4. Mối quan hệ lịch sử văn hóa Đồng Nai với các vùng phụ cận

IV. MỐI QUAN HỆ LỊCH SỬ VĂN HÓA ĐỒNG NAI VỚI CÁC VÙNG PHỤ CẬN:

Trên cơ sở nghiên cứu khảo cổ học và sử liệu, chúng ta có thể nói rằng trên đất Đồng Nai vết tích con người tồn tại - phát triển khá liên tục từ thời kỳ đá cũ - đá mới - kim khí đến khi người Việt vào khai phá. Cư dân ở đây không chỉ cùng chung con đường tiến hóa trong vùng mà còn hội nhập, kế thừa, phát triển văn hóa bản địa hài hòa với địa sinh thái trong vùng.

Từ những thế kỷ trước Công nguyên thuộc thời kỳ kim khí, cư dân ở đây đã có sự giao lưu văn hóa giữa các tộc người Ấn Độ và Đông Nam Á bằng đường biển thông qua cửa biển Cần Giờ, dần dần du nhập vào đất liền. Thương hải cảng Cần Giờ được xem là đầu cầu quan trọng, một trung tâm hưng thịnh giao lưu kinh tế - văn hóa trong vùng và đạo Hindu - Ấn Độ giáo cũng được du nhập vào vùng Đồng Nai. Nơi đây có thể là điểm khởi đầu của những công trình kiến trúc tôn giáo mà phát triển cực thịnh về sau ở Óc Eo, bởi những di tích kiến trúc thuộc giai đoạn văn hóa này được biết đến nay có niên đại khá sớm so với đồng bằng Nam bộ.

Ở vùng Đông Nam Á, một số bộ tộc hùng mạnh, hình thành nhà nước sơ khai, thành lập vương quốc. Mở đầu cho việc hình thành nhà nước là Vương quốc Phù Nam rồi đến Champa. Chiếm cứ cả một vùng rộng lớn từ đèo Cả đến Nam bộ Việt Nam ngày nay. Đây là hai vương quốc chịu Ấn hóa mạnh mà các học giả phương Tây gọi là "Ngoại Ấn". Ở vùng Đồng Nai, Champa thuộc về phía Đông, Phù Nam thuộc về phía Tây, vùng này nằm đệm giữa hai vương quốc lớn. Theo sử liệu thì cùng thời với vương quốc Phù Nam có nước Bà Lợi đi triều cống nước Trung Hoa. Có lẽ Bà Lợi thuộc vùng đất Đồng Nai, thần phục Phù Nam.

Từ khi vương quốc Phù Nam hình thành, đất nước chia ra nhiều thành bang, một số thành bang có tên chữ đầu là núi, rừng, gò, sông... và sử liệu cho biết vào thế kỷ XIII có đến 74 nước lớn nhỏ ở bán đảo Đông Dương và quần đảo Nam Dương, lấy tên đất, tên bộ tộc đặt tên nước. Ngày nay, nhiều giả thiết của các nhà nghiên cứu có thể chấp nhận được về tên một số nước nằm trên vùng này như nước Xích Thổ nằm giữa Bà Rịa - Xuyên Mộc ngày nay, nước Bà Lợi xưa là Bà Rịa nay, nước Can Đà Lợi và Xích Thổ là Biên Hòa ngày nay; dân tộc Xtiêng là nước Xtiêng, dân tộc Mạ có nước Chê Mạ, dân tộc Gia Ray có nước Thủy Xá và Hỏa Xá... (1). Có lẽ nên gọi những quốc gia trên là bộ tộc thì đúng hơn vì nó khác với vương quốc Champa, Phù Nam hay Chân Lạp. Như vậy, trên vùng đất Đồng Nai thời kỳ văn hóa Óc Eo - Phù Nam có nhiều bộ tộc cộng cư, cùng phát triển kinh tế - văn hóa trong vùng.

Vương quốc Phù Nam xây dựng thương hải cảng Óc Eo và phát triển khá mạnh vào thế kỷ III - IV, thương hải cảng Cần Giờ mất dần thế chủ động, tuy nhiên không phải mất hẳn khi mà các sản vật địa phương còn khá dồi dào, thu hút các thương gia. Ở Óc Eo cư dân định cư, phát triển thương mại, tôn giáo cũng thịnh hành. Các di tích kiến trúc đền thờ đạo Hindu được phát triển khá tập trung và di vật vô cùng phong phú với nhiều dạng, nhiều loại mang truyền thống văn hóa cả một vùng rộng lớn Nam Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia...

Kinh đô Phù Nam đóng ở Ba Phnom thuộc tỉnh Prey Ven, Đông Nam Campuchia ngày nay. Hệ thống cai trị theo thể chế quân chủ chuyên chế, đứng đầu là một vị vua, xã hội phân chia giai tầng theo thể chế của Ấn Độ. Vùng Đồng Nai lệ thuộc Phù Nam trên danh nghĩa vì vùng này ở quá xa trung tâm chính trị, phương tiện đi lại, liên lạc khó khăn. Các bộ tộc ở đây tự tổ chức quản lý theo tập tục truyền thống là chính. Hơn nữa, các bộ tộc vốn thích sống tự do với tín ngưỡng thờ đa thần và không muốn ràng buộc trong thể chế chính trị, chữ viết, tôn giáo quá mới lạ; nên họ dần dần tách khỏi vương quyền lui về các thung lũng, xung quanh là rừng núi ở phía Nam dãy Trường Sơn. Song cũng có bộ tộc tiếp thu văn hóa Óc Eo - Phù Nam, du nhập đạo Hindu - Ấn Độ giáo, xây dựng những đền thờ mang kiểu thức truyền thống Ấn Độ kết hợp với truyền thống kiến trúc bản địa, hình thành nét kiến trúc mới.

Trên vùng trung lưu sông Đồng Nai, khảo cổ học phát hiện một cụm gồm nhiều di tích kiến trúc gạch có dạng đền tháp, mộ cổ của đạo Hindu được phân bố hai bên bờ sông Đồng Nai thuộc huyện Cát Tiên (Nam Lâm Đồng) và huyện Tân Phú (Bắc Đồng Nai). Một số di tích kiến trúc, mộ táng đã được khai quật và thu thập số lượng lớn các di vật gồm tượng thờ và vật thiêng mang đặc trưng văn hóa hậu Óc Eo. Có thể cụm di tích này có mối quan hệ mật thiết với các di tích khác cùng thời ở vùng hạ lưu sông Đồng Nai. Bước đầu đoán định là trung tâm của vương quốc Châu Mạ. (1)

Giữa thế kỷ VI, Chitrasena thôn tính Phù Nam, hình thành vương quốc Chân Lạp. Vùng đồng bằng Nam bộ bị ngập nước. Cư dân chuyển dần lên vùng cao, kinh đô Chân Lạp xây dựng vùng Tonle Sáp (Biển Hồ), thương hải cảng chuyển về vùng eo biển Malacca và bờ biển Đông Nam Xumatra, nên các di tích kiến trúc đền thờ đạo Hindu không thấy xuất hiện trong vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long. Chúng được xây dựng trên những giòng đất cao ven sông, suối, chủ yếu trên địa phận Kampuchia ngày nay. Các di tích kiến trúc mang truyền thống đa các (Phù Nam), hồ nước (Chân Lạp). Di vật được thờ vô cùng phong phú, đa dạng. Đạo Phật cũng được du nhập vào với hai giáo phái Đại thừa và Tiểu thừa.

Trong khi đó, trên vùng đất Đồng Nai di tích kiến trúc đền thờ đạo Hindu - Ấn Độ giáo được tìm thấy trên khắp vùng đồi núi, trung lưu và hạ lưu đồng bằng cận biển. Di tích kế thừa truyền thống kiến trúc văn hóa Óc Eo trước đó. Di vật chủ yếu là tượng thần thuộc hai giáo phái Vishnu và Shiva mang phong cách nghệ thuật Óc Eo. Có thể nói ở Đồng Nai tiếp tục kế thừa văn hóa Óc Eo, hình thành văn hóa hậu Óc Eo.

Từ thế kỷ X về sau, giữa các vương quốc lớn luôn xảy ra chiến tranh tranh giành lãnh thổ, làm cho vương quyền suy yếu mất dần thế lực các vùng xa. Các bộ tộc dần tự chủ, hình thành các vương quốc mới. Vùng Đồng Nai nằm trên con đường chinh chiến của hai vương quốc Chân Lạp - Champa nên có ảnh hưởng văn hóa của nhau nhưng vẫn kế thừa văn hóa Óc Eo, hình thành nền văn hóa bản địa.

Từ thế kỷ XIV - XV vương quốc Chân Lạp dần suy thoái không còn vươn tới các vùng "Ngoại Ăng co". Vùng phía Đông, Vương quốc Champa phải rời bỏ kinh đô Vijaya (Đồ Bàn) bởi sự lớn mạnh của Đại Việt. Nội bộ hoàng tộc bất ổn định, Vương quyền suy yếu thu dần phạm vi lãnh thổ với kinh đô Panduranga (Phan Rang). Bấy giờ, vùng Đồng Nai không còn ảnh hưởng Ăng co phía Tây và chi phối quyền lực Champa phía đông. Có lẽ bia ký lịch sử phía sau tượng thần Vishnu Bửu Sơn là chứng tích cuối cùng của Champa. Vùng đất này trở nên hoang hóa chỉ có những tộc người bản địa sống ở các thung lũng vùng cao, mà Châu Đạt Quan miêu tả trong tập Hải ngoại ký sự "Bắt đầu từ Châu Bồ (Vũng Tàu hay Bà Rịa) hầu hết cả vùng đều là bụi rậm của khu rừng thấp, những cửa rộng của con sông lớn chạy dài hàng trăm lý, bóng mát um tùm của những gốc cổ thụ và cây mây dài tạo thành nhiều chỗ trú xum xuê. Tiếng chim hót và thú vật kêu vang vội khắp nơi. Vào nửa đường trong cửa sông, người ta mới thấy lần đầu cánh ruộng bỏ hoang, không có một gốc cây nào. Xa hơn tầm mắt chỉ toàn là cỏ kê đầy dẩy, hàng trăm, hàng ngàn trâu rừng tụ hợp từng bầy trong vùng này. Tiếp đó, nhiều con đường dốc đầy tre chạy dài hàng trăm lý..." (1).

Từ thế kỷ XVI vùng đất Đồng Nai hẳn có sự chuyển đổi cơ tầng xã hội bởi có những tập đoàn người Việt, người Hoa di dân vào khai phá xứ Đồng Nai mà khảo cổ học tìm thấy những vết tích văn hóa Lý, Trần ở Đại Làng; những loại hình đồ gốm trong bộ sưu tập gốm sứ dưới lòng sông Đồng Nai và vết tích cư trú khá dầy đặt trong vùng.

Theo kết quả nghiên cứu nhân chủng học trên những chiếc sọ cổ được tìm thấy ở các di tích An Sơn, Óc Eo (An Giang), Cạnh Đền (Kiên Giang), Gò Tháp (Đồng Tháp), gò Cái Lăng (Cần Giờ), gò Ô Chùa (Long An) và trong nhiều loại hình mộ táng: song táng, cải táng, địa táng cho thấy: di cốt sọ người thuộc chủng Indonesien, có tầm vóc trung bình, nam 1,62 m, nữ 1,60 m; gần gũi với tầm vóc dân tộc ít người hiện nay. Trước kia, họ cư ngụ trên vùng đất rộng lớn từ sông Tiền đến Tây nguyên. Do nhiều yếu tố tác động như chính trị, tôn giáo, chiến tranh, họ chuyển dần về vùng núi Nam Tây nguyên tự trị. Có lẽ hậu duệ của họ là cư dân bản địa Châu Mạ, Xtiêng, Chơro, Cơho, Mnông... đang sinh sống ở phía Bắc Đồng Nai, Bình Phước, Nam Lâm Đồng ngày nay. Những hình ảnh về một thời hoàn kim của họ còn lại trong ký ức được thể hiện thông qua một số tập quán, huyền thoại và trong những truyền thuyết dân gian.

Trong bài chuyên luận về lịch sử các dân tộc miền núi Nam Việt Nam của B.Bourotte, khi đề cập đến cư dân có giả thuyết cho rằng "Vùng đất Đồng Nai - Nam Tây nguyên vào đầu Công nguyên thuộc lãnh địa của vương quốc Phù Nam. Cộng đồng cư dân vùng này đã có sự pha tạp giữa lớp nhân chủng Indonesien bản địa (nguyên Đông Dương) với lớp nhân chủng đã Ấn Độ hóa".

Cư dân bản địa sống thành từng bộ tộc, trong bộ tộc có nhiều thị tộc nhỏ. Họ quản lý bộ tộc bằng luật tục mang tính cộng đồng, gia đình. Vùng đất cai quản được khái niệm trên lãnh vực mà cộng đồng mình khai phá canh tác. Đứng đầu mỗi bộ tộc là tộc trưởng, người có uy tín đứng ra giải quyết những xích mích trong nội tộc và làm chủ tế các buổi lễ hội. Họ sống trong những chiếc nhà sàn, nhà dài được chia làm nhiều ô cho những gia đình nhỏ trú ngụ. Nhà được làm bằng vật liệu nhẹ từ cây lá rừng, gần nhà cất một kho lúa dùng chung cho một thị tộc. Nhà cất trên những giồng đất gần sông - suối, gần thung lũng để thuận tiện sinh hoạt, sản xuất và giao lưu hàng hóa. Họ theo chế độ mẫu hệ, con theo dòng mẹ, con gái được quí trọng hơn con trai.

Đời sống kinh tế chủ yếu là nông nghiệp ruộng rẫy. Thương nghiệp cũng phát triển bằng đường hàng hải trên tuyến sông Đồng Nai - bến cảng Cần Giờ với các vùng phụ cận và Đông Nam Á. Sản phẩm trao đổi chủ yếu là các tài nguyên giàu có từ rừng như gỗ, ngà voi, mật, sáp ong để lấy những sản vật mà trong vùng không sản xuất được như vàng, thủy tinh, mã não.... Sản xuất nông nghiệp dựa vào thiên nhiên là chính "ăn rừng, uống nước trời", theo phương thức "hỏa canh, thủy nậu", mang tính tự cấp tự túc. Hình thái kinh tế chiếm đoạt như săn bắt, săn bắn, hái lượm đóng vai trò không nhỏ trong đời sống của họ. Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp cũng phát triển như tạc tượng, nung gạch, dệt, rèn, đan... Các sản phẩm mang tính kỹ thuật cao như nghề kim hoàn, nấu chảy thủy tinh, đồ gốm tốt được du nhập từ các nơi trong vùng. Nghề chăn nuôi ít phát triển vì gia súc, gia cầm được nuôi chủ yếu phục vụ cho các dịp tế lễ như hiến sinh, lễ cưới, cúng thần..., ít dùng trong sản xuất. Nghề làm gạch tại chỗ theo kiểu thức Ấn Độ chỉ dùng cho việc xây dựng các đền thờ thần linh của Hindu giáo.

Tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy là thờ đa thần, họ quan niệm mọi vật đều có linh hồn như: thờ thần núi, thần rừng, thần sông, thần lửa, thần rẫy, thần lúa. Khi đạo Hindu - Ấn Độ giáo du nhập vào, cư dân ở đây tiếp thu cải biến chủ yếu hai giáo phái thờ Vishnu, Shiva. Trong các di tích không tìm thấy nhiều dạng tượng thờ phối hợp được phát triển sau này như ở miền Tây Nam bộ. Đạo Phật cũng được du nhập nhưng khá muộn. Về sau, do nhiều nguyên nhân lịch sử, Ấn Độ giáo suy tàn. Cư dân trở về với tín ngưỡng truyền thống, thờ đa thần. Hàng năm tổ chức các lễ hội cộng đồng cúng Yang, lễ hội đâm trâu, mừng lúa mới...với những nghi thức độc đáo. Các phế tích kiến trúc đền thờ đạo Hindu - Ấn Độ giáo không còn được tôn sùng như trước, họ xem là khu vực thần linh, gắn liền với những truyền thuyết, chuyện cổ tích mang tính huyền bí.

Xã hội không phân chia giai cấp rõ ràng, sự giàu nghèo không cách biệt lớn, chủ yếu lấy vật dụng gia đình làm thước đo. Tuy nhiên, trong cộng đồng có những thành phần giàu có với những tài sản như chiêng, chóe, trâu...; thành phần nghèo là không có tài sản; thành phần nô lệ là những chiến binh thất trận, những người ở trừ nợ nhưng không phân biệt đối xử khắc nghiệt, có thể gọi họ là những người ở hơn là nô lệ. Xã hội theo chế độ mẫu hệ, tục thách cưới, ở rể phổ biến rộng rãi. Với quan niệm chết là về thế giới bên kia nên có tục lệ người chết được phân chia tài sản đồng đều với những thành viên trong gia đình và được chôn theo phương thức địa táng, xây dựng nhà mồ và bỏ mã. Gia đình có người chết sau khi an táng xong, ngôi nhà được dời đi nơi khác hoặc đốt làm nhà mới, theo quan niệm để trừ tà ma, bệnh hoạn. Đây có thể là một kiểu thức phản ánh tiêu diệt mầm dịch bệnh đã từng xảy ra trong cộng đồng trước đó.

Lớp cư dân bản địa thuộc hệ ngôn ngữ Môn - Khơmer, dòng Nam Á. Cộng đồng không có chữ viết riêng. Chữ Sanskrít du nhập từ Ấn Độ qua sự truyền bá đạo Hindu thể hiện trên những bia ký đối với họ vô cùng xa lạ.

Trang phục cư dân bản địa rất đơn giản, đàn ông đóng khố, đàn bà mặc váy, ngực để trần. Những tấm thổ cẩm, chăn, váy, khố đều do chính bàn tay họ làm ra từ những cây bông tự trồng, tự dệt; màu sắc tự nhuộm từ nhựa cây rừng; hoa văn trang trí được thể hiện khá tinh xảo.

Trang sức của họ cũng khá cầu kỳ như vòng tay, vòng chân, khuyên tai, vòng cổ bằng đồng, bằng bạc, hạt chuỗi, hạt cườm, mã não nhiều màu sắc. Tục cà răng, căng tai chỉ thể hiện trong một số nhóm cư dân.

Vũ khí là cây cung, cái tên, cái bẫy. Công cụ sản xuất là chiếc dao côi, chà gạc, chiếc rìu, cây chọc tỉa lúa, cối giã, sàn, nia, gùi.... Dù đi đâu như lên rừng, lên rẫy, xuống sông, suối họ đều mang theo dao côi bên hông, chiếc gùi trên lưng, vai mang chà gạc, tay cầm cung tên. Đó là những loại vũ khí tự vệ đồng thời là công cụ săn bắn phục vụ đời sống hàng ngày của họ.

Nhạc cụ là những bộ chiêng được xem như tài sản trong gia đình và vật dùng cúng thần linh trong lễ hội cúng nhang lúa, cúng thần linh, ma chay, cưới hỏi. Ngoài ra còn một số nhạc cụ tự tạo như đàn tre, kèn bầu, kèn môi, kèn lúa.... Trong cộng đồng cư dân còn lưu lại những bài ca truyền miệng, hát giao duyên, ru con, dân ca, trường ca phản ánh tình yêu, công việc làm và những chuyện cổ mang nhiều yếu tố huyền bí; những bài văn cúng thần, những điệu múa.

Cư dân bản địa ở Đồng Nai gồm nhiều bộ tộc có một quá trình phát triển liên tục và sáng tạo. Mỗi bộ tộc có một nét văn hóa riêng, chúng vừa bổ sung, vừa đan xen nhau hình thành một nền văn hóa đa dạng, độc đáo, phù hợp với điều kiện lịch sử, tự nhiên của Đồng Nai.

Vùng đất Đồng Nai từ thế kỷ I đến thế kỷ XV sau Công nguyên là điểm hội tụ, giao lưu của các cộng đồng cư dân. Với điều kiện lịch sử cụ thể của một giai đoạn phát triển có nhiều biến thiên của xã hội, đất Đồng Nai trở thành một vùng đất mở thu hút cư dân Việt đến khai phá, mở ra một thời kỳ phát triển mới.



(1) Ñòa chí Vaên hoùa Thaønh phoá Hoà Chí Minh, sñd, trang 140 - 141.

(1) Hoäi thaûo Bieân Hoøa - Ñoàng Nai 300 naêm - Traàn Quoác Vöôïng - 1997.

(1) Thích Ñaïi Saùn, Haûi ngoaïi kyù söï, Ban bieân dòch Söû lieäu Vieät Nam, Vieän Ñaïi hoïc Hueá, 1963, trang 105 - 106.

Comments