4. Xã hội cổ Đồng Nai - Đời sống kinh tế và văn hóa thời kỳ tiền, sơ sử

IV. XÃ HỘI CỔ ĐỒNG NAI - ĐỜI SỐNG KINH TẾ VÀ VĂN HÓA THỜI KỲ TIỀN - SƠ SỬ:

Với những thông tin khảo cổ học hiện nay, có thể khẳng định rằng: Sự tiến bộ của toàn bộ đời sống xã hội vật chất - tinh thần thời tiền sử - sơ sử Đồng Nai được xây dựng trên nền tảng kinh tế sản xuất nông nghiệp và sự mở rộng của lao động thủ công, mà trước hết là kỹ nghệ sản xuất công cụ chế tạo phổ thông (generalized tools) bằng đá cũng với công cụ trực tiếp khai thác kiếm sống bằng tre gỗ chuyên hóa (specilized tools) kỹ nghệ gốm, muộn hơn là luyện kim và dệt vải. Chính trong các loại hình kinh tế sản xuất này, khuynh hướng hoạt động kinh tế quan trọng nhất là phương thức nông nghiệp trồng lúa - rau củ nguyên thủy đã đem lại cho người cổ Đồng Nai nguồn thức ăn cơ bản, thường trực và chất lượng nhất, mà chính nó đã ngự trị ở đây gần như khắp mọi nơi và trong các thời kỳ lịch sử.

Người cổ Đồng Nai có thể đã bắt đầu trồng lúa ngay từ thời cư ngụ ở Cầu Sắt - Suối Linh hơn 4000 năm trước. Những hạt lúa nguyên và vỏ lúa hay dấu vết của rơm rạ quan sát được trong phôi gốm hoặc trong đồ đựng và kiến trúc gỗ ở Phước Tân Hưng, Cái Vạn, Bưng Bạc cũng như một số di chỉ khác ở Đồng Nai minh định sự gắn bó của loài hoa thảo này với cuộc sống kinh tế và văn hóa của họ. Theo nhà nông học T. Watabé (1978), loài lúa trồng cổ xưa nhất, ưu việt của cả vùng đồi gò bán sơn địa Nam Đông Dương đã được trồng rộng rãi liên tục kéo dài đến sau Công nguyên là loài Oriza Sativa. Giống lúa này mang tính chất trung gian của lúa cạn và lúa nước; có kích cỡ hạt cực nhỏ và ngắn (4,4 x 2,1 cm) “phải là cây trồng ở đất khô hạn nói chung”. Chúng khác lúa nước, dù vẫn cần nước để sinh trưởng trong các thời kỳ nhất định và với vùng đồi gò bán bình nguyên Đồng Nai thì “hầu như việc trồng trọt chủ yếu dựa theo thời tiết mưa nhiều và thời vụ thuận lợi hơn cả để trồng lúa cạn ở đây khoảng tháng 9 - tháng 5 Dương lịch” (1).

Sử hiện diện những khu di chỉ định cư lâu năm, thậm chí tới 300 - 600 năm với bề dày đáng kể của tầng văn hóa sinh hoạt vật chất không gián cách là bằng chứng gián tiếp quan trọng nhất để khẳng định cơ sở thiết yếu của việc định cư dài lâu của đông đảo người cổ, và vai trò chủ đạo của nghề trồng lúa cạn không dùng sức kéo trong sự phát triển kinh tế cổ xưa ở Đồng Nai. Trong nền cảnh địa - sinh thái nhiệt đới Đông Nam bộ, các chỉ dẫn ghi nhận gần như tất cả những điều kiện cần và đủ cho sự phát triển nông nghiệp nương rẫy ở châu thổ màu mỡ của hệ thống sông Đồng Nai. Chính ở những tiểu vùng trọng yếu này, chúng ta được chứng kiến sự tập trung sinh tụ và hoạt động sản xuất của cư dân nông nghiệp cổ Đồng Nai. Điều đó được chứng minh bằng những cụm di tích định cư từ 1 - 3 ha, mà trong lòng từng di tích chứa đựng những loại hình nông cụ cơ bản quan trọng của quá trình sản xuất, bắt đầu từ công việc chặt cây, phát quang nương rẫy, gặt hái xử lý hạt và kết thúc bằng việc thu hoạch mùa màng, tuốt hay nghiền hạt, bảo lưu hạt và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.

Trước hết, những loại hình di vật chủ yếu và phổ biến nhất, có thể nhận dạng gần như ở bất cứ nơi nào ở Đồng Nai, khi nơi đó được tiến hành điều tra, khảo sát, thám sát hoặc khai quật khảo cổ học. Những loại hình di vật ấy được xem như những nông cụ được người cổ Đồng Nai sử dụng để chặt cây phát quang khoanh vùng nương ruộng và đào xới đất canh tác hoặc gia công những nông cụ tre gỗ khác, như: rìu bôn, cuốc, mai hay thuổng bằng đá và kim loại bằng đồng thau hay sắt. Nếu như sưu tập chày và bàn nghiền hạt được phát hiện còn làm nhiều nhà nghiên cứu băn khoăn khi lý giải loại ngũ cốc được chế biến đã dưỡng trồng hay còn hoang dại; thì sưu tập dao gặt phổ cập ở Đồng Nai đã khẳng định ý nghĩa quan trọng của chúng đối với việc thu hoạch mùa màng, với những kiểu loại xưa nhất làm bằng đá ở các làng cổ Cầu Sắt - Suối Linh, những lưỡi dao hái bằng đồng thau Dốc Chùa và các lưỡi liềm sắt chôn trong mộ chum Xuân Lộc. Rất có thể, việc thu hoạch với sự trợ giúp của dao đá hoặc đồng gá trên khung cán tre gỗ chỉ nhằm tuốt lấy hạt diễn ra trên những cánh đồng, nương rẫy liên quan đến lý giải huyền thoại bản địa Mẹ Lúa và tín ngưỡng nông nghiệp lấy việc trồng lúa làm trung tâm. Sự xuất hiện những lưỡi liềm sắt có chuôi tra cán và nhiều công cụ gặt có rìa rộng phù hợp cho thu hoạch cả ở đồng ngập nước và có thể tận dụng cả những loại cây cỏ làm rơm rạ. Những yếu tố trên có ý nghĩa quan trọng trong việc chứng minh rằng sự phát triển nông nghiệp ở hạ lưu sông Đồng Nai đã đạt đến một trình độ cao. Vì nhờ đó, mà quá trình gặt hái đã được dễ dàng hơn và nhanh hơn, hiệu suất lao động được nâng cao rõ rệt; đồng thời đáp ứng yêu cầu thu hoạch nơi địa bàn mới, khác lạ với truyền thống của nông nghiệp Đồng Nai cổ.

Cùng với sự vắng bóng ở Đồng Nai kỹ thuật dùng cày (liên quan đến việc sử dụng sức kéo của người và động vật, ví như 73 lưỡi cày đồng phát hiện trong nhiều vùng sinh thái của người Việt cổ), sự phổ cập của tổ hợp nông cụ mang đậm tính năng canh tác và thu hoạch ở những miền địa hình Đồng Nai là bằng cớ cụ thể cho giả định về sự hiện diện những hình thái đơn giản và cổ xưa nhất của nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa bán sơn địa trên những vùng kinh tế - dân cư trọng yếu thời kim khí: bán bình nguyên đất đỏ basalte và hệ thống bậc thềm phù sa cổ. Việc trồng lúa nước trong châu thổ với giống loài kém chịu hạn (như việc sản xuất thâm canh ở đồng bằng Nam bộ ngày nay) được ghi nhận nơi đây khá muộn màng. Nếu như R.O. Whyte (1972) có lý khi cho rằng kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước không thể xuất hiện trước khi phổ cập đồ sắt, mà sắt hiện diện ở Đồng Nai theo những bằng chứng hiện có không sớm hơn 500 năm trước Công lịch, thì nông nghiệp lúa nước nếu có mặt ở hạ lưu Đồng Nai vào thời điểm này cũng khu biệt nơi những vùng ven đầm lầy cận biển, các cù lao và bãi nổi mới bồi tụ, chứ chưa thực sự khai triển trên đa phần mặt bằng châu thổ (Hà Văn Tấn 1987; Phạm Đức Mạnh 1991). Trước khi lúa nước trở thành cây lương thực quan trọng với sự manh nha kỹ thuật canh tác mới mang sắc thái của nghề trồng lúa thâm canh “trong châu thổ” mới thành tạo, chủ yếu ở đồng bằng Cửu Long, mà bằng cớ đầu tiên không sớm hơn thế kỷ 2 - 7 sau CN, có thể vững tin rằng: Nông nghiệp nương rẫy trồng lúa cạn, cây có quả - củ cho bột và hoa màu khác là hiện thực rộng khắp cương vực đồi gò bán bình nguyên, thung lũng suối sông và đồng bằng cao Đồng Nai trong thời tiền sử.

Việc sử dụng nông cụ bằng kim loại để chặt cây phá rừng khai hoang canh tác và thu hoạch mùa màng đã tạo nên khả năng làm tăng sản phẩm trồng trọt của nông nghiệp, ghi dấu một giai đoạn quan trọng trong sự điều hành và khai triển ngành sản xuất chủ đạo của chủ nhân nền kinh tế cộng sinh vùng đất Đồng Nai thời tiền sử - sơ sử. Sự hiện diện của những sưu tập chum gốm cỡ lớn với chiều cao tới 50 - 80 cm và đường kính bụng gần tương đương, cùng khối lượng lớn các mảnh vỡ của chúng trong hàng loạt di chỉ cư trú cổ Đồng Nai cũng là những bằng chứng gián tiếp minh định hiệu quả cao của sản xuất nông nghiệp bản địa, bởi lẽ, ngoài khả năng sử dụng để chứa nước phục vụ nhu cầu sinh hoạt thường nhật nơi cư trú, một chức năng thông dụng khác có thể được nghĩ đến là bảo tồn lương thực. Và, nếu những chum cỡ lớn Đồng Nai chuyên dùng trữ hạt lương thực sau thu hoạch, thì chúng có dung lượng chứa không dưới 100 kg/tiêu bản.

Sự tiến triển sản xuất nông nghiệp gắn liền với khai triển luyện kim đã nâng cao khả năng đảm bảo đời sống và mức sống nguyên thủy và ghi nhận những tiến bộ kinh tế - văn hóa mới của xã hội cổ Đồng Nai, đặc biệt từ nửa sau TNK I tr.CN. Trong lúc đem lại sản phẩm lương thực rõ ràng là nhiều hơn và ổn định hơn các nghề kiếm sống khác, chính nông nghiệp đa canh và luân canh trên nhiều dạng địa hình với vị trí hàng đầu của lúa cạn, bên cạnh cây có củ cho bột, tăng cường dự trữ lương thực - thực phẩm cộng đồng, tạo điều kiện định cư lâu bền và mở rộng địa bàn sinh sống khắp đồng bằng ven sông và đầm lầy cận biển, củng cố sự giàu có và quyền quản lý tài sản của từng nhóm người riêng lẻ, đưa đến sự xuất hiện ngày càng rõ của phân chia giàu nghèo và quyền lực, đặc biệt rõ ở “thời đại cây kiếm sắt” trong các “cánh đồng chum” Xuân Lộc, dẫn đến sự xuất hiện phân hóa giai cấp trong lòng xã hội nguyên thủy Đồng Nai vào sơ kỳ thời đại Sắt. Đấy cũng là cơ sở kinh tế nền tảng đảm bảo đời sống và sự bình ổn của toàn bộ hoạt động xã hội cổ “... ở một trong những vùng đất phì nhiêu nhất Đông Nam Á đương thời (Bellwood P. 1978).

Trong điều kiện môi trường sinh thái nhiệt đới Nam bộ, nông nghiệp trồng lúa cạn và cây có quả - củ thể hiện tính tích cực khai thác mặt bằng và chiều sâu thổ nhưỡng Đồng Nai hiển nhiên đem lại nguồn thức ăn chủ yếu và ổn định nhất, nhưng không tách rời các phương thức kiếm sống và khai thác triệt để nguồn lợi của sinh cảnh khác như chăn nuôi và săn bắn chim thú, mò cua bắt ốc ven suối, câu cá trong hồ đầm và chài lưới dài ngày trên sông - biển, hái lượm quả trái hoang dại, lấy nhựa cây tô nhuộm màu cho áo gốm, hái lá làm thuốc chữa bệnh, hay hạt hột (như Kơ - nia) cung cấp dầu và đạm thực vật.... Sự tổng hợp nguồn liệu khảo cổ học, đặc biệt sự giám định di tồn thực phẩm cổ, cho chúng ta biết vai trò không nhỏ của kinh tế khai thác ở đây, cũng như sự lấn áp của nghề săn bắn chim thú so với chăn nuôi trong thời tiền sử Đồng Nai. Kết quả giám định các xương cốt động vật khai quật ở nhiều làng cổ văn hóa Đồng Nai (Bình Đa, An Sơn, Dinh Ông, Rạch Núi, Bến Đò, Dốc Chùa, Bưng Bạc, Cái Vạn...) cho biết tới hơn 50 kg xương răng thú hoang và thuần dưỡng với hàng chục ngàn tiêu bản thuộc các bộ: ăn thịt (Carnivora), gặm nhấm (Rodentia), ăn cỏ (Herbivora) hay guốc chẵn (Artiodaetyla). Trong đó, hơn 400 tiêu bản được xác minh chó nhà (Canisfamiliaris) hiện là sưu tập lớn nhất Đông Nam Á; gần 800 tiêu bản của hơn 250 heo rừng (Sus scrofa), mỗi con nặng trung bình 70 - 75 kg, có khi tới 100 kg; 10 tiêu bản của bò rừng (Bos Gaurus) và di cốt của gần 20 giống loài muông thú, bò sát, giáp xác và nhuyễn thể khác. Ví như có loài sống trong rừng già hay lau sậy như: khỉ vọc (macaca, Semnopithecus), báo vàng (Felis Temineki), voi (Elephas Indicus), chồn hương (Paradorurus Hermaphroditus), hươu nai hoẵng (Cervus Eldis, Axis Porcinus, Cervidae sp., Muntiacus Mutjac), cheo cheo (Tragulus sp.), kỳ đà mốc (Varanus cf. Salvator), chim hay gà rừng; có loài sống ở ven đầm lầy như: tê giác (culbitus), rái cá bé (Lutra cf. Sumatrana); hoặc dưới nước như: rùa vàng lớn (Testudo sp.), cá sấu (Crocodylus Porosus), ốc leng, ốc bươu, hầu, sò huyết, cua biển.... (Lê Trung Khá 1980, 1985, 1989).

Những tồn tích thức ăn nguyên thủy minh định nguồn lợi vô cùng phong phú của miền rừng đầm và sông biển Đồng Nai thời đại kim khí, đã cung ứng những nguồn liệu quan trọng và thú vị cho hiểu biết “thực đơn” thời tiền sử và tập tục săn bắn - chế biến - ăn uống - tận dụng nguyên liệu chế tác công cụ - vũ khí - trang sức của những “nhà thiện xạ” và ngư dân Đồng Nai xưa. Ví như, việc sử dụng chó lúc đi săn, giữ nhà, bảo vệ nương rẫy nông nghiệp; nhu cầu tiêu diệt lợn rừng không chỉ nhằm thỏa mãn cư dân cổ về thực phẩm, mà còn để bảo vệ mùa màng; việc xả thịt thú ở hiện trường săn bắn, bổ sọ heo lấy não, bẻ xương chi để hút tủy; do cốt thú cắt đoạn bị cháy sém hay không gợi ý con thú săn được bị người thợ xẻ để nướng hay luộc ăn; cách chặt đít ốc lấy thân mềm; câu cá sấu hoặc cá lớn bằng lưỡi câu lớn chế tạo từ sừng hươu; chế công cụ hình rìu vai bằng mai rùa biển, mài nhọn xương trụ chó làm dùi và kim khâu; hoặc chế xương sừng thú làm đồ trang sức....

Đó cũng là những thói quen cổ truyền, bên cạnh những tập tục đặc thù khác, còn ghi nhận trong đời sống nhiều cộng đồng tộc người ở Đông Nam Á lục địa và hải đảo, mà trong đó 3 con vật gần gũi nhất với con người là chó, lợn và gà. Đây cũng là 3 loài động vật được con người mang theo mình khi chinh phục thế giới hải đảo Thái Bình Dương. Theo một số học giả, lợn được thuần dưỡng (Sus domestica) từ dạng Sus Scrofa với không gian tự nhiên thời tiền sử giới hạn ở Đông Nam Á lục địa, Sumatra và Java, là vật nuôi quan trọng nhất vì chúng chứng tỏ sự hiện diện của nông nghiệp. Nếu lợn đích thực là thuần dưỡng thì chúng cần, dù chỉ một phần, được nuôi bằng chính thức ăn do con người sản xuất ra, và vì thế mà trong kinh tế xây dựng trên nền tảng săn bắn - hái lượm rất giản đơn là con người không cung ứng được.

Ở Đồng Nai trong thời đại kim khí, bên cạnh 2 hoạt động kinh tế trực tiếp đưa lại thành phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu lương thực - thực phẩm cổ, các ngành kinh tế thủ công phụ trợ có vai trò quan trọng để cung cấp nông cụ và trang bị phương tiện cho các hoạt động kiếm sống như săn bắt, đánh cá, hái lượm và phục vụ đời sống tinh thần bình dị đặc thù của chủ nhân miền văn hóa này. Một số ngành nghề thủ công Đồng Nai truyền thống rất đặc sắc, nhưng chỉ được nhận dạng qua các dụng cụ hay thành phần còn bảo tồn. Ví như: nghề se sợi - dệt vải (dấu tích chỉ còn là sưu tập gần 500 dọi se sợi bằng đất nung và vết vải in trên các đồ tùy táng chôn theo người chết); nghề đan lưới (suốt lưới bằng gõ đỏ hay căm - xe), nghề mộc (làm nhà sàn, đóng thuyền, chế tạo kiếm - dao - cung nỏ - đũa - chốt...); nghề chế tác đồ xương, sừng (đẽo, gọt, mài, cưa, chặt, chẻ, tách, trau chuốt từ các nguyên liệu như sừng hươu, xương cẳng chó, đốt sống thú, mai rùa biển, vỏ trai làm công cụ - dụng cụ - vũ khí - trang sức); nghề rèn sắt (sản phẩm công cụ - vũ khí - trang sức cho phép hình dung phương pháp chế tạo và quy trình công nghệ đơn giản thô sơ, từ khai thác quặng thiên nhiên đưa vào lò nấu chảy bằng phương pháp hoàn nguyên đem nung đỏ bằng “ống bễ” của lò rèn rồi đem gò trên đe tạo hình vật dụng) (Nguyễn Công Bình - Lê Xuân Diệm - Mạc Đường, 1990). Ở đây, tập trung trình bày các nghề còn nhiều tồn tích vật chất nhất, như: làm gốm, chế tác đá và luyện đúc hợp kim đồng thau.

Nghề làm gốm: Vết tích khảo cổ học minh chứng rằng: Ngay từ thời lập làng Cầu Sắt, Suối Linh giữa TNK III tr.CN, người nguyên thủy Đồng Nai đạt trình độ cao của nghề làm gốm bằng bàn xoay, với thành phẩm phân định rõ chức năng sử dụng như đồ đựng, đồ đun nấu, đồ ăn uống. Những sản phẩm trên đơn giản về dáng vẻ, mộc mạc, bình dị trong trang trí. Nghề làm gốm Đồng Nai phục vụ trước hết các nhu cầu của nông nghiệp, ngoài ra còn chế tạo dụng cụ cho nhiều ngành nghề khác, như: đạn cho săn bắn hoang cầm, nồi nấu - muôi rót và khuôn đất cho luyện đúc kim loại, ống chỉ và dọi se chỉ cho nghề dệt, chì lưới cho nghề đánh cá, quả cân cho thương mại, bàn xoa gốm cho chính công đoạn tạo hình đồ đựng gốm... Đặc sản của nghề thủ công lâu đời này thể hiện rõ nhất những “đặc tính” bình dị và thực dụng của văn hóa vật chất Đồng Nai. Điều đó còn được bộc lộ trong cuộc sống sản xuất - chiến đấu, trong nếp sinh hoạt và đời sống tinh thần của cộng đồng người cổ nơi đây.

Gốm cổ Đồng Nai, ngoại trừ nhóm ít xương xốp làm từ sét phù sa sông (với yếu tố vi lượng kẽm 0,01%, phốt pho 0,1%) về cơ bản thô và cứng, độ nung cao (trung bình tới 500 - 6000 C do khoáng caolinit bị hủy gần hết) nên chất lượng tốt, rắn chắc không thua gốm Đông Sơn và hơn nhiều so với gốm Sa Huỳnh ở tất cả các loại hình. Đồ đựng thường làm với sự trợ giúp của bàn xoa và kỹ thuật bàn xoay nhanh từ cát núi pha sét lọc, bã thực vật, vỏ nhuyễn thể nghiền vụn, một số pha cả than, thường lẫn nhiều khoáng vật. Căn cứ vào kết quả phân tích thành phần hóa học gốm qua nghiên cứu hóa - quang phổ và tia rơn - ghen do E. Saurin, Hoàng Thị Thân và các nhà khoa học Việt Nam sau này, có thể thấy nhiều nguồn sét khác nhau được người thợ gốm tiền sử khai thác tại chỗ. Ví như, trong vùng đất đỏ basalte Xuân Lộc và Gia Rai có chứa tới 70% hàm lượng sét núi, các “mỏ sét” trữ lượng lớn như sét trắng, sét trắng xám ở Thái Hòa (gần Hố Nai), Tam Hiệp (dày tới 10 m), phía Bắc chợ Búng (gần Hòa Thanh, Thuận Giao), ở Đất Cuốc (gần Tân Uyên); hoặc sét trầm tích ở Bến Cát (gần Chánh Lưu)... Ngoài ra, những khoáng vật phụ gia trong xương gốm Đồng Nai có thể khai thác từ nhiều doi cát phù sa ven bờ sông suối bắt nguồn từ Đông Bắc chảy qua những vùng có hoặc không phủ basalte lớn đến Xuân Lộc - Long Khánh, với nhiều nguồn khoáng gốc (Ví như: có những khoáng gốc basalte như olivine, ferro - magnésien, spinelle liménite; từ khoáng gốc granite như hornbleinde, zircon, mica, rutile, micro - granite, rhyolite (quartz, corrodes); từ đá biến chất - staurotite, đá trầm tích - grès, latérite - écomite ferrogineux, felspat...), cung ứng nguyên liệu phụ gia cho nhiều lò làm gốm Đồng Nai xưa.

Gốm cổ Đồng Nai thường phủ lớp áo dày với không ít loại được bôi màu nâu đỏ, vàng, xám, trắng, xanh, đen với các sắc độ. Ngoài các dạng văn có nguồn gốc kỹ thuật chiếm chủ đạo và rất thường được sử dụng làm nền như chải, thừng, in; còn có văn khắc vạch, miết tạo băng, đắp nổi, vuốt gờ và tô vẽ màu bằng bút lông đầu nhỏ, thể hiện độc lập hay phối hợp, tạo thành hàng trăm motype và đồ án trang trí khác nhau; song dung dị, khoáng đạt và thường giới hạn ở phần trên đồ đựng. Văn in chấm miệng vỏ sò hay trổ lỗ bằng cuống rạ và lối trang trí dầy đặc khắp di vật, kể cả trên chân đế (đặc trưng của trang trí gốm Sa Huỳnh ở ven biển) hiếm có đến xa lạ ở đây. Về loại hình, đồ gia dụng Đồng Nai không ít “đặc sản”, nhất là chum hình cầu có hay không băng khắc vạch viền vai; bát, đĩa nông lòng; mâm bồng với chân đế cao và rộng; cốc hình trụ; chậu miệng bẻ; bình đáy tròn hay có hình con tiện để trơn không trang trí; đồ đựng kiểu vò có gờ vai đắp cao; hỏa lò của ngư dân hay nông dân sinh sống trên nhà sàn... Song nhìn chung, gốm Đồng Nai đơn giản mộc mạc, trong khi gốm Đông Sơn ở miền Bắc và gốm Sa Huỳnh ven biển miền Trung có kiểu hình phong phú, phong cách trang trí duyên dáng hài hòa hơn.

Nghề sản xuất đồ đá: Đây là nghề phổ cập và cổ điển nhất, với sự góp mặt gần hết thao tác kỹ thuật cơ yếu của kỹ nghệ chế tác đá tiền sử - tìm kiếm và lựa chọn nguyên liệu, tách đập, bổ chặt, ghè đẽo trực tiếp và gián tiếp, tu chỉnh một hay nhiều lần, mài phá và trau chuốt, sửa chữa và cải biến để tận dụng phế phẩm, cưa và khoan... Đây cũng là nghề thủ công có vai trò như là nền tảng kỹ thuật của sự phát triển kinh tế - xã hội Đồng Nai, “đã góp phần tạo nên bản sắc và đặc trưng vật chất cơ bản nhất của cuộc sống cư dân văn hóa Đồng Nai” (Nguyễn Công Bình - Lê Xuân Diệm - Mạc Đường 1990). Sản phẩm của “mỹ nghệ” đá chiếm tới hơn 80% tổng số công cụ lao động - vũ khí và vật phẩm nghệ thuật Đồng Nai cổ, với các nguồn liệu đa dạng được người thợ đá khai thác tại chỗ. Phổ biến nhất là đá sừng hoặc phiến sừng, có nguồn gốc từ sét kết - bột kết; đá phun trào, chủ yếu là andezit, andezitobazalt (porfirit), daxit porfir bị biến chất, với các thành phần khoáng vật chủ đạo là thạch anh, cocdierit, biotit có cacbonat, epidot - zoizit có hocblen hoặc felspat, clorit, xerixit, porfir (phun trào axit). Ngoài ra là các loại đá basalte olivin hoặc dolerit, quaczit hoặc quaczit biotit biến chất từ cát kết. Về cơ bản, chúng có kiến trúc ban biến dạng (ít loại có kiến trúc garbo), hạt biến tinh, thường bị biến chất tiếp xúc nhiệt, cấu tạo khối trạng, nên hạt thường mịn, cứng nhưng dòn, vừa thích hợp cho việc chế tác và sử dụng công cụ, lại dễ khai thác vì nguồn liệu sẵn trong nhiều bãi cuội lộ thiên dọc hệ thống sông Đồng Nai và các chi lưu ở cả tả và hữu ngạn. Ngoài những công trường (như đồi Phòng Không) chuyên chế tạo vòng tay bằng kỹ thuật đục và khoan tách lõi ở 1 - 2 mặt từ các loại đá mềm hoặc khối trạng như basalte, sa thạch mịn, đá bùn xám xanh, cát kết biến chất, phiến sừng đen, đá sừng andalurit, xerixit, clorit, thạch anh, ít quaczit, daxit; thành phẩm ưu tú của kỹ nghệ chế tác đá bản địa là các bộ đàn đá - sản phẩm tiêu biểu cho tài năng “những người thầy của đá” Đồng Nai và thần thái diện mạo văn hóa và sinh cảnh Đồng Nai xưa, khám phá ở các làng cổ Bình Đa, Gò Me, Rạch Lá, với khởi hình có thể tìm trong sưu tập đá Suối Linh. Trong những làng cổ thuộc giai đoạn văn hóa phát triển cao, có thể quan sát được sự thuyên giảm rõ rệt vai trò của công cụ - vũ khí đá liên quan chặt chẽ với sự xuất hiện và tăng trưởng của những di vật tương ứng bằng đồng thau và sắt.

Những nguồn liệu vật chất thu thập từ các cuộc khai quật ở đây (khuôn đúc sa thạch, nồi nấu và muôi múc đồng, xỉ đồng và sưu tập sản phẩm nguyên dạng công cụ - vũ khí - trang sức - di vật nghệ thuật từ mộ táng và kho tàng) khẳng định chắc chắn về tính bản địa của nghề sản xuất khuôn, mẫu và chế luyện tại chỗ đồ kim loại trong hàng loạt làng cổ Đồng Nai: Cái Vạn, Cái Lăng, Rạch Lá, Võ Dõng, Bình Đa, Gò Me, Suối Chồn, Dầu Giây... Lần đầu tiên ở Đông Nam Á, chúng ta được chứng kiến một sưu tập khuôn đúc đến hàng trăm tiêu bản từ 25 di tích, chỉ tính riêng 11 địa điểm thuộc TNK I tr.CN đã thu được 144 tiêu bản = gần 95% toàn bộ khuôn đúc Đồng Nai. Trong đó, chỉ riêng số lượng khuôn đúc khai quật ở Dốc Chùa (76 chiếc) và Bưng Bạc (38 chiếc) đã lớn hơn toàn bộ khuôn sưu tập lâu nay ở cả Đông Nam Á (Lào, Thái Lan, Mã Lai và Indonesia). Đương nhiên, trên địa bàn Đông Nam bộ hiện tại vẫn chưa có nỗ lực kiếm tìm các dấu vết chứng nhận hoạt động khai thác quặng đồng cùng quặng những hợp kim cần có và sơ chế kim loại. Sự vắng mặt nguồn quặng đồng trên lãnh thổ Đồng Nai và các nghiên cứu địa - hóa - lý đồ đồng Đông Dương hiện biết, cho phép giả định rằng: những nghệ nhân luyện kim cổ Đồng Nai có thể sử dụng nguồn quặng nhập khẩu với các vùng phụ cận qua phương thức trao đổi giao lưu thông thương bình đẳng và định kỳ chủ yếu nhờ các dòng chảy huyết mạch Mekong và Sông Bé. Phân tích quang phổ mẫu vật cho biết: công cụ - vũ khí - di vật nghệ thuật Đồng Nai được chế tạo không phải từ đồng đỏ nguyên chất, mà là từ đồng thau hợp kim nhân tạo: Cu+Sn+Pb (61,4%), Cu+Pb+Sn (22.7%), hoặc hỗn kim Cu+Sn (9,1%) và Cu+Pb (6,8%). Trong hệ thống di tích Phùng Nguyên - Đông Sơn, chiếm số lượng lớn nhất là nhóm mẫu hợp kim Cu+Sn+Pb (34,7%), Cu+Pb+Sn (25,5%) và hỗn kim Cu+Sn (20%), trong khi đồng nguyên chất chiếm tới 11,7% (Trịnh Sinh 1988). Tỷ lệ gần tương tự như thế được ghi nhận trong thành phần hợp kim của sưu tập Non Nok Tha (Thái Lan), trong đó, hỗn kim Cu+Sn+Pb theo nhận định của W. Solheim II là đặc điểm của sưu tập đồ đồng Đông Sơn điển hình.

Trong khung cảnh tiền sử - sơ sử Đông Nam Á, hiện nay chúng ta có thể đi đến nhận định rằng: Ngay từ nửa sau TNK II tr.CN, các trung tâm đúc đồng theo “phong cách Đông Sơn” ở Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc, cùng với Đông Bắc Thái Lan nhiều tiềm năng thành các lò sản xuất khởi nguyên của luyện kim đồng thau toàn khu vực. Dưới ảnh hưởng của những trung tâm này và xây dựng trên nền tảng nguyên liệu nhập từ Thái Lan, đã phát sinh và phát triển nghề chế tác kim loại đồng thau ở Đồng Nai. Một trung tâm luyện kim độc lập, tuy phụ thuộc vào nguồn quặng, vẫn chuyên biệt trong phong cách tạo khuôn 2 - 4 mang nhằm sản xuất hàng loạt những sản phẩm đồng thau của riêng mình có thể đã hình thành vào ranh giới 2 TNK II - I tr.CN ở cuối nguồn của Mekong. Bắt đầu từ TNK I tr.CN, những người thợ đúc Đồng Nai đã cung ứng cho cộng đồng người cổ thuộc cương vực Nam của văn hóa Sa Huỳnh gần như toàn bộ công cụ - vũ khí - trang sức bằng đồng thau, mà vài thế kỷ về sau còn tiếp tục chuyển giao đồ sắt. Cùng với binh khí mũi nhọn kiểu qua và nhạc khí kiểu trống đúc theo hình mẫu của “phong cách Đông Sơn” và những di vật đặc thù của Đồng Nai, nhất là rìu lưỡi trũng, giáo chuôi nhỏ, dao gặt và tượng tròn (trút Manis Javanica), bộ khuôn đúc lớn nhất khu vực chứng nhận sự phát đạt của nghề chế luyện vật phẩm kim loại trong các xưởng đúc khắp Đồng Nai, khắc họa những tiến bộ kỹ thuật và đặc trưng của giai đoạn phát triển cao trong truyền thống văn hóa tiền sử - sơ sử Đồng Nai và, cùng với Đông Sơn và Thái Lan, có thể tin được rằng: Đồng Nai đã thực sự trở thành một trong những trung tâm quan trọng nhất của kỹ nghệ luyện kim đồng thau Đông Nam Á.

Từ giữa TNK I tr.CN, Đồng Nai thực sự trở thành một trung tâm rèn sắt sớm với sản phẩm hoàn chỉnh minh chứng cho một cuộc sống sơ sử Đồng Nai thanh bình hơn là chiến trận, dẫu cho đây là “Thời đại cây kiếm sắt” (F.Engels). Sự phổ cập công cụ lao động - canh tác - thu hoạch bằng sắt góp phần chuyển đổi chất lượng và năng suất lao động, mở rộng những tiểu vùng kinh tế sản xuất và khai thác mới, củng cố những liên hệ kinh tế - kỹ thuật - văn hóa nội vùng, thành tạo những điều kiện cơ yếu cho tập trung tài sản, tích lũy kho báu, phân hóa giàu nghèo và cố kéo quyền lực trung tâm, đáp ứng sức ép của thực tế tăng trưởng dân số - di cư - nhập cư và nhu cầu phát triển của xã hội nguyên thủy bản địa vào xã hội văn minh có cấu trúc sơ khai của Nhà nước đầu tiên. Sự xuất hiện công cụ - vũ khí bằng sắt trên các cánh đồng và các chiến trường Đồng Nai thời sơ sử cũng là lúc bắt đầu xuất lộ những quả cân bằng đá ở Dốc Chùa và bằng sắt ở Phú Hòa. Đây chính là vật chứng bảo tồn để xác nhận sự phát đạt ở trình độ mới của sản xuất không chỉ đơn thuần phục vụ nhu cầu nội vùng của cộng đồng xã hội bản địa, mà còn đáp ứng cho việc triển khai trao đổi thông thương ngoại vùng từ lương thực - thực phẩm đến nguồn quặng, sản phẩm nghệ thuật - trang sức và chuyên dụng cho nghi lễ - tín ngưỡng thiêng quý và nhiều vật phẩm khác.

Có thể là ở đây và từ thời gian này, đã hình thành trên cơ tầng nông nghiệp cộng đồng sự phân công lao động xã hội sơ khai giữa các ngành kinh tế chủ đạo (nông nghiệp với nghề trồng lúa cạn là phổ cập và cả nghề trồng lúa nước ở những tiểu vực khả thực nhất, trồng hoa màu, cây có củ - quả và chăn nuôi) và những ngành cung ứng lương thực - thực phẩm tiền sử khác (săn bắn, đánh cá, hái lượm những sản phẩm thực - động vật của núi rừng, suối sông, đầm lầy và biển cả). Sự phân vùng khai thác các tiềm năng thiên nhiên khả quan nhất của mỗi tiểu vùng và chuyên môn hóa những ngành thủ công quan trọng nhất, cùng đội ngũ thợ nghề thực thi, phục vụ trước hết các đòi hỏi cổ truyền của kinh tế chủ đạo và yêu cầu đương đại của kinh tế nông nghiệp trồng trọt, khai thác, sản xuất thủ công và giao lưu thông thương nội và ngoại vùng, có tác dụng như là “Đòn bẩy mạnh mẽ của sản xuất” xã hội (F.Engels). Trong tổng thể kết cấu văn hóa của cộng đồng tộc người Đồng Nai, chính nền nông nghiệp dùng cuốc trồng lúa cạn triển khai nơi nương rẫy và đồng bằng là cơ sở nền tảng và là động lực cho sự phát triển đa dạng song chuyên hóa hệ ngành nghề hỗ trợ. Chính sự phát triển của nông nghiệp là “cơ sở kinh tế” của toàn xã hội tiền sử - sơ sử Đồng Nai, cũng như là “cơ sở kinh tế của cả những nền văn hóa và văn minh phát triển cao nhất” (Masson V.M. 1983).

Chính trong địa vực “cửa ngõ” (gateway) của các luồng giao lưu văn hóa - kỹ thuật trên sông biển Đông Nam Á, nơi được coi là “ngã tư đường của các nghệ thuật” (Le carrefour des Arts) (Groslier B.P.1961), hoặc “ngã tư đường của cư dân và văn minh” (Carrefour de peuple et de civilisation) (Jansé O.1961), những thương nhân Đồng Nai, trên những thuyền khoét rỗng từ gỗ cây hay bè mảng, thông thương ngược các dòng chảy huyết mạch hay men theo bờ biển, khai thông những hành trình giao lưu buôn bán với nhiều vùng đất - đảo khác của Đông Nam Á và châu lục. Có thể trong thực tế lịch sử còn tồn tại những con đường thông thương trên cạn, vượt núi, băng rừng gian khổ hơn; Nhưng trong TNK I tr.CN, khi mà bình diện khu vực của “phong cách Đông Sơn” đã thực sự hình thành, chúng ta có nhiều cơ sở để vững tin rằng: Các thương nhân Việt cổ đủ ý chí và năng lực sử dụng những thuyền lớn quen thuộc của mình (hẳn sẽ không khác hình thuyền khắc trên trống đồng mà họ là tác giả) men theo dòng chảy lớn nhất Đông Nam Á Mekong qua những lãnh địa có liên quan vào Đồng Nai, hoặc họ mở đường hàng hải trực tiếp vượt biển Đông vào Nam bộ. Đây cũng chính là những con đường giao lưu văn hóa - thông thương - chuyển giao kỹ nghệ - lan truyền các cảm hứng nghệ thuật và tín ngưỡng tiền sử - sơ sử trọng yếu nhất và khả quan nhất với trình độ sử dụng địa hình nguyên thủy trên đất liền, theo sông, vượt biển trực tiếp hoặc gián tiếp qua các văn hóa cầu nối vào Đồng Nai.

Sự ảnh hưởng của văn minh Việt cổ Đông Sơn đến Đồng Nai có hiệu lực như tác nhân kích thích quan trọng trong quá trình phát triển lịch sử văn hóa, mà, qua hơn một thế kỷ kiếm tìm và suy ngẫm, chúng ta quan sát được ở Đồng Nai. Thế nhưng, những nhân tố gắn liền với sự phát triển nội tại, quy định đặc trưng văn hóa tiền sử - sơ sử Đồng Nai và hun đúc Bản lĩnh và Hào khí người cổ Đồng Nai đóng vai trò quyết định. Bởi thế, cho dù có chứa đựng một số yếu tố “ngoại nhập” (đồ trang sức bằng đá quý - mã não như agate, granat, cornaline, bằng thủy tinh nhân tạo đủ màu sắc, bằng bạc hay vàng, bông tai có 3 mấu giống trang sức “Lingling - O” của thổ dân Philippines và có hình 2 đầu thú bằng ngọc nephrite, thủ pháp tô màu trang điểm gốm giống Tây Phương Thiên Trúc, phong cách đúc đồng theo nguyên mẫu trống Đông Sơn hay mẫu qua Hoa Hạ, tư duy mai táng người thân đã khuất trong các quan tài chum gốm hay tôn vinh công đức các thủ lĩnh trong các công trình đá lớn dạng “Dolmen” của văn minh hải đảo...), quá trình phát triển của phức hệ Văn hóa tiền sử - sơ sử Đồng Nai như một hiện tượng lịch sử riêng biệt. Về cơ bản, phức hệ văn hóa thời kỳ này của Đồng Nai có những nét độc đáo và phân biệt về chất với mọi văn hóa cùng thời kim loại ở qui mô toàn khu vực. Những đặc trưng và thành quả điển hình nhất của phức hệ văn hóa này được thể hiện trong tất cả các sưu tập di vật từ đá, đồng, sắt đến xương, sừng, bạc, vàng hoặc gốm. Chính những đặc trưng và thành tựu ấy đã phản ánh chân xác tình trạng xã hội Đồng Nai xưa. Kinh tế - văn hóa và tín ngưỡng tôn giáo sơ khai của cư dân bản địa, biểu hiện những nét đặc thù của nghệ thuật tiền sử - sơ sử Đồng Nai được sản sinh trên cơ sở Cầu Sắt - Suối Linh và lớn lên nhờ tiềm năng sinh thái nhiệt đới bán sơn địa - cửa sông - cận biển. Nhờ kinh nghiệm sống hòa nhập và biến đổi thiên nhiên, giao lưu, tiếp thu và không ngừng sáng tạo những thành tựu tri thức nhân loại ưu việt và hữu ích đương thời; lớp cư dân cổ qua nhiều thế hệ, đã xây đắp một xã hội Đồng Nai phát triển.

Trong hoàn cảnh lịch sử đặc thù ấy, sự diễn biến văn hóa nguyên thủy vào văn minh sơ khởi trên qui mô lưu vực là phản ánh sinh động và sôi nổi cuộc sống giao thời sơ sử - cổ sử Đồng Nai trong diễn trình hội nhập với văn minh Óc Eo. Sự diễn biến văn hóa buổi đầu của thời này mang diện mạo và khuynh hướng với cơ chế hội nhập trong các điều kiện - phương thức và tiến độ giao lưu mới nhanh mạnh và thực dụng hơn. Qua đó, xã hội cổ sử ở Nam bộ vào các thế kỷ đầu Công nguyên được chứng kiến những biến cố lịch sử chưa từng có trong tiền sử về ý nghĩa ngoài cộng đồng và công cuộc xây đắp làm giàu bản sắc truyền thống, tiến bộ hơn trong bối cảnh Nam Đông Dương đương thời. Đó là điều có thể hiểu và hình dung được từ tri thức khảo cổ học hiện trạng những trung tâm quần tụ - kết tinh sau tiền sử của một cấu trúc kinh tế - văn hóa - nghệ thuật - thương mại - chính trị - tôn giáo đa và liên cộng đồng thời sơ sử và cổ sử. Một tổ chức xã hội cao hơn, có tầm vóc lịch sử lớn hơn và có sức mạnh hơn, đặc trưng bằng sự manh nha nhà nước thuộc loại sớm của khu vực, cùng những kiểu đô thị thích hợp môi sinh và mang đặc thù ở bước đi ban đầu sau Công nguyên. Sự phát triển xã hội theo kiểu thức này đáp ứng hữu hiệu quá trình bành trướng ảnh hưởng của Văn minh sông Hằng (mà nhiều học giả Phương Tây và Bắc Mỹ gọi là “Ấn Độ hóa” (Hindouisé; Indianisé; Indianization) với các làn sóng văn hóa Bà la môn và Phật giáo từ Tây phương Thiên Trúc), và nhiều nơi khác nữa; đến vùng đất Nam bộ Việt Nam nói riêng và địa vực Nam Đông Dương nói chung. Nhờ giải mã thấu đáo các quy trình giao lưu tương hỗ và hội nhập văn hóa của lịch sử, có thể hình dung những đặc trưng của bức tranh tổng quát về quá khứ cổ sử miền cao nguyên và đồng bằng ven biển Đông ở tận cùng phương Nam của Tổ quốc ta hiện nay, trong khoảng 7 thế kỷ - tính từ lúc người Đồng Nai thực sự đã bước hẳn ra ngoài thời nguyên thủy.

Có thể nói, từ những đỉnh cao của cuộc sống tiền sử - sơ sử Đồng Nai với các làng cổ trên đồi cao, cù lao (Suối Chồn, Bình Đa, Cái Vạn...), đến những “cánh đồng chum” Xuân Lộc, mộ cự thạch Hàng Gòn và kho tàng vũ khí cổ Long Giao..., cuộc sống cổ sử lại bắt đầu ở chính mảnh đất “Biên Hùng” này...


Bảng 3: PHÂN TÍCH THÀNH PHẦN HÓA HỌC GỐM CỔ ĐỒNG NAI BẰNG PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ

 

DI CHỈ

 

CẦU SẮT

 

HÀNG

 

CÁI

 

HÀNG

NGUYÊN TỐ

M1

M2

M3

GÒN 1

VẠN

GÒN 9

Al

> 3

> 3

> 3

> 3

> 3

> 3

Si

10

10

10

10

10

10

Mg

0,3

0,5

1

0,3

0,3

0,2

Ca

0,3

1

1

0,2

2

1

Sr

0,01

0,02

0,01

 

0,02

0,01

Ba

0,02

0,03

0,03

< 0,01

0,01

0,01

Fe

3

3

3

2

2

3

V

0,002

0,002

0,003

0,003

0,003

0,002

Mn

0,03

0,005

0,03

0,01

0,01

0,01

Ti

0,2

0,3

0,3

1

0,3

0,3

Co

0,001

 

 

 

0,001

0,001

Ni

0,003

0,001

0,001

0,003

0,001

0,003

Cr

0,005

0,003

0,01

0,02

0,002

0,005

Mo

 

 

0,002

0,001

 

0,001

Sn

 

0,001

0,001

0,001

0,002

0,001

Cu

0,005

0,005

0,003

0,005

0,005

0,003

Pb

 

 

<0,001

 

<0,001

0,002

Ga

0,003

0,001

0,003

0,003

0,003

0,003

Be

0,0003

0,0003

0,0003

 

0,0003

0,0003

Na

 

0,1

 

 

0,1

0,1

Zn

 

0,01

0,01

 

0,01

 

P

0,3

0,3

0,3

0,3

0,3

0,3

Zz

0,001

0,002

0,002

0,002

0,001

0,002

THƯ MỤC: Diệp Đình Hoa 1977, tr.86 - 88; 1978, tr.31 - 42.

GHI CHÚ: Cầu Sắt: M1: gốm xương đen, pha cát, áo đỏ, nung cao, làm từ bàn xoay; M2: gốm xương đỏ, mộc, khá bở; M3: gốm xốp, đen, nhiều bã thực vật. Hàng Gòn 1: gốm đỏ, xương đen, mịn, áo dày, miệng hơi loe. Cái Vạn: gốm xương đỏ + đen; áo mốc trắng vàng, nhiều vôi, ít kẽm. Hàng Gòn 9: gốm thô pha nhiều cát, xương đen, áo đỏ dày.

 

Bảng 4: PHÂN TÍCH THÀNH PHẦN HÓA HỌC GỐM CỔ ĐỒNG NAI BẰNG PHƯƠNG PHÁP RƠN - GHEN

 

 

CẦU SẮT

HÀNG GÒN 1

HÀNG GÒN 2

STT

M1

M2

M3

 

 

 

j

d

j

d

j

d

j

d

j

d

3

 

 

 

 

 

 

 

 

2

8

6

 

 

 

 

1

5,75

 

 

1

5,34

 

 

 

 

 

1

5,57

 

 

 

 

7

 

 

 

 

<1

4,94

 

 

 

 

9

3

4,24

5

4,25

2

4,25

4

4,24

3

4,24

11

2

3,77

2

3,77

 

 

 

 

 

 

13

 

 

2

3,52

 

 

 

 

 

 

15

10

3,33

10

3,33

10

3,33

10

3,33

10

3,33

16

3

3,24

8

3,23

 

 

4

4,24

3

3,24

17

 

 

 

 

 

 

2

3,18

4

3,19

19

 

 

 

 

 

 

 

 

<1

2,98

20

 

 

1

2,99

 

 

 

 

 

 

22

 

 

1

2,57

 

 

<1

2,51

 

 

23

1

2,45

1

2,53

1

2,46

1

2,45

2

2,45

 

1

2,28

 

 

<1

2,28

<1

2,27

 

 

24

<1

2,28

1

2,46

 

 

<1

2,13

2

2,28

 

 

 

 

 

<1

2,13

 

 

<1

2,13

25

3

1,82

 

 

<1

2

<1

1,82

5

1,82

 

 

 

1

2,24

 

 

 

 

 

 

26

<1

1,66

1

2,13

1

1,82

 

 

1

1,7

27

1

1,54

 

 

 

 

<1

1,54

1

1,54

28

<1

1,51

 

 

 

 

1

1,38

 

 

 

THƯ MỤC: Diệp Đình Hoa - Trịnh Lệ Thư 1980, tr.106 - 108; 1981, tr.124 - 125.

GHI CHÚ: Cầu Sắt: M1: gốm làm bằng bàn xoay, thô bở, xương đỏ, ngoài đỏ, pha vôi, không áo, văn thừng; M2: gốm xương đen, pha cát, áo dày, màu đỏ, văn thừng thô; M3: gốm xốp, hơi đen, pha nhiều bã thực vật. Hàng Gòn 1: gốm làm bằng bàn xoay, mịn, pha cát thô, áo đỏ dày, xương đen, có miệng đứng, vành miệng loe. Hàng Gòn 9: gốm thô, xương đen, áo đỏ, có pha cát thô.

 

 

 

 

 


Comments