3.3. Giai đoạn sắt sớm (nửa cuối TNK I tr.CN)

III.3. Giai đoạn sắt sớm (nửa cuối TNK I tr.CN):

Đây là giai đoạn phát triển cao nhất của Phức hệ văn hóa tiền sử Đồng Nai, với những thành tựu giao lưu kinh tế - văn hóa mới và những tiến bộ kỹ thuật tiên tiến liên quan đến phát minh thuật rèn sắt và ứng dụng thành phẩm của kỹ nghệ này trong thực tiễn sản xuất - chiến đấu truyền thống, khởi đầu từ giữa TNK I tr.CN. Trong địa phận tỉnh Đồng Nai, các di tích tiêu biểu của thời kỳ lịch sử sôi động này tập trung quanh vùng đất đỏ basalte Xuân Lộc - Long Khánh cổ kính, nơi “thế giới của các nón núi lửa” thời Pleistocene. Có thể coi đây chính là vùng phát sinh và quần cư quan trọng và liên tục nhất của người cổ Đồng Nai, vùng động lực của truyền thống văn hóa - kỹ thuật thời kim khí cũng chính là 1 khu kinh tế dân cư trung tâm tinh thần ở thời điểm mà cộng đồng người nguyên thủy Đồng Nai khởi dựng cuộc sống văn minh với cấu trúc quyền lực mang hình hài Nhà nước sơ khai của riêng họ. Một loại hình di tích đặc trưng của thời Sắt sớm ở Đồng Nai là những làng nông nghiệp cổ có những xưởng thủ công chuyên nghiệp đúc đồng - rèn sắt - sáng chế và bán buôn đồ trang sức bằng đá quý - mã não - thủy tinh hay vàng bạc... và, bên những nghĩa địa cổ truyền cạnh nơi cư trú, đã hình thành trên các sườn đồi đất đỏ ven suối nhỏ những nghĩa địa riêng biệt chôn người chết trong các quan tài bằng chum vò gốm.

Di tích Suối Chồn nằm trên sườn đồi basalte nâu đỏ ven bờ Tây suối Háp, thuộc ấp Bảo Vinh B, xã Xuân Bình (Xuân Lộc), cách Xuân Lộc 4 km và cụm di tích Cầu Sắt - Đồi Mít - Đồi Xoài chỉ 3 - 5 km về phía Đông Bắc. Di tích do ông Đặng Bá Tước phát hiện từ 1976, sau đó, cán bộ Bảo tàng Đồng Nai, Trung tâm KCH, Viện bảo tàng LSVN, Viện KCH, cùng các nhà khảo cổ Nhật Bản đã nhiều lần điều tra thám sát (4 m2) và khai quật 2 lần (4 - 1978 và 4 - 1979) với diện tích 3 hố = 133 m2. Dấu tích văn hóa cổ ở Suối Chồn trải rộng tới 40.000 m2. Các nhà khoa học phát hiện một khu cư trú cổ với lớp vật chất sinh hoạt dày 0,3 - 1,4 m và 1 khu nghĩa địa riêng biệt với 9 mộ chum vò gốm chứa đồ tùy táng bên trong. Di vật nơi ở và khu mộ thu được bao gồm các sưu tập vật phẩm nội địa và ngoại nhập phong phú. Đồ đá có: 1 cuốc, 80 rìu bôn, 5 đục, 14 bàn mài công cụ hay vòng trang sức, 6 dao gặt, 1 chày nghiền, 1 bùa đeo, 10 khuôn sa thạch dùng đúc rìu, giáo, dùi, hoa tai, lục lạc hay chuông nhỏ, 13 mảnh vòng tay, 2 khuyên tai và nhiều hạt chuỗi. Đồ đất nung có: 14 dọi se sợi, 2 đạn, 2 quả cân cùng 9 chum vò làm quan tài và 8 nồi tùy táng. Đồ thủy tinh có: 1 vòng tay và 2 khuyên tai có 3 mấu xanh lục. Đồ kim loại có: 5 rìu đồng, 5 kiếm sắt, 1 liềm và 1 thuổng sắt (1 mẫu rìu đồng được phân tích hóa - quang phổ ở Viện địa chất Hà Nội cho biết thành phần hợp kim là: Cu+Pb+Sn). Di tích Suối Chồn, gồm cả di tích cư trú và mộ táng, được xác định tương đương với các “Cánh đồng chum” Phú Hòa - Dầu Giây - Suối Đá, vào khoảng nửa sau TNK I tr.CN. Tuy nhiên, làng cổ Suối Chồn từ di chỉ cư trú đến mộ táng trong cùng một kết cấu địa tầng cần được hiểu giống như là liên tục về thời gian, là nội sinh trong kết cấu văn hóa vật chất, mà chính trong nhiều khu vực ở quả đồi ven bờ Suối Háp này, vết tích của những ngôi mộ đất truyền thống với tùy táng phẩm rìu đồng vẫn còn tồn tại trong chiều hướng xuất hiện và lấn át của mộ vò và các loại hình chất liệu trang sức tân kỳ (đá quý, mã não, thủy tinh màu) giống như là những sắc tố khác thường gia nhập vào và cấu thành bản sắc văn hóa sơ sử Đồng Nai thời sơ Sắt.

Di chỉ Dầu Giây mang danh dòng suối nhỏ tiếp giáp 2 huyện Thống Nhất - Xuân Lộc, cách TP. HCM khoảng 70 km về hướng Đông - Đông Bắc, do E. Saurin phát hiện 10 - 1965. Đây cũng là làng cổ gồm khu cư trú với tầng văn hóa mỏng (10 - 20 cm) và đất đồi laterite. Tại đây, E. Saurin phát hiện 2 mộ chum không nắp, bên trong chứa 1 mảnh xương, 1 mảnh bàn mài, 1 đá thạch anh và gốm vỡ của bình, nồi cùng ít than củi. Di vật thu thập gồm: 2 dao sắt với 2 cạnh lưỡi sắc, 1 mảnh tước đá, 1 chày nghiền, 1 con lăn, 1 đá khắc và nhiều bàn mài rãnh, đặc biệt còn có 3 mảnh khuôn dùng đúc rìu, bông tai và mũi kim. Gốm vỡ ở đây làm bằng sét pha cát, than hoặc bả thực vật băm nhỏ đốt thành tro cùng nhiều khoáng vật như mica, quarto - felspathique..., nung cao, tạo hình và trang trí khá đẹp. Đó là mảnh của nồi miệng loe đáy cong, bình có cổ loe hay có vai, đĩa có đáy phẳng hơi lõm, lọ nhỏ, chum bụng nở... với trang trí văn thừng, khắc vạch tạo những vòng tròn khép kín, sóng nước, khuông nhạc, răng sói, hình sóng hay xoắy ốc... Di tích Dầu Giây có hàm chứa tư liệu địa tầng và sưu tập di vật có giá trị làm sáng tỏ kết cấu văn hóa của giai đoạn hậu kỳ đồng - sơ kỳ sắt Đồng Nai và cùng với khu di chỉ - mộ địa Suối Chồn mang những đặc trưng văn hóa của giai đoạn phát triển cuối cùng của xã hội tiền sử - sơ sử Đồng Nai.

Phú Hòa (10053’45’’B - 107015’00’Đ) là tên 1 ấp cũ, nơi có nghĩa địa quan tài chum gốm cổ chiếm trọn 1 quả đồi đất đỏ basalte cao gần 200 m/mức biển, nhìn xuống thung lũng hẹp bao bọc bởi 2 nhánh của sông Ray, thuộc địa phận ấp Bảo Định (Xuân Lộc), ven quốc lộ I và cách Xuân Lộc 3 km về hướng Nam. Di tích do nhân dân địa phương phát hiện 3 - 1971, H.Fontaine và Hoàng Thị Thân khảo sát và khai quật “chữa cháy”, xử lý 46 mộ chum. Sau 1975, Hoàng Thị Thân cùng cán bộ Bảo tàng Đồng Nai, Trung tâm KCH đã trở lại đây phúc tra, rồi từ 1977 - 1979, cùng Viện BTLS Việt Nam, Trường đại học tổng hợp Hà Nội điều tra, đào vài hố thám sát và phát hiện thêm 1 vò nhỏ cùng 1 thẻ đeo bằng đá, mảnh vỡ của nhiều chum gốm.

Theo các công bố của H.Fontaine (1971 - 1975), các chum cao khoảng 75 cm với bụng rộng 40 - 80 cm, sắp xếp không theo quy luật, có khi thành từng cụm, có khi lại cách quãng, nhưng đều chôn đứng ở những độ sâu khác nhau. Chum làm từ sét pha cát hạt lớn lẫn khoáng vật (quarto - felspathique), áo miết láng màu đỏ hồng, một số có trang trí những hình xoắn ốc tạo thành dải các chữ S nằm nghiêng nối tiếp hoặc cách đều nhau. Đồ tùy táng cực kỳ phong phú, nhưng người xưa sắp xếp không đều trong các chum, thường là đồ trang sức đủ loại, đồ gốm gia dụng hay dụng cụ - công cụ và khí giới bằng sắt. Thống kê tổng quát đồ tùy táng Phú Hòa có tới 1973 di vật định hình, trong đó: Đồ sắt có: 9 cuốc, 2 rìu, 5 dao, 13 liềm, 11 kiếm với 2 cạnh sắc, 1 quả cân. Ngoài 46 chum làm quan tài, đồ đựng gốm có: 7 nồi đáy tròn có băng trang trí hình răng sói ngang bụng, 14 bình cổ thắt dáng tròn hay hình quả trứng, 46 đĩa đáy bằng hay uốn cong có chiếc có 2 lỗ ở vành miệng để buộc dây treo, 4 cốc, 5 đạn tròn hay dẹt, ngoài ra còn có ống chỉ có lỗ xuyên dọc, chân đèn giống Sa Huỳnh, chân đế bát bồng... với nhiều dạng hoa văn trang trí như in dấu vải, chấm dải, miết láng hay khắc vạch tạo các đồ án hình học như các đường cong, gạch ngắn, răng sói, chấm xiên nhỏ, hình chữ nhật, lượn sóng, chữ S nối nhau... Đồ trang sức Phú Hòa đa dạng, gồm: 1 dây chuyền bạc, 22 vòng đeo tay (4 bằng đá mài bóng lộn, 2 vòng thủy tinh xanh sẫm, 15 vòng đồng với 1 vòng kép còn dấu vải mịn trên bản vòng, 19 vòng sắt cấu tạo từ 2 thanh sắt tròn dính chặt nhau, 5 nhẫn sắt, 8 khuyên tai bằng ngọc nephrite màu trắng vân xanh với 2 khuyên tai có hình 2 đầu thú và 6 bông tai có 3 mấu giống trang sức mà thổ dân miền núi Philippines gọi là “Lingling - O”, 2 lục lạc đồng... Hạt chuỗi và cườm chiếm tới 1.800 tiêu bản, trong đó, ngoài 1 hạt bằng vàng, còn lại thuộc 2 nhóm: gần 200 hạt có đường kính hơn 0,5 cm (30% hình cầu, 30% hình trụ tròn, 20% hình thoi, 1 hạt hình quả trám, số còn lại là ngọc dài với 6 - 7 diện tiếp xúc); loại có đường kính nhỏ hơn 0,5 cm thường là thủy tinh nhân tạo các màu đỏ, xanh, cam, vàng, lục, hoặc đá quý như agate, granat, cornaline...).

Theo H.Fontaine và Hoàng Thị Thân, di tích Phú Hòa, cùng với Dầu Giây và Hàng Gòn 9 có nguồn gốc từ văn hóa Sa Huỳnh ở ven biển Nam Trung bộ Việt Nam, với kết quả giám định C14 của bà G. Delbrias tại Centre des Fablo Radioactivités ở Gif - sur - Yvette (Pháp) 1 mảnh gốm ở chum M8 và mẫu than gỗ trong các chum M11, M13 là: 2400 ± 140 và 2590 ± 240 năm cách ngày nay.

Di tích Hàng Gòn 9 nằm trên một đoạn sườn đồi đất đỏ basalte ven suối Gia Liêu (còn gọi là suối Đá), diện tích khoảng 100 x 50 m = 5.000 m2, được E. Saurin khám phá 1963, thuộc địa phận Nông trường cao su Hàng Gòn, xã Xuân Tân (nay thuộc huyện Long Khánh), cách thị trấn Xuân Lộc 10 km về phía Tây Nam. Lần đầu tiên khảo sát ở đây, E. Saurin chỉ tìm thấy 2 chum gốm có cả khuyên tai 2 đầu thú, 1 kiếm sắt và nhiều gốm vỡ. Sau đó, ông phát hiện thêm 60 chum nữa chôn đứng ở độ sâu 0,2 - 1,5 m với những nắp đậy khác nhau. Trong chum không thấy xương răng người chết và than tro, chỉ có những vật dụng thông thường bị những người mai táng xưa cố ý đập vỡ, hay bẻ gãy trước khi chôn. Phía ngoài mộ chum, đôi khi họ còn chôn kèm theo nhiều bình gốm, đồ sắt hay rìu đá còn nguyên vẹn.

Chum làm quan tài thường cao 40 - 60 cm với miệng rộng khoảng 40 cm và chứa tùy táng phẩm gồm: 2 rìu đá, 1 kiếm sắt, 1 cuốc sắt, 3 rìu sắt có họng tra cán và lưỡi dẹt phẳng (thành phần hóa học của đồ sắt được E. Saurin giám định cho thấy, ngoài nguyên tố Sắt là chủ yếu, còn cả dấu vết của chrome, nickel, đồng, maganène, molybdene, lithium). Đồ gốm có các loại: dọi se sợi hình chóp cụt có trang trí hình răng sói quanh rìa, khoanh gốm hình ống, chân đèn, nắp đậy có trang trí những vòng tròn đồng tâm trên mặt, đĩa nông lòng, cốc miệng rộng có trang trí văn sóng nước hay kiểu khuông nhạc hoặc những vạch xiên trên vành mép, bình với các kiểu khác nhau: mép gập vào có trang trí văn chải thưa; mép rộng thành cong; mép vuốt mỏng hông nhỏ đáy trũng; miệng rộng đáy bằng... Hoa văn trang trí đặc trưng của gốm Hàng Gòn là những hình xoắn ốc nằm giữa những băng ngang hẹp. Đồ trang sức gồm: 1 hạt chuỗi bằng vàng hình tháp dẹt cuộn tròn có 2 đoạn uốn cong làm mấu đeo; Hạt chuỗi bằng cornaline màu đỏ hình đa giác, bằng agate có hình ống tròn hơi phồng, bằng pagodite màu trắng, bằng zircon màu vàng nâu với lỗ xuyên dây, bằng thủy tinh màu xanh đệm có hình đĩa nhiều cạnh, màu đỏ da cam hơi đục có hình ống; 1 bông tai đồng mạ vàng; 1 khuyên tai có 2 đầu thú bằng đá pagodite...

Di tích Hàng Gòn 9 có 2 mẫu than gỗ được D.J. Thomaret giám định tại Trung tâm khoa học Monaco và 1 mẫu thực vật do bà G. Delibrias phân tích tại Trung tâm phóng xạ yếu ở Gif - sur - Yvette, cho kết quả niên đại C14: 2300; 2190; 2100 ± 150 năm cách ngày nay. Dù trong các quan tài gốm chưa thấy nhân cốt hoặc than tro, E. Saurin vẫn nghĩ rằng đây là khu mộ chum được hỏa táng giống như phong tục chung của cư dân Indonésien. Ông cho rằng chủ nhân di tích này có quan hệ với tục sử dụng quan tài bằng gốm ở Phú Khương (Quảng Ngãi) hay Dầu Giây, Phú Hòa (Đồng Nai) và có thể quan hệ với tục mai táng trong “Klong” của người Chăm, riêng những đồ trang sức chôn trong các mộ chum này có nguồn gốc ngoại nhập từ nhiều trung tâm văn minh lớn của thế giới. Niên đại khu nghĩa địa này theo tác giả tương đương với văn hóa Đông Sơn, bắt đầu khoảng 500 năm tr.CN và kết thúc ở thế kỷ I sau CN. Theo chúng tôi, di tích nghĩa địa chum Hàng Gòn 9, cùng với Suối Chồn - Dầu Giây - Phú Hòa và những di chỉ mộ chum ở Cần Giờ cho thấy sự lan tỏa và giao thoa văn hóa mạnh mẽ giữa văn hóa Sa Huỳnh và truyền thống thời đại kim khí - thời đại sắt văn hóa Đồng Nai; hình thành một cụm di tích mang đầy đủ tính chất văn hóa của giai đoạn phát triển cuối cùng thời sơ sử ở Đồng Nai và toàn bộ địa vực hạ lưu của hệ thống sông này.

Bên cạnh cụm di tích mộ chum vò Suối Chồn - Dầu Giây - Suối Đá - Phú Hòa và những làng nông nghiệp - thủ công thời sơ kỳ Sắt, trong vùng đất đỏ basalte Xuân Lộc - Long Khánh còn hiện diện các công trình di tích văn hóa vật chất - tinh thần Đồng Nai đặc sắc khác nhau: Quần thể di tích kiến trúc mộ bằng đá lớn (cự thạch) Hàng Gòn hay kho tàng chứa khối lượng lớn vũ khí - công cụ - tượng thú quý hiếm trên đỉnh núi lửa cổ Long Giao.

Mộ cự thạch Hàng Gòn trước đây thuộc đồn điền cao su Xuân Lộc, xã Xuân Lộc, tổng Lâm Bình thượng, tỉnh Biên Hòa, sau đổi là ấp Hàng Gòn, xã Thới Giao, quận Xuân Lộc, tỉnh Long Khánh; rồi ấp Xuân Thanh, xã Xuân Tân, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai; ngày nay lại là ấp Hàng Gòn, xã Xuân Thanh, huyện Long Khánh. Di tích còn gọi là Mộ cự thạch Xuân Lộc, thoạt đầu được E. Saurin định số 7 trong 10 di tích mà ông khảo cứu ở đồn điền này (Hàng Gòn 7), khi dân sở tại dựng miếu nhỏ thờ “Ông Đá” còn mang tục danh “Mả Ông Đá”. Mộ đá lớn nằm trên vùng đồi đất đỏ basalte, cao độ 256 m so với mực nước biển, cách Suối Đá nơi gần nhất 800 - 900 m, cách tỉnh lộ 2 khoảng 100 m về phía Tây, cách Xuân Lộc 8 km về phía Nam và cách Biên Hòa 50 km về phía Đông.

Đầu năm 1927, khi mở đường liên tỉnh số 2, kỹ sư cầu đường Pháp J. Bouchot nhìn thấy 1 tảng đá nhô thẳng từ dưới gốc cổ thụ lớn và từ giữa tháng 4 năm đó, ông cho khai quật khu vực này và thông báo 3 lần từ 1927 - 1929. Kết quả khám phá công trình “cự thạch” ở đây lập tức thu hút sự quan tâm của nhiều học giả phương Tây, bắt đầu từ vị chủ sự khảo cổ Đông Dương H. Parmentier đến L. Malleret, E. Gaspardone, H. Loofs, E. Saurin, H. Fontaine... cho đến gần đây với nhiều cuộc viếng thăm tìm hiểu của các nhà khảo cổ Nga, Đức, Bungari, Nhật Bản, Mỹ.... Mộ cổ Hàng Gòn được chính quyền Pháp xếp hạng năm 1930, ghi số 38 trong danh mục “Mộ Đông Dương - di tích ở Nam kỳ”. Từ 1981 - 1982, Bảo tàng Đồng Nai và Trung tâm KCH đã nhiều lần điều tra, xây dựng phương án nghiên cứu phục hồi bảo vệ di tích. Năm 1984, mộ đá Hàng Gòn được Bộ văn hóa - thông tin xếp hạng. Đầu năm 1992, Bảo tàng Đồng Nai, Trung tâm KCH tổ chức khai quật lần 2 nhằm cứu vãn bản thân hầm mộ khỏi sụt lún và đổ vỡ, nghiên cứu địa tầng quanh hầm mộ và tôn tạo di tích (Hình 9). Đầu 12 - 1995, khi tiến hành san ủi mặt bằng trong phạm vi giải tỏa của Xí nghiệp khai thác đá (Nông trường cao su Hàng Gòn), những người lái xe ủi húc phải 3 tấm đan bằng đá hoa cương nằm ngang cách mộ đá xưa 60 m về phía Đông Nam. Ông Trần Tử Oai đã cấp báo Bảo tàng Đồng Nai. Sau 3 đợt điều tra khẩn cấp, được phép của UBND tỉnh, Bộ VHTT, Bảo tàng Đồng Nai, Trung tâm KCH khai quật “chữa cháy” từ tháng 1 - 1996. Di tích cự thạch vừa phát hiện liên hệ hữu cơ với di tích mộ Hàng Gòn phát hiện năm 1927 đã xếp hạng cấp Quốc gia. Đoàn công tác đặt tên Hàng Gòn 7B cho kiến trúc cự thạch này.

Hàng Gòn 7A (10051’44’’B - 107014’07’’Đ). Theo công bố của J. Bouchot và H. Parmentier, hầm mộ cự thạch có dạng hình hộp chữ nhật, được lắp ghép bởi 6 tấm đan bằng đá hoa cương lớn nằm theo hướng Đông Tây, ở giữa 4 hàng cột gồm: 8 trụ bằng sa thạch hoặc basalte cao tới 2,5 - 3 m với đầu khoét lõm hình yên ngựa, 2 trụ còn lại là 2 tấm đan lớn (7,2 x 1,1 x 0,35 m). Người khai quật đầu tiên lưu ý đến 1 điểm khai thác đá hoa cương giống nguyên liệu làm hầm mộ Hàng Gòn lộ thiên gần Đà Lạt và hình dung những nỗ lực phi thường của người xưa nếu phải vận chuyển những khối đá có khi tới gần 10 tấn đi hàng trăm cây số trong điều kiện địa hình nguyên thủy rất hiểm trở mang về đây dựng mộ. Theo H. Parmentier, thoạt đầu người xưa kiến thiết hầm mộ chìm trong lòng đất, các hàng cột chung quanh được chôn theo nấc hình thang thấp dần theo hướng mộ, có tác dụng đỡ cho dụng cụ mở và đóng nắp hầm mộ mà theo tính nặng gần 7 tấn. Việc nâng và hạ nắp hầm có thể nhờ vào sự trợ lực của hệ thống ròng rọc ở các trụ đá - cây gá lắp trên chỗ lõm hình yên ngựa của trụ chính cùng dây chằng luồn qua phần nhô ra của nắp hầm và lực kéo tập thể, mà theo tác giả chỉ thực hiện mở hầm mộ trong những dịp có nghi lễ mai táng lớn của cộng đồng.

Cuộc khai quật lần 2 với tổng diện tích quy hoạch hơn 1.400 m2 (44 x 32 m), được thực hiện theo kiểu đào để lại bậc thang để chống sói mòn. Các điểm đáng lưu tâm từ cuộc đào này là: Hầm đá cao 1,7 m; dài 4,43 m và rộng 1,65 - 1,9 m; nắp hầm mộ lớn (5,25 x 2,25 x 0,29 m). Ngoài ra, còn phát hiện thêm 2 phiến đá nằm ngang hầm mộ, chưa từng được J. Bouchot và H. Parmentier mô tả: 1 nằm sát vách Nam hầm mộ, dạng gần tròn (d = 1,3 m), mảnh gần góc Tây Bắc (qui mô 1,5 x 1,05 m) còn hình 2 rãnh ghép thành góc vuông giống hệt đầu góc tấm đan làm nền mộ. Sự hiện diện mảnh đá mang vết của tấm nền thứ 2 này cho biết về khả năng còn hầm đá nữa trong khu vực này, hoặc chí ít cũng cho biết khả năng người xưa chế tác và ghép lắp hầm mộ ngay tại chỗ, có thể đó là 1 tấm nền bị tiền nhân loại bỏ trong khi thực hiện.

Mộ cự thạch Hàng Gòn, với dạng hình hộp kín nằm chìm sâu trong đất cùng với hàng trụ chung quanh được giới khoa học trong và ngoài nước thừa nhận là công trình kiến trúc cổ “không tiền khoáng hậu” ở Việt Nam. Đương nhiên, trong khi công nhận tính độc đáo của kiến trúc về nhiều mặt, từ khai thác, chuyển vận và tập kết nguyên vật liệu cự thạch, đến kỹ thuật chế tác - ghép lắp - vận hành..., di tích được xem là thành tựu kỳ diệu của các tộc người xưa ở Xuân Lộc - Đồng Nai, giới khoa học từ hơn 60 năm nay vẫn còn những quan điểm rất khác nhau về nguồn gốc và niên đại của di tích.

Người khai quật đầu tiên, J. Bouchot (1927 - 1929) cho rằng, di tích liên quan đến các tộc người Gia Rai đang sống ở Tây Nguyên, song lại so sánh cấu trúc kích thước hầm mộ và hàng cột chung quanh với nhiều công trình cự thạch ở châu Á (Bắc Trung Quốc, Bắc Miến Điện, Assam, bán đảo Deckker Transjordanie, Changkat Mentri (Sungkai, Nam Pérak, Mã Lai) hay các đảo Java) và phỏng đoán rằng: Hầm mộ cùng 2 hàng trụ đá hoa cương có thể thuộc thời Đá mới, còn hàng cột sa thạch chỉ được dựng trong thời đại đồ Đồng để trang trí thêm. H. Parmentier lại liên tưởng đến các công trình đá lớn ở Úc và châu Đại Dương, hay di tích kiến trúc đá hình chữ nhật ở Đồng Phổ gần Sa Huỳnh và một số mộ Chàm ở Ninh Thuận. Theo L. Malleret (1963), mộ đá Hàng Gòn có khả năng được xây cất trong thời đại đồ Đồng và chịu ảnh hưởng của cấu trúc Ấn Độ trong các công trình Tissamaharama và Anuradhapura ở Sri Lanka với những rãnh bán nguyệt ở đầu các cột đá. E. Saurin khi đặt tên di tích là Hàng Gòn 7 năm 1968, lại so sánh với các đền thờ có niên đại 500 - 200 năm tr.CN ở Bắc Ấn Độ, với các công trình đá có kiến trúc “K” trong văn hóa Óc Eo ở châu thổ sông Mékong và với cụm di chỉ thời kim khí do ông khám phá trong khu vực đồn điền Hàng Gòn, nhất là nghĩa địa chum Suối Đá. P. Bellwood (1978) lại cho rằng các mộ đá Hàng Gòn 7 và Đồng Phổ đều có khả năng quan hệ với văn hóa Sa Huỳnh, chúng không có đồng dạng ở lục địa Đông Nam Á, ngoại trừ một nhóm nhỏ ở bán đảo Malacca.

Đối với giới khoa học Việt Nam, khi gián tiếp ủng hộ ý kiến của H. Parmentier cho đây là hầm mộ tập thể của nhiều vị quan hoặc chiến binh xưa mà nắp chỉ được phép xê dịch mỗi lần mai táng lớn, có người khẳng định mộ đá kỳ công tài trí xây lên không phải dành cho thường dân mà là để phục dịch các “tâm lý vĩ cuồng” tiền sử. Người khác lại đồng ý với quan điểm của L. Malleret, dựa vào lời kể của một nhà báo từng mục kích cuộc đào J.Bouchot thấy những chén gốm nhỏ chứa than tro trong hầm mộ mà phỏng đoán tục hỏa thiêu được thực hiện ở đây. Lại có nhiều người khác quan tâm đến thông tin của L. Malleret về 1 vòng đồng nặng 1.065 kg (MBBN.3143 - BTSG) do M. Parmé nhặt được gần mộ đá và 1 bát đồng dường như còn để lại vết trên nền đất trước cửa hầm mộ như lời kể của dân công tham gia đào mộ; hay suy tưởng của E. Saurin khi ông liên hệ kỹ thuật ghép những phiến đá lớn bằng rãnh - mộng - chốt với các kiến trúc “K” từ nghề mộc Óc Eo... Những người này lại đoán nhận rằng: chủ nhân mộ cự thạch Hàng Gòn 7 không thuộc thời đại Đồng hay sớm hơn, mà có thể là đồng chủ nhân các di tích kiến trúc gạch đá - đá lớn thuộc văn hóa Óc Eo trong loại hình di tích phân bố ven trung lưu sông Đồng Nai “có niên đại vào những thế kỷ đầu đến thế kỷ VII sau CN”.

Hàng Gòn 7B (10051’43’’B - 107014’10’’Đ). Trong lớp đá nguyên sinh màu nâu đỏ có kết cấu tơi xốp, rất ít sỏi laterite, đôi chỗ tích tụ than tro, hố khai quật quy mô 6,4 x 14 m = 89,6 m2; các trụ, tấm đá nằm cùng bình độ, chỉ cao hơn nắp hầm mộ đá Hàng Gòn 7A khoảng 0,5 m, phối trí thành 3 cụm: 2 cụm là 2 mặt phẳng đá xếp hình chữ nhật theo hướng Đông Tây, quy mô: 5,1 x 1,6 - 1,75 x 0,05 - 0,1 m và 2,6 x 1,15 x 0,12 m; cùng 1 cụm là 2 thanh trụ đá dài 3,25 - 3,4 x 0,2 - 0,3 m nằm ngang chụm đầu vào nhau và 1 hòn cuội lớn hình bầu dục. Tất cả trụ, tấm đá đều có vết chế tác (đục, đẽo, mài khoét tạo rãnh ngàm, chặt góc hay gọt rìa...). Dưới các phiến hoa cương, các nhà khảo cổ phát hiện nhiều di vật. Đó là 2 mảnh đồ đồng, có thể của nắp đậy hoặc vành miệng kiểu thạp hay thố nhỏ (chưa kể 1 mảnh của công cụ cắt khía phát hiện cách hố đào 45 m về phía Tây. Cả 3 mẫu đồng được phân tích hóa - quang phổ tại Viện địa chất cho biết thành phần hợp kim chủ đạo là Cu+Sn, hàm lượng Pb ít, còn Zn thì rất ít). Có 24 mảnh gốm, gồm 6 miệng, 16 thân, 2 đế, là gốm cứng thô làm bằng bàn xoay, pha nhiều cát nung thấp. Phế liệu đá có: 4413 tiêu bản, trong đó: 299 mảnh hoa cương màu trắng và xám xanh chính là phế liệu của quá trình gia công các trụ, tấm đá vừa phát hiện. (Riêng 4114 mảnh cuội bị và không bị lớp phủ patine nằm sâu nhất trong địa tầng Hàng Gòn 7B. Đây có thể là sản phẩm của người thợ đá Hàng Gòn sau quy trình chế tác gia công cuội nguyên thủy, từ rất lâu trước khi hậu duệ của họ đến chế tác các phiến hoa cương và cột trụ đá lớn).

Di tích Hàng Gòn 7B được người xưa gia công tại chỗ từ hoa cương và diabaz (?) nguyên phiến khối, bằng nguyên liệu và những thủ pháp kỹ thuật tương tự đã được biết tới qua các công đoạn tạo dựng các bộ phận ghép lắp thành hầm mộ [dạng “Dolmen”]. Chúng góp thêm tư liệu mới cho việc nghiên cứu cấu trúc chung của cả quần thể đá lớn ở Hàng Gòn. Trên cơ sở ghi nhận việc bố trí một cách có ý thức các phiến đan và trụ đá (về hướng và bình độ, cách phối trí và các di tích nung đốt địa tầng, không thể loại trừ khả năng cư dân cổ sản xuất, chế dựng tại chỗ các di tích cự thạch này). Các di tích vật chất liên hệ trực tiếp với di tích cự thạch ở đây là đồ đồng và gốm cổ. Về cơ bản, thành phần hợp kim của di vật đồng thau Hàng Gòn rất gần gũi với công cụ sản xuất - vũ khí Đông Nam bộ từng phát hiện và phân tích ở Cầu Sắt, Dốc Chùa, Cù Lao Phố, Suối Chồn và Long Giao. Gốm cổ Hàng Gòn có sự tương đồng với gốm Suối Đá, Suối Chồn, Phú Hòa và Bưng Bạc. Tuy vậy, kết quả giám định quang phổ lại chỉ thị về nguồn gốc nguyên liệu bản địa với các thành phần hóa học riêng, không giống với gốm cổ Bưng Bạc, Cần Giờ, Cái Lăng, Long Bửu, kể cả gốm tiền sử vùng Xuân Lộc - Long Khánh như Cầu Sắt, Núi Gốm và Suối Đá.

Những mảnh đồng và gốm cổ cùng địa tầng với phế liệu hoa cương là chứng cớ xác đáng minh định tuổi hình thành của các công trình cự thạch và góp phần minh giải tính chất khảo cổ học của toàn bộ khu di tích này. Chúng chỉ thị cho khởi điểm chế tạo các công trình cự thạch ở Hàng Gòn từ khoảng giữa TNK I tr.CN và cả quần thể di tích cự thạch đã hoàn chỉnh với cấu trúc gồm dolmen và các công trình phụ được xây dựng, không ngừng bổ sung và sử dụng kéo dài đến những thế kỷ đầu Công lịch. Từ 4 kết quả phân tích C14 tại Trung tâm hạt nhân TP. HCM dàn trải từ: 2720; 2590; 2570 ± 50 đến 2220 ± 55 năm cách nay. Chúng ta có thể hình dung được sự khởi đầu của một thời đoạn lịch sử đỉnh cao của phức hệ văn hóa tiền sử - sơ sử ở toàn miền Đông Nam bộ Việt Nam - giai đoạn hậu kỳ Đồng - sơ kỳ Sắt. Với những trung tâm tụ cư - đẩy mạnh các hoạt động khai thác đa dạng ở nhiều vùng môi sinh là sản xuất nông nghiệp - lao động thủ công - khai triển thông thương giao lưu về kinh tế - văn hóa - kỹ thuật ở tầm mức khu vực của cộng đồng người cư ngụ sinh tồn dài lâu và kiến thiết xây dựng miền thiên nhiên trù phú này trong quá khứ. Quá khứ tiền sử có nhu cầu và có những nỗ lực trí tuệ ở mức phi thường để khẳng định chính bản thân nó, với không gian và với cả thời gian. Để xây dựng các công trình kiến trúc lớn dạng cự thạch Hàng Gòn đòi hỏi những điều kiện có tính tiên quyết đó là trí sáng tạo - tài tổ chức, sức mạnh cộng đồng được ươm mầm chính trong lòng một xã hội nguyên thủy đã tiến triển ở tầm cao cần và đủ của thời đại kim loại. Sự thành tạo “trơ gan cùng tuế nguyệt” quần hợp công trình đá lớn Hàng Gòn, những kho tàng kiểu Long Giao và những “cánh đồng chum” rộng lớn ở chính cương vực này bộc lộ một phần diện mạo Trung tâm Tinh thần Đồng Nai vào thời kỳ manh nha Nhà nước sơ khai kiểu Nam Bộ (Việt Nam) của phương Đông và châu lục này.

Kho tàng cổ Long Giao (10049’27’’B - 107046’06’’Đ) nằm cách mộ cự thạch Hàng Gòn hơn 4 km và cách thị trấn Xuân Lộc 20 km về phía Đông Nam. Di tích nằm trong sườn nón núi lửa cổ đất đỏ basalte (Đồi 57) thuộc địa phận Nông trường cao su Hàng Gòn, do ông Trần Văn Xý phát hiện 1982. Một phần di vật thu ở độ sâu 0,2 m sau đó được cán bộ Bảo tàng Đồng Nai, Trung tâm KCH thu hồi lại, bao gồm: 16 vũ khí được gọi là “Qua” (Ko), 12 mảnh vỡ của đốc và lưỡi qua. Vào 5 - 1984, khi điều tra Châu Thành, họ tìm thêm 3 lưỡi qua lưu lạc đến đây. Cho đến đầu thập kỷ 90, phòng Truyền thống Nông trường cao su Cẩm Mỹ tiếp nhận nhiều di vật do các nông trường viên đào được ở Long Giao. Đáng quan tâm nhất là: 2 qua đồng, 2 rìu đồng, 3 rìu bôn đá, 1 thẻ đeo có khoét lỗ xỏ dây đeo dạng bùa; đặc biệt có cả 2 tượng trút bằng đồng (chỉ thu hồi được 1). Tượng tả thực hình con trút (tê tê - “Manis Javanica”) dài tới 37 cm, bụng rộng 9,8 cm, phần đầu thú miêu tả khá sinh động, với mõm dài nhọn, mắt gờ tròn, vành tai nổi, bụng và chóp đuôi để trơn thể hiện da mềm, duy chỉ có chân không tạo 5 móng nhọn như vật thật. Đây chính là khối lượng lớn và nặng nhất (3,4 kg), là tiêu bản duy nhất thể hiện loài thú này trong tâm thức điêu khắc tiền sử và nghệ thuật tạo hình tượng tròn Đồng Nai xưa. 21 tiêu bản qua tìm thấy hiện biết bao gồm 4 loại, với nhiều kiểu khác nhau về cấu tạo dáng lưỡi, kích thước và trọng lượng đặc thù.

Hiện tượng cả sưu tập qua đồng kỳ lạ về dáng lưỡi, chưa từng thấy về kích thước - trọng lượng và tinh xảo về hoa văn trang trí hình học trên toàn bộ lưỡi - đốc - chuôi dồn đồng trong 1 phạm vi đất vừa phải, như vậy thật khó có thể là vết tích của mộ táng, dầu đó là nơi yên nghỉ của nhân vật có thế lực nhất cộng đồng; mà chỉ có thể hình dung là 1 kho tàng (tresor) lưu giữ vũ khí và tượng quý của người cổ Đồng Nai. Những kho tàng tương tự lưu giữ vũ khí - công cụ đã có ở Tiểu Đồn, Hầu Gia Trang, An Dương (Hồ Nam - Trung Quốc), ở Hạ Băng, Cầu Vực, chứa đầy trong trống đồng Đông Sơn hay cả kho tên đồng nổi tiếng hàng vạn mũi Cổ Loa (Hà Nội). Cùng với sự có mặt của thể loại binh khí kiểu qua ở Dốc Chùa, Bàu Hòe, Gò Quéo; sưu tập Long Giao cho thấy thứ vũ khí quen thuộc và được ưa chuộng của con người ở miền đất rộng lớn này chính là một hiện tượng khảo cổ học thuộc về thời kỳ Sắt đã tương đối phổ biến - khi mà công cụ - khí giới sắt đã xuất hiện, hoàn chỉnh về dáng hình - uy lực đủ sức loại bỏ các di vật đồng thau tương ứng để dồn nguồn quặng vốn hiếm vì phải nhập khẩu cho việc luyện đúc những di vật lớn đến kỳ lạ kiểu qua và tượng trút Long Giao. Đây cũng chính là thời điểm tương đương với những niên đại C14 trong những “cánh đồng chum” Phú Hòa - Suối Đá hay nằm dưới tấm đan vừa khám phá ở mộ Cự thạch Hàng Gòn - nửa sau TNK I tr.CN. Như vậy, sưu tập qua Long Giao, với những đặc điểm có liên hệ nguồn gốc với những nhóm qua “tiền thân” của nó ở Dốc Chùa, Gò Quéo, Bàu Hòe, chính là thể hiện đầy đủ nhất đặc trưng cơ bản của thể loại vũ khí này ở Đông Nam bộ và cực Nam Trung bộ. Chúng phân biệt thật rõ với sản phẩm cùng loại của các văn hóa khác ở Trung Nguyên (Hoa Bắc - Hoa Trung - Nội Mông Cổ, Tứ Xuyên), Đông Sơn hay Thái Lan, song mặt khác lại hàm chứa không ít nét tương đồng về chi tiết của loại hình và kiểu thức trang trí hình học với qua Đông Sơn (Núi Voi) hoặc Thái Lan (Ban Dhart, Ban Chiang - Udon Thani, Udorn, Nan Mu’ong). Chính những nét gần gũi này đã góp phần thể hiện mối quan hệ đa tuyến, về quy mô và tầm vóc của văn hóa Đồng Nai với các trung tâm văn minh kim khí khác ở Việt Nam và Đông Nam Á lục địa.

Trong bình diện ấy, nếu hình dáng qua Long Giao nảy sinh từ Dốc Chùa - Gò Quéo, thì hoa văn và nguồn gốc cảm hứng của nó bắt đầu từ phong cách đặc sắc của văn minh đồ đồng Việt cổ mà giới khoa học thế giới vẫn gọi là “Phong cách Đông Sơn” (Dongsonian Style). Dầu không có những hình người hóa trang nhảy múa - chèo thuyền - giã gạo - đi săn hay giáp trận, không có cá - chim - thú như trên qua hay thạp - trống Đông Sơn, nhưng những họa tiết bình dị khác của Đông Sơn lại được người nghệ sĩ Long Giao tiếp thu và gạn lọc vì chúng phù hợp với tâm hồn và cốt cách cổ truyền của họ. Sự nở rộ của kiểu thức trang trí hình học mang dáng dấp Đông Sơn trên đồ đồng Long Giao chính là bằng cớ gián tiếp ủng hộ sự có mặt của trống đồng Đông Sơn (Heger I) ở Bình Phủ - Phú Chánh - Vũng Tàu - Bù Đăng - Phước Long thời sơ Sắt và sự hòa nhập của cuộc sống Việt cổ vào cuộc sống nơi đây. Cùng với trống đồng, các kiểu dáng hoa văn này chính là bằng chứng minh định quan hệ Đông Sơn - Đồng Nai ở những thế kỷ sôi động gần Công nguyên nhất - khi những âm thanh của đàn đá truyền thống hòa nhập tiếng trống đồng vang vọng khắp miền châu thổ rộng lớn và giàu sức sống này. Và, nếu như luận điểm của H. Loof - Wissowa coi sự có mặt của trống đồng Heger I như là biểu tượng “quyền uy Đông Sơn” ở đó đây trong vùng Đông Nam Á là chính xác, thì quyền uy Đông Sơn được người cổ đón nhận ở Đông Nam Bộ phải chăng ngoài trống đồng cho thủ lĩnh, còn có qua đồng - bằng chứng của lòng can đảm và uy lực Đồng Nai xưa? Và, nếu như ý kiến của Lý Tề coi qua là thứ vũ khí bộc lộ cho uy quyền - thứ “quyền trượng” hoặc “nghi trượng” được dành trang bị cho đội trưởng hay thủ lĩnh 1 đội quân, là chính xác thì, nhóm qua Long Giao sẽ cho phép chúng ta hình dung mức đông đảo và mạnh mẽ của những đội quân tương ứng - được trang bị loại vũ khí lợi hại này trong cuộc sống lao động - chiến đấu và chiến thắng sự lấn lướt của kẻ thù và ác thú để sinh tồn, kiến thiết và làm miền đất trù phú này. Cũng từ đấy mà hình tượng Thủ lĩnh - người có quyền uy nhất cộng đồng xã hội trong công cuộc giữ gìn những sáng tạo văn hóa vật chất - tinh thần Đồng Nai xưa được tôn lên.

Kho tàng Qua đồng Long Giao thực sự là một đóng góp cho hiểu biết của chúng ta về đỉnh điểm của văn hóa cổ Đồng Nai và bản sắc của tầm cao ấy trong lịch sử. Khi những cư dân của vua Hùng và vua Thục An Dương, bằng lợi thế của địa hình giàu quặng, đã đưa bộ khí giới đồng thau của họ đến đỉnh cao về lượng - loại, làm cơ sở vật chất bền vững cho sức mạnh giữ nước Văn Lang - Âu Lạc thời sơ Sắt và đỉnh điểm của văn minh Sông Hồng được xác lập bằng sự nở rộ của trống và thạp đồng - những công trình ưu tú của trí tuệ Việt cổ; thì vào lúc ấy, bộ đồ đồng Đông Nam bộ đã mau chóng qua đi sự hưng khởi Dốc Chùa - Bưng Bạc và gần như toàn bộ bị công cụ - vũ khí sắt tương ứng thay thế. Chính trong thời điểm lịch sử đó, qua Long Giao - thứ vũ khí mà sắt khó đại diện, nhất là khả năng biểu đạt những giá trị tinh thần và nghệ thuật, đã hình thành như một ngoại lệ đẹp và đặc sắc của Đồng Nai. Bộ qua Long Giao, nhờ thế, gắn bó hữu cơ và là một trong những nét biểu hiện cho khối kết tinh văn hóa cổ Đồng Nai, mà chính nó đã góp phần tạo cho bản sắc của tầm cao Đồng Nai khác với tầm cao Sa Huỳnh và Đông Sơn thời đại Sắt. Thêm nữa, phát hiện kho tàng Long Giao và qua đồng Long Giao nằm trong địa bàn quy tụ của những di tích tiêu biểu nhất cho toàn vùng Đông Nam bộ thời sơ Sắt - nhóm di tích Suối Chồn - Phú Hòa trên địa bàn Xuân Lộc - Long Khánh; phải chăng điều đó còn gợi ý về một vùng đất trung tâm của văn hóa cổ Đồng Nai - một vùng đất có nhiều công cụ sản xuất - khí giới sắt, nhiều đồ trang sức lộng lẫy, có mộ đá đồ sộ và mộ vò dày đặc, có tượng tròn hiếm quý, có qua và trống đồng quyền uy - một vùng đất từng là trung tâm quy tụ, trung tâm tinh thần một thời vang bóng của người cổ Đồng Nai? Và, phải chăng trống Bình Phủ - Phú Chánh - Vũng Tàu - Bù Đăng - Phước Long và mộ cự thạch Hàng Gòn chính là những dấu hiệu đầu tiên về sự hình thành và lớn lên một cơ cấu quyền lực tối cao, vượt lên trên đội ngũ thủ lĩnh có đặc quyền trang bị qua đồng, của cộng đồng tộc người này?

Phát hiện kho tàng Long Giao và qua Long Giao là hình ảnh lóe sáng, một biểu tượng hoành tráng của đồ đồng và kỹ nghệ đúc đồng Đông Nam bộ ở đỉnh điểm của nó: Đỉnh cao Suối Chồn - Phú Hòa thời Sắt sớm. Đây cũng chính là đỉnh cao nhất của cuộc sống tiền sử - sơ sử Đông Nam bộ - một cuộc sống mà gian nan và hào hứng rải ra trong nhiều Thiên niên kỷ trước Công lịch, với những sưu tập đá lớn nhất Việt Nam ở Cầu Sắt - Suối Linh - Mỹ Lộc - Phước Tân, những bộ khuôn đúc lớn nhất khu vực ở Dốc Chùa - Bưng Bạc, những sưu tập kiếm - dao - nỏ - suốt đan lưới bằng căm - xe hay gỏ đỏ chưa từng thấy ở Cái Vạn, những bộ thạch cầm độc đáo Bình Đa - Lộc Hòa, kho tàng qua - tượng trút Long Giao, quần thể mộ cự thạch Hàng Gòn - những “Hiện tượng Đồng Nai” trong lịch sử thăng trầm của Văn hóa và Văn minh Đông Nam Á.

Comments