3.2. Giai đoạn đồng thau (đầu TNK II - đầu TNK I tr.CN)

III.2. Giai đoạn đồng thau (đầu TNK II - đầu TNK I tr.CN):

Số lượng di tích thuộc giai đoạn này được định vị khá nhiều: 91 điểm, theo địa giới huyện - thành hiện tại, phân bố nhiều nhất ở Vĩnh Cửu - Thống Nhất (30 điểm) và Xuân Lộc - Long Khánh (18 điểm). Ngoài ra, Biên Hòa (8 điểm), Tân Phú - Định Quán (16 điểm) và Long Thành - Nhơn Trạch (18 điểm) (Bảng II).

Tuy nhiên, hiện tại việc khai quật và thám sát trên qui mô lớn còn rất ít. Ở đây, chỉ giới thiệu những di tích được nghiên cứu tốt nhất và chứa đựng những di tích văn hóa cổ được xem là đặc sắc nhất thuộc giai đoạn lịch sử quan trọng này.

- Tại vùng đồi đất đỏ basalte thuộc địa phận Xuân Lộc - Long Khánh, cư dân Đồng Nai thời kỳ sau Cầu Sắt nối tiếp truyền thống lập làng trên sườn đồi - gò đất đỏ màu mỡ và thoáng mát ven bờ sông suối có nước chảy quanh năm, với những khu vực quần cư lớn, qui tụ nhiều di chỉ cư trú, mà dấu tích hiện còn cho phép xác lập qui mô từng làng không thua diện tích một làng Việt hiện tại: 1 - 2 ha. Trong khu vực đồn điền cao su Hàng Gòn xưa, E. Saurin từng khám phá nhiều di chỉ “làng” như vậy chỉ trong phạm vi 10 km2, với những dấu tích văn hóa cổ thu được khá giống nhau như cuốc, rìu - bôn hay đục tứ giác hoặc có vai, bàn mài, công cụ có lưỡi hay mũi nhọn, mảnh tước, thẻ đeo dạng bùa, vòng trang sức đá, đạn gốm hay mảnh nồi vò, cốc, bát bồng, nắp vung.... Quan trọng nhất trong cụm di chỉ này là Núi Gốm (hay Hàng Gòn 1).

Núi Gốm (12004’00’’B - 106051’08’’Đ) thuộc địa phận lô 72 - Công ty cao su Xuân Lộc, xã Xuân Tân, huyện Xuân Lộc (nay là huyện Long Khánh), cách thị trấn Xuân Lộc gần 10 km, do L. Malleret phát hiện khi quả đồi đất đỏ nằm kẹp giữa suối Râm và suối Sâu này bị san ủi trồng cao su vào năm 1960. Sau đó, E. Saurin điều tra ghi nhận dấu tích văn hóa cổ trải rộng 350 x 150 m trên sườn cao 250 m và khai quật khẩn cấp ở trung tâm đồi. Ông thu được 6 rìu tứ giác hay có vai và phế vật, 1 nạo, 1 công cụ hình nêm, 1 bàn nghiền, 1 chày nghiền, 11 bàn mài có rãnh và 4 khuôn đúc sa thạch để đúc rìu hay kim găm có vòng chuôi. Gốm ở đây được nung cứng chắc, có lớp áo mịn màu nâu đỏ, thường là mảnh của nồi, đĩa, bát, tô. Tác giả so sánh di vật Núi Gốm với Mlu Prey, Somrong Sen (Campuchia), Trấn Ninh (Lào), Sa Huỳnh và Đông Sơn, và đem phân tích một mẫu gốm trộn bã thực vật cháy thành than ở Trung tâm nghiên cứu hạt nhân Saclay thu kết quả niên đại: 3950 ± 250 năm cách nay. Sau 1975, cán bộ Bảo tàng Đồng Nai, Trung tâm KCH - Viện KCHVN và một số nhà khoa học Nhật Bản đã phúc tra nhiều lần Núi Gốm, thu thêm nhiều cổ vật đá (3 khuôn đúc rìu nguyên và bán thành phẩm, 8 rìu bôn tứ giác hay có vai, 1 đục, 1 dao, 2 bàn mài rãnh), 1 chì lưới bằng đất nung, 4 đạn gốm cùng một số mảnh của vò, bình hay đĩa nhỏ miệng loe rộng. Một số nhà nghiên cứu cho niên đại của Hàng Gòn 1 chỉ khoảng 3.000 năm khi so sánh khuôn đúc và gốm ở đây với Dầu Giây 1 hay Hàng Gòn 9; nhiều người khác lại ủng hộ niên đại cổ kính mà E. Saurin đã khẳng định.

Ngoài cụm di tích Hàng Gòn, trong vùng Xuân Lộc - Long Khánh còn ghi nhận cụm di chỉ xung quanh Cầu Sắt, thuộc địa phận Xuân Phú - Xuân Bình - Xuân Trường (Bình Xuân, Đồi Mít, Đồi Xoài, Dầu Giây 3, Tân Lập, Lập Thành, Sông Nhạn...). Phạm vi ở từng điểm di tích có khi dàn trải hầu khắp sườn đồi dốc thoải ven suối tới 1 - 3 ha (như suối Ba Gió ở Đồi Xoài, suối Kỳ Đà ở Đồi Mít) nhưng tích tụ không dày. Đáng kể nhất là tầng văn hóa trong 3 hố thám sát của Bảo tàng Đồng Nai, Trung tâm KCH và Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam từ 5 - 1979 ở Đồi Mít (Xuân Bình) sâu tới 1,25 - 1,4m. Ngay trên mặt các di chỉ, các nhà khảo cổ học và bảo tàng học đã thu lượm được khá nhiều vật dụng bằng đá - gốm quen thuộc của vùng này: 97 đồ đá với 64 cuốc, 3 đục, 27 bàn mài, 2 chày nghiền, 1 thẻ đeo và nhiều mảnh tước ở Đồi Mít; 65 đồ đá với 52 rìu bôn, 2 lưỡi mài có vai rất lớn, 5 đục, 4 dao hái và phế vật ở Bình Xuân; 3 rìu vai và tứ giác, 2 đục, 1 bàn nghiền ở Đồi Xoài; 6 cuốc - rìu bôn ở sông Nhạn, với nhiều mảnh vỡ của đồ dựng đặc trưng của người Đồng Nai. Niên đại chung cho toàn nhóm di tích này được ước đoán vào nửa đầu TNK II tr.CN.

- Trong địa phận liên huyện Tân Phú - Định Quán, các di chỉ khảo cổ phát hiện dọc 2 bờ Đồng Nai hoặc ven các dòng suối nhỏ (Lu, Rộp, Nhàn, Tre, Bưng...) thuộc thung lũng ở giữa những vành cung núi đồi đất đỏ basalte thuộc khu vực lòng hồ thủy điện Trị An nay đã bị ngập nước. Tại 11 địa điểm, các nhà khảo cổ học và bảo tàng học thu được 21 bôn rìu, 2 cuốc, 1 mũi nhọn, 12 bàn mài và 1 mảnh vòng tay... Vết tích gốm cổ tích tụ ở một số di chỉ rất mỏng (chỉ khoảng 0,2 - 0,5 m trong các hố thám sát ở Bến Nôm, Đồi Ba thuộc Phú Cường) minh chứng sự tồn tại, sinh sống của người cổ trong lòng thung lũng Trị An trong khoảng niên đại 4000 - 3000 năm về trước. Ngoài lòng hồ Trị An, di tích đáng chú ý là Phú Lộc, được phát hiện 1986, khi cán bộ Bảo tàng Đồng Nai và Trung tâm KCH - Viện KCHVN điều tra thám sát, ghi nhận tầng văn hóa dày 0,3 - 0,4 m; rộng khoảng 3 ha nằm dọc suối Hội và thu thập tới 4 cuốc lớn, 85 rìu bôn tứ giác hay có vai, 19 đục nguyên hay bể, 5 dao hái, 21 bàn mài với 4 dùng để mài vòng, 3 vòng đeo tay hoàn chỉnh hay bán thành phẩm. Di vật đá Phú Lộc khá giống với di vật Bình Xuân, Đồi Mít và Đồi Xoài, có khả năng thuộc thời kỳ kim khí sớm ở Đồng Nai.

- Trong địa phận liên huyện Vĩnh Cửu - Thống Nhất, ngoài các điểm thuộc phạm vi lòng hồ Trị An như đã trình bày (Bể áp Lực, Cây Gáo IIA, Đồi Đất Đỏ, Suối Bưng, Suối Nhàn, Suối Rộp, Suối Tre, Thác Dài, Thác Trau, Vàm Thơ, các di chỉ còn lại thường đều nằm trên sườn đồi gò liên kết đất đỏ basalte - phù sa cổ ven 2 bờ sông Bé - Đồng Nai và các chi lưu, hình thành truyền thống cư trú theo tuyến sông - suối, với những điều kiện thuận lợi hơn cho việc định cư dài ngày của người cổ. Bên cạnh những sưu tập di vật thu được ở Bàu Cá, Bình Đạt (Thiện Tân), Đại An, Gia Tân, Kiệm Tân, Long Ẩn, Lộ Đức II, Núi Cui, Sông Bé, Sông Ray, Xã Lộ 25 (cuốc, rìu bôn, đục, dao bằng đá, rìu đồng, gốm cổ); những di chỉ quan trọng cũng đã được khám phá dọc theo các triền sông Bé - sông Đồng Nai từ vị trí tiếp giáp vùng đất đỏ ở Thống Nhất và thác Trị An về vùng cửa sông Đồng Nai cổ (Hưng Thịnh, Võ Dõng, Sông Mây, Suối Rết, Trảng Quân hay Đồi Le, Đồi Phòng Không...).

Di chỉ Hưng Thịnh (10054’54’’B - 107008’56’’Đ) nằm ven rìa Nam đồi gần bờ trái suối Bí trong khu vực đồi rừng đất đỏ basalte phủ trên phù sa cổ là sét trắng pha cát xám, thuộc xã Hưng Lộc (Thống Nhất) cách Dầu Giây 3 km về phía Nam. Di chỉ được ông Nguyễn Văn Tô phát hiện từ 11 - 1977, và qua 2 đợt điều tra của Trung tâm KCH, Bảo tàng Đồng Nai, Viện BTLSVN 1 - 1978, đã ghi nhận 2 khu vực cư trú cổ cách nhau 150m với một khu có diện tích 100 x 20 m = 2000 m2 và tầng văn hóa sâu 0,6 - 0,7 m và khu kia rộng 50 x 30 m = 1500 m2 ít gốm hơn nhưng có thể là nơi làm đồ đá. Di vật thu được 39 tiêu bản gồm: 17 rìu cuốc có vai, 2 mũi nhọn, 1 dao hái, 1 vật hình đĩa, 18 bàn mài, nhiều mảnh tước và gốm vỡ. Ngoài đặc trưng riêng (rìu cuốc 1 vai, gốm pha bột đá), Hưng Thịnh gần gũi với các di tích Đồng Nai khác về kỹ thuật chế tạo và loại hình di vật, có thể tồn tại tương đương với Núi Gốm khoảng 4000 - 3500 năm cách nay.

Di chỉ Võ Dõng gần Dốc Mơ và đồi Kiệm Tân, thuộc xã Gia Tân (Thống Nhất) cũng phân bố thành 2 khu vực, cách nhau khoảng 500m dọc theo suối Rừng, do các sinh viên địa chất phát hiện từ 11 - 1983, cán bộ Bảo tàng Đồng Nai và Trung tâm KCH điều tra thám sát 4 - 1984 và thu được 6 rìu bôn, 3 đục, 5 bàn mài, 1 chày nghiền, 2 mảnh vòng tay, đặc biệt có cả 1 khuôn đúc rìu bằng sa thạch và 1 rìu đồng cùng kiểu cỡ. Di chỉ có niên đại khoảng cuối TNK II - đầu TNK I tr.CN.

Di chỉ Suối Rết cũng là khu vực cư trú rất rộng lớn, trải dọc từ suối Trầu đến ấp Trung Tâm gồm khu Tân Lập và Nông trường Z302, cách thị xã Trảng Bom 9 - 10 km. Phía Bắc Suối Rết, cán bộ Bảo tàng Đồng Nai và Trung tâm KCH qua 2 lần khảo sát 1983 - 1984 phát hiện 1 cuốc, 16 rìu bôn, 4 đục, 1 chày nghiền, 5 bàn mài và nhiều gốm thô. Tại Nam Suối Rết (cách di chỉ trên 2,5 km) trong diện tích cư trú tới 6 ha, các nhà khoa học đào 4 hố thám sát cách nhau 520 m và phát hiện trong tầng cư trú cổ dày 0,6 - 0,8m sưu tập di vật gồm: 26 rìu bôn nguyên hay phế vật, 3 đục, 5 mảnh tước, 1 hòn ghè, 1 chày nghiền, 24 bàn mài, 2 phác vật khuôn đúc bằng sa thạch, cùng nhiều gốm thô giống với điểm trên.

Địa điểm Sông Mây thuộc địa phận xã Hố Nai, có địa hình bề mặt lồi lõm bởi nhiều đá cục basalte, với hệ thống đồi núi thấp bao bọc xung quanh. Đây là khu vực hợp lưu nhiều suối nhỏ đổ về 1 nhánh của sông Đồng Nai là Rạch Đông, cách ngã ba suối Lạnh 1,5 km và cách Bùi Chu 8 km về phía Tây Bắc. Di tích do ông Vũ Đức Thành (Sở thủy lợi Đồng Nai) phát hiện và cán bộ Bảo tàng Đồng Nai, Trung tâm KCH khảo sát 4 - 1983. Dưới lớp phù sa mới là tầng văn hóa cổ sâu 0,7 - 1,5 m bị hủy hoại nhiều do công trình thủy lợi Sông Mây, di vật chỉ còn: 1 cuốc, 8 rìu bôn có chuôi, 1 đục lưỡi thẳng.

Di tích Trảng Quân (Đồi Le) nằm trên sườn đồi thấp ven bờ tả ngạn Đồng Nai, gần đối diện với Dốc Chùa bên bờ hữu ngạn, diện tích khoảng 200 x 50 m = 1000 m2, cách UBND xã Tân An (Vĩnh Cửu) 6 km về phía Đông Nam, do ông Trần Thanh Long phát hiện 4 - 1996 và tặng Bảo tàng Đồng Nai 25 rìu, đục, dao đá, bàn xoa gốm cùng vài mẫu chân đầu hóa thạch. Từ 5 - 1996 đến 3 - 1997, cán bộ Bảo tàng Đồng Nai, Trung tâm KCH, Trường Đại học KHXH và NV Hà Nội đã tiến hành điều tra 3 lần và thu thập thêm: 61 rìu bôn, 37 đục, 3 dao hái, 2 chày nghiền, 97 mảnh tước, 61 đá phế liệu và phế liệu công cụ, 30 bàn mài với đầu sử dụng lõm 1 - 4 mặt, đặc biệt có cả 5 khuôn đúc rìu có họng tra cán với 2 đường trang trí ngang thân (1 chiếc còn đang đục để tạo vật đúc dang dở). Đồ gốm có: 22 bàn xoa hình nấm với núm cầm đặc hay rỗng, 1 thỏi hình trụ, 1 mảng chân hỏa lò. Gốm vỡ Đồi Le rải khắp diện rộng 3 ha rất giống gốm Suối Linh, Bình Đa. Đây là 1 di chỉ - xưởng thủ công quan trọng, với hiện vật hiện có và tư liệu địa tầng sẽ làm cơ sở cho việc làm sáng tỏ vấn đề niên đại của Cầu Sắt, Suối Linh và các di tích ở nửa đầu TNK II tr.CN.

Di tích Đồi Phòng Không nằm trên đỉnh đồi cao gần ngã ba sông Bé - Đồng Nai, thuộc địa phận Lâm trường Hiếu Liêm, Vĩnh Cửu, do cán bộ Trung tâm KCH, Bảo tàng Đồng Nai, Trường đại học tổng hợp TP.H CM phát hiện 3 - 1985. Trên bề mặt đồi đã bị san ủi lớp phủ thực vật, đoàn khảo sát thu nhặt 18 phác vật vòng hình đĩa, 10 phác vật khoan dở và 55 lõi vòng các cỡ. Đây là di tích có tầm quan trọng đặc biệt mang tính chất 1 công xưởng chuyên chế tạo 1 loại sản phẩm duy nhất là vòng đeo tay với quy trình công nghệ sản xuất thủ công bằng kỹ thuật khoan tách lõi từ 1 - 2 mặt tiến bộ lúc đương thời. Công xưởng tiền sử này đã được đoán định niên đại vào khoảng 2500 năm hoặc nửa đầu TNK I tr.CN.

 - Trong khu vực thành phố Biên Hòa, khá nhiều di vật tiền sử được sưu tầm liên quan đến các địa điểm Lò Gạch, Núi Đất, Núi Gò Giấy, Tam Hiệp, An Hưng, Bến Gỗ... mà có thể một số năm trong các sưu tập mang tên Biên Hòa, hiện còn tàng trữ tại các bảo tàng ở Việt Nam và Pháp (Toulouse, Saint Gremain - en - Laye, Cernuschi). Các sưu tập do nhiều người Pháp (D. Grossin, Loesh, F.Bathère, J.Chénieux, L.Malleret, O.Jansé, G. Dumoutier, H. Maspéro, Beylié...) sưu tầm ở Biên Hòa còn rất nhiều: Ở Hà Nội có 129 rìu bôn, 1 mai, 13 đục, 1 dùi, 1dao, 2 vòng, 1 bàn mài; Ở TP. HCM có 56 cuốc các loại, được coi có hình loại gần gũi với Núi Gốm, thuộc sơ kỳ thời đại đồng thau, khoảng 3500 năm cách nay. Các di chỉ được khảo cứu tốt nhất ở Biên Hòa là Bình Đa, Gò Me và Cù Lao Phố.

Cù Lao Phố là tên gọi 1 cù lao lớn giữa sông Đồng Nai ở Tây Nam Biên Hòa, trước thuộc tổng Phước Vĩnh thượng, nay là xã Hiệp Hòa, được biết đến từ khi L. Malleret chuyển cho Bảo tàng Sài Gòn 2 rìu đá do nhân dân ấp Bình Hòa tặng ông. Sau 1975, cán bộ Bảo tàng Đồng Nai và Trung tâm KCH nhiều lần điều tra, thẩm định các phát hiện của nhân dân trên Cù Lao Phố, thu thêm 2 rìu đá và ít gốm thô. Đặc biệt, 10 - 1984, nhân dân ấp Nhị Hòa đào đất trồng cây phát hiện 1 vò gốm đáy tròn có chứa 3 rìu đồng lưỡi rộng có trang trí 1 - 2 chỉ ngang thân. Cả 3 rìu đồng được Nguyễn Duy Tỳ (TTKCH) phân tích tại Phòng Kỹ thuật KCH, Viện sử học thuộc Viện hàn lâm khoa học Adecbaigian cho kết quả: Cu+Sn; Chúng mang đặc trưng rìu Đồng Nai, nhưng chiều rộng bản lưỡi là nét độc đáo của riêng Cù Lao Phố, niên đại có thể giữa TNK I tr.CN ?

Di tích Gò Me (10057’00’B - 106050’33’’Đ) thuộc phường Thống Nhất, cách Biên Hòa 1 km về phía Đông Nam, do ông Trần Hiếu Thuận phát hiện cuối 1981. Trong các đợt điều tra 1982 - 1984 của Bảo tàng Đồng Nai, Trung tâm KCH, Trường đại học tổng hợp TP. HCM, các nhà khoa học đào 5 hố thám sát và trong tầng văn hóa dày 0,4 - 0,5 m, họ thu được 55 đồ đá, gồm: 15 rìu bôn, 4 đục, 22 bàn mài, 11 mảnh tước, 2 mảnh vòng tay, 1 mảnh đàn đá giống Bình Đa (qui mô: 10x11x2,2cm). Đồ gốm có 1 dọi se sợi, 4 đạn, 1 chén rót đồng đáy tròn rất giống chén rót đồng Ban Nadi (Thái Lan) và 200 mảnh đồ đựng (có cả chân của mâm bồng). Gò Me được coi là di chỉ cư trú - xưởng thủ công gần gũi về loại hình di tích - di vật với các làng cổ Bình Đa và Dốc Chùa, với niên đại khoảng nửa cuối TNK II tr.CN.

Di chỉ Bình Đa (10056’06’’B - 106051’30’’Đ) nằm trên quả đồi thấp trải dài theo hướng Đông Tây, thuộc phường An Bình, cách Biên Hòa 4 km về Đông Nam, là 1 trong những di chỉ tiền sử phát hiện đầu tiên ở Nam Bộ. Ngay từ cuối thế kỷ XIX, E.T. Hamy cho biết Bình Đa thuộc tổng Phước Vĩnh Thượng là 1 trong 5 địa điểm mà J. Chénieux thu thập di vật và từ 1887 - 1914 đã tặng Bảo tàng L’Homme ở Paris 54 di vật đá. Di chỉ tái phát hiện 9 - 1979 khi Công ty vận tải Đồng Nai xây dựng bãi xe ở đây và sau đó, cán bộ Bảo tàng Đồng Nai và Trung tâm KCH 2 lần khai quật (12 - 1979 và 4 - 1993) với tổng diện tích 234 m2. Đây là một trong những khu cư trú cổ có qui mô lớn nhất và giàu di vật nhất trong toàn vùng châu thổ Đồng Nai xưa. Trong 2 tầng tích tụ liên tục hàng ngàn năm sâu tới 2,8 - 2,9 m; các nhà khoa học phát hiện hàng trăm cụm than tro - gốm - xương thú cháy dở - tàn tích của bếp lửa nguyên thủy, và thu thập hàng tấn vật dụng đủ loại chất liệu và công dụng.

Trong 1670 đồ đá có: 15 cuốc, 762 rìu bôn, 114 đục, 1 nạo, 7 dao, 1 binh khí mũi nhọn, 92 chày nghiền hạt, 251 bàn mài với 1 dùng mài vòng. Và 23 hiện vật chưa xác định. 7 mảnh vòng tay và phác vật, 295 mảnh tước và phế liệu, đặc biệt có tới 51 thanh đoạn đàn đá lần đầu tiên khám phá trong tầng văn hóa cổ xưa. Vật dụng đất nung gồm: 49 đạn, 101 gốm ghè tròn, 85 mảnh chân lò, 2 thỏi gốm có lỗ, 3 mảnh nồi, 1 bình hình con tiện, 2 hũ đáy bằng, 4 đĩa nông lòng cùng hàng trăm ngàn mảnh của đồ đựng - nung nấu - ăn uống, với không ít mảnh có gờ vai, văn khắc vạch hay tô màu đặc sắc của Bình Đa. Ngoài 1 đốt xương sống thú có khoan lỗ xõ dây đeo, tàn tích thức ăn đạm trong “thực đơn” cổ Bình Đa thật phong phú. Chỉ trong hố đào nhỏ nhất (60m2), các nhà khảo cổ đã thu về 1,5 kg răng hàm và 16,5 kg di cốt thuộc nhiều loài thú sống ở nhiều môi trường sinh thái khác nhau như: Bibos cf.gaurus - min; Bubalus bubalis - trâu rừng; Bos banteng - bò rừng; Sus scrofa - heo rừng; Muliacus muntiac - hoẵng; Cervus sp - hươu; rusa unicolor - nai; Elephan sp - voi; Rhinocetidae sp - tê giác; Chelonia sp - rùa.

Đến nay, di tích và di vật Bình Đa đã là cơ sở cho hàng loạt công trình công bố trong và ngoài nước, thu hút sự quan tâm của giới khoa học nhiều nơi trên thế giới đối với Đồng Nai. Nhìn chung, với số lượng hiện vật đồ sộ của cả 2 lần khai quật, làng cổ Bình Đa, bên cạnh Dốc Chùa ở hữu ngạn sông Đồng Nai và Cái Vạn - Bưng Bạc nơi cửa sông cận biển, có đủ tư cách của 1 “thị trấn” trung tâm lưu vực châu thổ sông Đồng Nai thời đại kim khí. Đây là 1 khu di chỉ cư trú - xưởng chế tác đá phục vụ nhu cầu của nông nghiệp và các ngành nghề thủ công cổ truyền có quá trình phát triển dài lâu, mà nét đặc sắc Bình Đa bên các làng cổ cùng thời trong châu thổ Đồng Nai là những người nông - thợ bản địa đã sáng chế chính tại đây đàn đá. Lần đầu tiên trong 3 thập kỷ tìm kiếm đàn đá, nhờ Bình Đa, người ta vững tin vào niên đại cổ kính của loại hình nhạc cụ Tây nguyên và Nam bộ đặc sắc này và mối quan tâm nghiên cứu không chỉ về kỹ thuật chế tác biểu trưng cho sức sáng tạo nội tại, bàn tay tài hoa của “những người thầy của đá” Đồng Nai; mà còn về đời sống văn hóa của họ - nơi mà dòng nhạc đá “không tiền khoáng hậu” nảy sinh và chảy vào lịch sử. Làng cổ Bình Đa và đàn đá Bình Đa đã có riêng chuyên khảo 1983, với 1 niên đại C14 từ mẫu của 1 bếp lửa nguyên thủy sâu 1,9 m do Viện hàn lâm khoa học Đức giám định ở Berlin cho kết quả: 3180 ± 50 năm cách nay. Làng cổ nổi danh này có thể được khởi lập và duy trì từ nửa cuối TNK II nửa đầu TNK I tr.CN.

- Trong địa phận Long Thành - Nhơn Trạch, các di vật bằng đá, đồng hay gốm vỡ cũng thường được phát hiện dọc đôi bờ sông lớn Đồng Nai và các suối nhánh ở tả hay hữu ngạn từ Long Tân, Long An, An Hòa như Bàu Cạn, Bến Gỗ, Xã Hoàng, Suối Quýt, Phước Nguyên, Phước Mỹ, Phước Long, Phước Tân...

Nổi tiếng nhất trong nhóm này là di chỉ Phước Tân. Làng cổ này nằm trên đồi thấp (25 m) ở hữu ngạn sông nhánh Lá Buông, cùng chung dãy đồi đất đỏ basalte cuối cùng ở Đồng Nai trải theo hướng Đông Bắc - Tây Nam cắt ngang quốc lộ 51 ở cây số 42 - 43 ± 300, thuộc địa phận khu điều trị bệnh phong (Long Thành). Phước Tân được biết tới từ 1969, nhờ các nữ tu dòng Thánh Vincent De Paul làm việc ở khu điều dưỡng thông báo cho H.Fontaine về những “lưỡi tầm sét” lượm ở đây. Liên tục từ 1969 - 1975, H. Fontaine và nhiều công sự đến di chỉ này hơn 30 lần, công bố phát hiện tới 2596 đồ đá cùng 615 mảnh đồ đựng tiêu biểu nhất tìm được ở độ sâu 0,2 - 0,5 m trên nền lớp đất đỏ hoặc nâu đỏ tiếp giáp nền đá basalte. Di vật Phước Tân rất đa dạng, bao gồm: 1960 rìu bôn hoàn chỉnh hay phác - phế vật với hàng chục kiểu cỡ khác nhau, 176 đục, 6 dao lớn và 14 dao hái, 24 mũi lao đầu nhọn, 2 chày nghiền hay hòn ghè, 8 bàn nghiền hạt, 258 bàn mài, 4 bàn xoa, 2 mảnh vòng đĩa lớn, 1 thẻ đeo dạng bùa. Ngoài 2 đạn tròn, gốm Phước Tân thường là mảnh của nồi đáy tròn, bát tô, bát bồng và cốc có đế loe. Bộ sưu tập đồ sộ của Phước Tân được tăng thêm 2.604 tiêu bản, nhờ các cuộc phúc tra của Bảo tàng Đồng Nai và Trung tâm KCH sau năm 1975, chưa kể tới hàng chục “lưỡi tầm sét” nhân dân Phước Tân còn giữ lại khi đào hố sâu 3m lấy đất ngăn nước sông Buông và 1 hiện vật đồng tròn do 1 nữ sinh phát hiện nằm úp ở độ sâu 10 - 12 cm cách mặt ruộng. Trong những công bố ban đầu, H. Fontaine xếp di chỉ này vào thời Đá mới, về sau khi xét nó trong khung cảnh Nam Bộ và khu vực, ông sử dụng tên Phước Tân mệnh danh nhóm di tích ở Biên Hòa vào chung 1 văn hóa mà ít nhất có 1 bộ phận lớn của văn hóa này đã ở vào thời đại Đồng thau, với niên đại 3500 - 3000 về trước, trong bối cảnh đồ đồng thau bắt đầu phát triển ở miền Nam Việt Nam từ TNK II tr.CN. Nhìn chung, niên đại và thời đại của Phước Tân do H. Fontaine giám định được nhiều người thừa nhận, nhưng tên gọi “Văn hóa Phước Tân” thì một số nhà nghiên cứu cho là chưa thật tiêu biểu như các tên gọi “Văn hóa Cù Lao Rùa”, “Văn hóa Bến Đò”, “Văn hóa Dốc Chùa” hay rộng hơn là “Văn hóa Đồng Nai”...

Ngoài nhóm di tích trên, những di chỉ hình thành dọc vùng trũng ngập mặn ở đôi bờ Thị Vải và các phụ lưu lại mang đậm đặc điểm cư trú của người cổ miền sinh thái rừng ngập mặn cận biển Đông Nam bộ. Người cổ nơi đây vẫn thường tận dụng những doi đất bãi bồi nổi cao ven sông suối, nhất là nơi giáp ranh Long Thành - Nhơn Trạch (Gò Ông Năm, Vũng Gấm - Phước An, ấp Sông Ông Kèo - Vĩnh Thanh...), nhưng dồn phần lớn trí lực vào công cuộc chinh phục đầm lầy, cửa sông, cửa suối, cù lao nổi giữa các cánh rừng ngập mặn. Diện mạo những làng cổ như vậy được khám phá tập trung ở Long Phước và Long Thọ (nay hợp nhất thành Phước Thọ) như: Cái Vạn, Cái Lăng, Rạch Lá, Bến Cá Sình, Ngọn Nhà, Miếu Bà Tám, Ngọn Mặt Trời, Ngọn Cây Khô...

Được nghiên cứu tốt nhất trong nhóm di tích này hiện nay là Cái Vạn. Di chỉ Cái Vạn (10042’B - 106058’Đ) thuộc địa phận ấp 3 xã Phước Thọ (còn mang nhiều tên gọi như Cai Vạn, Cai Vàng, Cây Vạn, Xóm Cai), là vùng đất cát bằng phẳng, nằm ven rìa rừng Sác với đặc điểm của miền châu thổ sông Thị Vải thường xuyên chịu ảnh hưởng của gió mùa, thủy triều và các tích tụ hỗn hợp sông - biển. Di chỉ có vị trí tâm điểm của tiểu vực, nằm cách nhánh chính của sông Đồng Nai (Nhơn Trạch) 13,5 km về phía Tây, cách Biên Hòa 30 km về phía Bắc - Tây Bắc, cách Long Thành 8 km về phía Nam. Cái Vạn được biết đến từ rất lâu, nhờ công bố của GS. E.T. Hamy vào năm 1887, về sau nhiều nhà khoa học Việt Nam và ngoại quốc trở lại đây khảo cứu, thu thập hàng trăm di vật đá - gốm các loại.

Di chỉ này được Bảo tàng Đồng Nai, Trung tâm KCH, Viện bảo tàng LSVN và Trường đại học tổng hợp Hà Nội khai quật 2 lần vào 4 - 1978 và 5 - 1996 với tổng diện tích 218 m2, phát hiện tầng văn hóa dày từ 0,5 - 0,9 m đến 1,2 - 1,6m dàn trải ở nhiều khu vực cư trú khác nhau. Đoàn thu được tất cả 2072 đồ đá, gốm; gồm: 42 cuốc, 656 rìu bôn và 459 mảnh lưỡi, 4 công cụ lưỡi tà, 44 đục, 36 nạo và dao gặt, 16 chày nghiền, 1 giáo, 1 bùa đeo, 1 đá hình dọi chỉ, 257 bàn mài, 2 hòn kê hay hòn ghè, 154 mảnh tách - tước, 486 đá nguyên - phế liệu, đặc biệt có 16 tiêu bản sa thạch là khuôn đúc rìu, đúc rìu - lưỡi câu hoàn chỉnh hay phác - phế vật. Đồ kim loại có: 1 giáo, 1 rìu và 3 mảnh xỉ đồng. Đồ đất nung thu được 1 dọi se sợi, 78 đạn, 28 gốm ghè tròn, 1 khuôn đúc rìu, 32 núm bàn xoa, 784 mảnh chân bếp và 47022 mảnh đồ đựng đủ loại hình và chất liệu. Kết quả đáng chú ý nhất thu được từ hố đào giữa cù lao Rạch Ông Hỷ là các vật liệu hữu cơ còn bảo tồn ở tình trạng đáng được coi là lý tưởng cho nhà khảo cổ. Ngoài di cốt thú (trâu bò, sừng hươu, răng voi), còn có cả vật liệu tinh chế từ nhựa cây, vỏ của hột cho dầu và đạm thực vật (hột Kơ - nia), và đặc biệt là 92 cọc - ván nhà sàn, 282 vật dụng định hình bằng gỗ sao, căm xe hay gõ đỏ gồm: kiếm, suốt đan lưới, mũi nhọn, cán dao hay kiếm..., cùng 2.074 tiêu bản là nguyên liệu hoặc phế liệu của những người thợ mộc Cái Vạn xưa. Tổng thể tồn tích vật chất thu được từ Cái Vạn là chứng tích những hoạt động sống tương hợp vang bóng một thời ở miền rừng ngập mặn ven hệ sông Thị Vải. Đây là diện mạo còn lại của một làng “chài - nông - thương” cỡ lớn, với 2 niên đại C14 giám định từ cọc nhà sàn và dao gỗ là: 3360 ± 80 và 3195 ± 70 năm cách nay. 2 mẫu rìu và giáo đồng phân tích Hóa - Quang phổ tại Viện Địa chất (TTKHTN - CNQG) cho biết thành phần hợp kim được người thợ đúc đồng Cái Vạn pha chế là Cu + Sn + Pb và Cu + Pb + Sn.

Các di tích Cái Lăng (phát hiện 1977) và Rạch Lá (1996) đều cùng cấu tạo địa hình sình lầy cận biển thuộc xã Phước Thọ, cách Cái Vạn khoảng 2 - 3 km về phía Đông. Ở những bãi sình mọc đầy đước - sú vẹt này, hàng trăm cọc tròn (đường kính khoảng 10 - 35 cm, dài 1,5 - 2,5 m có khi tới 34 m) với ngàm trên thân và đầu vát nhọn còn cắm vững chắc xuống lòng sình và tích tụ dày gốm và đá vỡ. Các nhà khảo cổ thu được trong các hố thám sát ở Cái Lăng nhiều công cụ - vũ khí đá (3 cuốc, 1 bôn có vai, 1 mảnh qua, 2 chày nghiền, 7 bàn mài, 4 khuôn đúc rìu) và đồ gốm (1 bàn xoa, 7 chân bếp, 382 mảnh đồ đựng tiêu biểu) và ở Rạch Lá (3 cuốc, 7 rìu bôn, 1 đục, 3 bàn mài, 5 khuôn đúc đồng và đặc biệt có cả 2 phiến thạch mang lối chế tác giống đàn đá). Rạch Lá - Cái Lăng và cả Ngọn Nhà, Ngọn Mặt Trời, Miếu Bà Tám... gần gũi với Cái Vạn không chỉ về điều kiện địa hình sinh thái rừng ngập mặn, mà cả về tính chất văn hóa và thời điểm hình thành, với các mẫu cọc nhà sàn phân tích tại Trung tâm hạt nhân TP. HCM cho kết quả C14: 3260 ± 70 năm (Cái Lăng) và 3100 ± 60 năm (Rạch Lá) cách ngày nay.

 

Comments