3.1. Giai đoạn đá - đồng (cuối TNK III - đầu TNK II tr.CN)

III.1 Giai đoạn đá - đồng (cuối TNK III - đầu TNK II tr.CN):

Hiện nay, theo nhiều nhà khoa học, các di tích tiêu biểu cho giai đoạn khởi đầu của truyền thống văn hóa kim khí Đồng Nai ở cả miền Đông Nam Bộ chính là Cầu Sắt và Suối Linh.

Di chỉ Cầu Sắt (10000’40’’B - 107013’50’’Đ) nằm trên gò đất đỏ basalte ven bờ suối Săng Dốc, có độ cao tuyệt đối 100m, diện tích dàn trải tới hàng vạn m2, thuộc xã Bình Lộc, cách Xuân Lộc khoảng 10 km về phía Tây Bắc, được Bảo tàng Đồng Nai và Viện Khoa học - Xã hội (KH - XH) TP. Hồ Chí Minh phát hiện từ cuối 1975 và sau nhiều lần thám sát đã phối hợp với Viện KCH khai quật cuối 1976. Đây là một trong những di tích cư trú có mật độ công cụ sản xuất đá dày đặc. Trong tầng đất lưu giữ vết tích sinh hoạt vật chất (thường gọi là tầng văn hóa khảo cổ) dày chỉ 0,75 cm của 4 hố khai quật với tổng diện tích 320 m2, các nhà khảo cổ thu được tới 788 tiêu bản nâng tổng số di vật đã thu nhặt ở đây lên 840 chiếc gồm: 294 rìu bôn - cuốc hình tam giác hay tứ giác, hoặc có chuôi tra cán với đủ dạng vai, 76 đục, 4 dao và 50 dao gặt, 60 mũi nhọn, 1 chày nghiền hạt, 2 hòn kê, 15 hòn ghè, 269 bàn mài, 5 mảnh vòng, 2 cục thạch anh, 1 téctit. Nguyên liệu để chế tác công cụ chủ yếu là đá phiến biến chất và đá sừng hạt mịn, phủ lớp phong hóa màu xám xanh, ngả vàng hoặc đen. Gốm Cầu Sắt chế tạo bằng bàn xoay hay nặn bằng tay, thường trang trí hoa văn bằng các phương pháp đập - chải, lăn thừng hay khắc vạch. Chất liệu gốm phổ biến các loại trắng, đen, đỏ mịn hoặc thô, có thể nhận biết mảnh của các loại đồ đựng - ăn uống - đun nấu như nồi, vò bụng và đáy tròn, miệng loe, rộng 25 - 30 cm; bát có chân đế choãi, miệng loe rộng 20 cm; chậu hay bát có hình mâm bồng với chân đế cao hình ống trụ.... Gốm có hoa văn chỉ chiếm 16% tổng số 13.519 mảnh thu được.

Nhìn chung, sưu tập di vật Cầu Sắt mang đầy đủ đặc trưng của cuộc sống nông nghiệp bán sơn địa và săn bắn trong rừng rậm. Hàng trăm công cụ đá có hình dáng ổn định với lưỡi mài sắc bén là tư liệu lao động quan trọng từng được người xưa lắp cán để sử dụng chặt cây - phá rừng, chế tác nông cụ tre gỗ, cùng sưu tập lưỡi dao hái xác nhận phương thức thu hoạch cổ sơ nhất của nền nông nghiệp nương rẫy dùng cuốc - dao gặt trong miền đồi đất đỏ phì nhiêu của Đồng Nai xưa. Những người nông dân cư trú ở đây còn là những người thợ thủ công chuyên chế tác đồ đá và gốm cổ. Họ đã sử dụng thành thục những kỹ thuật cơ bản nhất của nghề sản xuất công cụ - trang sức đá như ghè, đẽo, đục, mài, cưa, khoan và cũng tinh thông những bí quyết làm gốm từ kỹ thuật khai thác - pha chế đất, tạo hình bằng bàn xoay, tạo văn bằng chải - đập, lăn thừng hay khắc vạch và nung chín gốm ở nhiệt độ cao để sáng tạo thành phẩm có hình dáng hài hòa và cân đối. Bên cạnh nền kinh tế sản xuất, dấu tích những mũi nhọn được coi là dùng tháp vào cán tre gỗ sử dụng trên cung nỏ còn gợi ý rằng săn bắt và hái lượm có thể hiện diện trong kinh tế khai thác sản vật của miền đồi rừng nhiệt đới Cầu Sắt xưa.

Cùng thời với Cầu Sắt, di chỉ Suối Linh nằm trên 1 dải đất phù sa sát bờ trái Sông Bé, ở cây số 11+ 400 của đường mở từ Hiếu Liêm (Vĩnh Cửu) đi Mã Đà, được cán bộ Đoàn địa chất 20B phát hiện cuối 1984, cán bộ Bảo tàng Đồng Nai, Trung tâm KCH và Trường đại học tổng hợp TP. Hồ Chí Minh khảo sát và khai quật đầu năm 1985 với 3 hố (96 m2) ở đỉnh đồi. Trong tầng văn hóa sâu 0,5 - 1,4 m, đã thu được tới 882 di vật đá (361 rìu bôn, 47 đục, 65 dao gặt các kiểu loại, 6 mảnh vòng, 409 bàn mài) và gần 3000 mảnh tước. Đồ gốm có 39 bàn xoa nguyên và 397 mảnh bàn xoa cùng 13.786 mảnh vỡ của đồ đựng và đun nấu phổ biến có miệng loe, hông đáy tròn kiểu nồi vò, với khoảng 14% có hoa văn chải, miết, in, khắc vạch và đắp nổi. Đây là vết tích của một làng cổ cư trú dài lâu với tính chất của một di tích công xưởng thủ công chuyên môn hóa chế tạo công cụ sản xuất - trang sức đá và đồ gốm. Tổ hợp công cụ lao động đá Suối Linh với các đặc trưng lớn: tính chất đa dạng trong loại hình công cụ, nhất là công cụ thủ công kiểu đục và dao gặt, cùng khối lượng lớn của phác vật đá, bàn mài, mảnh tước minh chứng sự hiện diện một công xưởng chế tác đá với qui mô còn lớn hơn Cầu Sắt. Ngoài ra, ở đây người thợ còn chuyên sản xuất bàn xoa gốm và rất có thể trao đổi thành phẩm này cho các khu vực khác, mà có học giả đã coi di chỉ - xưởng Suối Linh có vai trò như là “nhà máy công cụ” cung cấp tư liệu sản xuất cho cộng đồng tộc người Đồng Nai thuở ấy. Bên cạnh tổ hợp gốm khẳng định sự tiến bộ hơn Cầu Sắt và gần gũi với gốm Bình Đa, Gò Đá, Cái Vạn về phương diện kỹ thuật tạo hình với sự trợ giúp của bàn xoay và bàn xoa hoặc về nghệ thuật tô điểm vật phẩm gốm giàu có, tinh tế, phức tạp hơn; tổ hợp đá Suối Linh cho ta biết sự tương đồng về kỹ thuật chế tác và hình loại công cụ lao động cơ bản với Cầu Sắt lớn hơn bất cứ di chỉ xưởng nào ở lưu vực hệ thống sông Đồng Nai, mà chính nhờ đó, Cầu Sắt (vùng đồi gò đất đỏ basalte) và Suối Linh (vùng đất phù sa ven hạ lưu hệ thống sông Bé - Đồng Nai) được coi như 2 di tích khảo cổ học tiêu biểu cho giai đoạn mở cửa truyền thống văn hóa - kỹ thuật chế tạo đá - gốm Đồng Nai vào thời đoạn giáp ranh giữa 2 TNK III - II tr.CN.

Comments