểm này đều thuộc miền địa hình đồi gò đất đỏ basalte, vùng có nhiều ngọn núi lửa cổ, bề mặt không bằng phẳng (cao 150200 m), với nhiều đỉnh núi lửa có miệng gần bầu dục còn sót lại và vết tích những dòng dung nham (dày 815 m) chạy dài xen cắt nhiều nhánh suối và các rãnh xâm thực khá sâu (1015 m). Căn cứ vào niên đại của tectit, các nhà địa chất đã định tuổi bazan ở Xuân Lộc khoảng trên 64 vạn năm cách nay. Tất cả công cụ ở Xuân Lộc nhặt được trên bề mặt đều có dung nham này, được xác định có tuổi A Sơn từ sớm (Hàng Gòn 6, Núi Đất, Dốc Mơ, Suối Đá) đến muộn (Dầu Giây 2, Bình Lộc, Bình Xuân 2, Cẩm Tiêm, Phú Quý), tương ứng với thời kỳ gian băng Mindel - Riss đến đầu gián băng Riss - Wurm ở Châu Âu, với niên đại chung được nhiều người thừa nhận từ 60 vạn đến 25 vạn năm cách ngày nay. Trong các địa điểm này, các nhà khoa học thu được 35 công cụ ghè đẽo mang những dấu ấn kỹ thuật chế tác và loại hình nguyên thủy, không tính một số hòn ném với đường kính trung bình 8 - 10 cm ở Hàng Gòn 6 và một số hạch đá giống “bôn tay” ở Dốc Mơ. Chúng đều được làm từ đá bazan - dạng nguyên liệu phổ biến trong vùng, với đặc tính nhiều khe nứt nguyên sinh cứng nhưng giòn và dễ chế tác thành công cụ. Về loại hình, chúng bao gồm 7 rìu tay, 4 công cụ tam diện, 3 công cụ đa diện, 4 nạo, 3 mũi nhọn, 1 công cụ hình dĩa, 6 mảnh tước, 3 hạch đá, phần lớn thu thập ở Hàng Gòn 6 (18 tiêu bản), Dầu Giây 2 (4 tiêu bản) và Núi Đất (3 tiêu bản). Các địa điểm còn lại chỉ có 1 - 2 tiêu bản.

Dù chưa ghi nhận trong địa tầng văn hóa khảo cổ học và chưa thấy kèm theo các di tích cổ nhân - cổ sinh tương ứng, nhiều tiêu bản Xuân Lộc, đặc biệt rìu tay và công cụ dạng rìu được nhiều nhà khoa học Việt Nam và nước ngoài nhiều kinh nghiệm nghiên cứu thừa nhận là sản phẩm đích thực của bàn tay người vượn tối cổ tụ cư trên miền đồi gò bán bình nguyên đất đỏ basalte thuộc Đồng Nai và miền Đông Nam Bộ, gần như đồng thời với các nhóm người vượn Lạng Sơn với những di vật gồm (10 răng hàm, răng nanh người với một số đặc điểm hình thái tiến bộ gần răng Homo Sapiens giống răng người vượn Bắc Kinh, cùng di cốt hóa thạch gấu tre, voi răng kiểm, đười ươi lùn, vượn khổng lồ, hổ, báo sao, lợn rừng, khỉ, nhím) tụ cư trong các hang động đá vôi Thẩm Khuyến, Thẩm Hai - Bình Gia vùng cao phía Bắc và người vượn Thanh Hóa miền châu thổ đồng bằng ngã ba sông Mã - sông Chu. Cuộc sống của những người vượn tối cổ nhiều chục vạn năm trong những cánh rừng già nguyên sinh và những bậc thềm dung nham đất đỏ Đồng Nai có thể đã là cuộc sống của những “bầy người đứng thẳng” (Homo erectus) khá phát triển (Hà Văn Tấn 1977). Đó là cuộc sống còn hoang sơ nguyên thủy nhưng là dạng sống của một xã hội người thời Cánh Tân, biết chế tạo rìu tay và công cụ hình rìu để chặt đập, nạo và công cụ mảnh tước để cắt khía, hay mũi nhọn và hòn ném sử dụng thường nhật trong săn bắn và hái lượm. Có thể đấy cũng là một xã hội người đã biết dựng lều để náu mình qua những cơn mưa rừng nhiệt đới, đã biết đến sáng tạo kỳ diệu của đồng loại - lửa để nướng chín thức ăn, phát quang rừng rậm và xua đuổi thú dữ quanh những mái lều nguyên thủy. Trang sử mở đầu tiến trình chinh phục Đồng Nai ghi nhận sự thành hình truyền thống chế tác công cụ từ đá cuội basalte mà những hoạt động đầu tiên của xã hội người, Xuân Lộc tối cổ và truyền thống chế tác đá cuội của họ tiếp tục được duy trì trong các cộng đồng xã hội cổ Đồng Nai nhiều vạn năm sau, với những dấu tích đầu tiên của thời đoạn lịch sử quan trọng này ở toàn miền cao nguyên và châu thổ ven biển Đông phía Nam Việt Nam từng bước được chứng thực qua những sưu tập công cụ kiểu Sơn Vi (Đồi Báo Quốc - Huế, bình nguyên Cùa - Quảng Trị, Tà Lieng - Lâm Đồng, Gò Cây Cuôi - Đồng Nai), những công cụ mang dấu ấn kỹ thuật ghè đẽo Hòa Bình (Doãn Văn - Đắc Lắc, Bàu Dũ - Quảng Nam, Bàu Hòa - Bình Thuận, Đồi Ma - Lâm Đồng), công cụ mài lưỡi kiểu Bắc Sơn (Ndut Lieng Krak - Đắc Lắc, Bình Long - Bình Phước), sưu tập công cụ mảnh tước và cuội gia công Hàng Gòn 7B2 và cả những di vật mang dấu ấn Hòa Bình - Bắc Sơn ghi nhận trong di chỉ - mộ táng Suối Chồn thời sơ Sắt. Những bằng cớ mới ghi nhận hoạt động nguyên thủy của con người hậu kỳ Đá cũ sang Đá mới ở Đắc Lắc, Lâm Đồng, Bình Phước và Đồng Nai có thể được coi như là những vết tích đầu tiên và xa nhất của phức hợp văn hóa - kỹ nghệ gia công hạch cuội theo truyền thống Sơn Vi - Hòa Bình - Bắc Sơn - hậu Bắc Sơn về phía Nam Việt Nam.

 

Comments