2.4. Kết luận

II.4. Kết luận:

Những di tích trong giai đoạn 15 thế kỷ sau Công nguyên ở Đồng Nai được phát hiện, khai quật đều là những kiến trúc được xây bằng gạch - gỗ; bằng gạch; bằng gạch - đá - cát kết hợp. Dựa vào bố cục cấu trúc và các cấu kiện, các di vật thu thập tại chỗ, có thể xác định những kiến trúc nói trên đều thuộc loại hình kiến trúc này có các bố cục hình chữ nhật, hình gần vuông, hình đa giác. Trong đó, những kiến trúc Cây Gáo I, Cây Gáo II (Vĩnh Cửu), Gò Chiêu Liêu, Gò Ông Tùng (Long Thành) thuộc loại bố cục hình chữ nhật; kiến trúc Rạch Đông (Thống Nhất), Đồng Bơ (Vĩnh Cửu), Nam Cát Tiên, Đạ Lắk (Tân Phú) thuộc loại hình gần vuông hoặc vuông; và kiến trúc Gò Bường thuộc loại hình chữ nhật có những đường bẻ góc (đa giác). Hầu hết các công trình kiến trúc của di tích đều được đào sâu xuống đất trước khi khởi dựng. Đây là những dạng đền - tháp, huyệt thờ dùng vào mục đích của tôn giáo rồi lấp kín, nện chặt, đắp đất cao hơn so với mặt đất xung quanh.

Những di tích ấy có niên đại sớm muộn khác nhau. Sớm nhất là các di tích Cây Gáo (Vĩnh Cửu), Gò Chiêu Liêu, Gò Ông Tùng, Suối Cả (Long Thành), vào khoảng thế kỷ I - III sau Công nguyên, tương đương với giai đoạn đầu của văn hóa Óc Eo. Tiếp đến là các di tích Rạch Đông (Thống Nhất), Bàu Sen, Đồng Bơ (Vĩnh Cửu), Nam Cát Tiên, Đạ Lắk (Tân Phú) vào khoảng thế kỷ VII - VIII tương ứng với giai đoạn văn hóa hậu Óc Eo. Di tích Gò Bường (Long Thành) vào thế kỷ X sau Công nguyên. Và di tích Cầu Hang, Tân Hạnh (Biên Hòa) vào khoảng thế kỷ XI - XII sau Công nguyên. Ngoài ra, có vài di tích hoặc cụm di tích có nội hàm văn hóa gồm nhiều niên đại khác nhau. Trong đó, di tích Bến Gỗ (Long Thành) có niên đại từ thế kỷ VII - VIII đến thế kỷ XI sau Công nguyên. Di tích Bửu Sơn và các di tích phụ cận là một quần thể di tích có niên đại từ thế kỷ VII - VIII đến thế kỷ XII. Riêng di tích Bửu Sơn - Cây Chàm còn có những cổ vật (tượng thần Vishnu dạng phù điêu, những tấm phù điêu hình lá đề...) thuộc nghệ thuật Champa, mà pho tượng Vishnu - Biên Hòa là tiêu biểu. Có một di tích khác, có thể là bến cảng, gồm nhiều cổ vật nguyên vẹn thu thập dưới sông Đồng Nai từ Cù Lao Rùa đến Cù Lao Ba Sang (Bến Gỗ). Trong sưu tập cổ vật này có bộ phận thuộc giai đoạn từ thế kỷ VII - VIII đến thế kỷ XII - XIII như pho tượng thần Vishnu to lớn, những đồ gốm mang phong cách Óc Eo muộn, phong cách Kulen (thế kỷ IX) và cả phong cách thế kỷ XI - XIII.

Những di vật được tìm thấy trong di tích hoặc các địa điểm trên vùng Đồng Nai hầu hết là các tượng thờ, đồ vật dùng trong sinh hoạt, thể hệ chức năng của tôn giáo... mà chủ yếu là hai giáo phái Vishnu và Siva. Giáo phái Vishnu thờ tượng thần Vishnu hay một bộ phận tượng, hay vật thiêng tương ứng (những di vật tìm thấy ở di tích Đồng Bơ, Bàu Sen, Rạch Đông, dưới sông Đồng Nai và một số ngôi chùa khác). Giáo phái Siva thờ tượng thần Ganesa, Uma, Mahirvara, Linga - Yoni (các di vật tìm thấy ở Đạ Lắk, Bửu Sơn, Bến Gỗ, Hội Phước, Long Bình). Trên vùng Đồng Nai, cho đến nay chưa phát hiện sự có mặt của các tượng thần Brahma, Hari - hara, Surya, Nandin, Mukha - Linga.... Về Phật giáo có phát hiện tượng Thích ca ngồi trên mình rắn Naga bảy đầu (sưu tập hiện vật dưới sông Đồng Nai) có niên đại vào thế kỷ XII sau Công nguyên. Nhìn chung, phong cách nghệ thuật thể hiện trên các di vật tiêu biểu mang truyền thống văn hóa Óc Eo, hậu Óc Eo; có ảnh hưởng nghệ thuật Ăng - co và Champa.

Những di tích, di vật phát hiện trên toàn vùng Đồng Nai là nguồn tư liệu quan trọng trong việc bước đầu tìm hiểu mối quan hệ lịch sử, văn hóa của địa bàn Đồng Nai với các vùng phụ cận trong diễn trình lịch sử từ thế kỷ I cho đến thế kỷ XV sau Công nguyên.

Comments