1.2. Tiến trình nhập cư của người Việt và những thành quả khai phá buổi đầu

I.2. Tiến trình nhập cư của người Việt và những thành quả khai phá buổi đầu:

Cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, vùng đất Đồng Nai trở nên sôi động với sự xuất hiện của lớp cư dân Việt từ miền Thuận Quảng di cư vào.

Thế kỷ XVI, trên đất nước Việt Nam đã diễn ra cuộc tranh chấp quyết liệt giữa hai tập đoàn phong kiến: họ Trịnh ở Đàng Ngoài và họ Nguyễn ở Đàng Trong. Cuộc giao tranh này kéo dài hết 175 năm trong đó có 45 năm từ năm 1627 đến năm 1672 đã diễn ra liên tiếp 7 trận đánh lớn. Để phục vụ cho chiến tranh, lối sống xa hoa, tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn thi nhau vơ vét cùng kiệt sức người, sức của dân chúng, gây nên cảnh đói khổ khắp nơi. Ở Đàng Trong, bóc lột của phong kiến họ Nguyễn, sự nhũng nhiễu ức hiếp của quan lại lớn bé, sự cướp đoạt ruộng đất và tô tức nặng nề của địa chủ đã đẩy dân chúng khổ sở, điêu đứng; phải rời bỏ làng mạc, ruộng vườn, xiêu tán đi nơi khác kiếm sống. Lê Quý Đôn ghi nhận rằng thời chúa Nguyễn Phúc Lan (1635 - 1648) “trong cõi đã xảy ra hạn và đói, dân xiêu dạt và chết đói rất nhiều” ([1][1]) và thời chúa Nguyễn Phúc Thuần (1765 - 1775) ở Thuận Hóa, luôn mấy năm mất mùa đói kém, nhà nước phải xuất lúa kho chẩn cấp cho dân đói không ngừng, còn quân sĩ và nhân dân thì ly tán và sinh lòng hoang mang, lưng chừng ([2][2]).

Bị khổ sở điêu đứng, những người dân miền Thuận Quảng phải rời bỏ quê hương bản quán, tìm đất sống. Đồng Nai - vùng đất gần như vô chủ lại mầu mỡ, phì nhiêu đã thu hút mạnh mẽ lưu dân Việt. Làn sóng di cư tự phát của lưu dân người Việt vào đất Đồng Nai ngày càng tăng. Thành phần lưu dân rất đa dạng, gồm: nông dân nghèo, người trốn tránh binh dịch, sưu thuế, tù nhân bị lưu đày, binh lính đào ngũ, thầy lang, thầy đồ nghèo và cả những người vốn đã giàu có nhưng vẫn muốn tìm nơi đất mới để mở rộng công việc làm ăn.

Những di dân người Việt thuộc lớp tiên phong đi vào vùng đất mới Đồng Nai theo phương thức tự động, đi lẻ tẻ. Có những trường hợp cả gia đình, hoặc người khỏe mạnh đi trước rồi đón gia đình đến sau hay một số gia đình kết lại thành nhóm cùng đi với nhau. Phương tiện di chuyển chính là thuyền buồm và ghe bầu vì thời bấy giờ việc đi lại giữa các phủ miền Trung với vùng đất mới Đồng Nai chủ yếu là bằng đường biển. Dĩ nhiên cũng có người vì không có ghe thuyền, phải mạo hiểm trèo đèo vượt suối đi dần từng chặng một, đến một địa phương ở một thời gian, thấy trụ được thì ở luôn, thấy không trụ lại được thì đi tiếp, cứ thế lần hồi rồi cũng vào tới vùng đất mới Đồng Nai. Nhưng số người đi theo kiểu này không nhiều vì đường đi quá gian lao. Thích Đại Sán, một nhà sư Trung Quốc, có mặt ở Thuận Hóa vào giữa thế kỷ XVII, có nhận xét: “... Đất nước Đại Việt chỉ là một dãy núi dọc theo mé biển, các đô ấp đều tựa núi day mặt ra biển, núi cao sông hiểm, cây rừng rậm rạp, nhiều tê tượng hùm beo, các phủ không có đường lối thông nhau, mỗi phủ đều do một cửa biển đi vào; muốn đi từ phủ này qua phủ khác tất do đường biển...Núi cao nắng gắt, trèo qua rất khó, nên đi thuyền theo đường biển tiện hơn” ([3][3]).

Tiến trình nhập cư của lưu dân người Việt từ miền Ngũ Quảng vào đất Đồng Nai - Gia Định trong thế kỷ XVII (và cả các thế kỷ sau) diễn ra liên tục cùng với cường độ ngày càng khốc liệt của cuộc chiến tranh phong kiến Trịnh - Nguyễn và mâu thuẫn giai cấp xã hội giữa chính quyền phong kiến, giai cấp địa chủ với giai cấp nông dân.

Tiến trình nhập cư đó ban đầu diễn ra tẻ lẻ, rời rạc, dần dần ồ ạt hơn, qui mô lớn hơn nhất là sau khi mối quan hệ giao hiếu, hòa hảo giữa các chúa Nguyễn với vua Chân Lạp Preachey Chettha II (1) đã tạo thuận lợi cho lưu dân người Việt vào vùng đất Đồng Nai làm ăn sinh sống.

Một giáo sĩ người Ý tên là Christofo Borri từng sống tại thị trấn Nước Mặn (Qui Nhơn) từ 1618 đến 1622 đã miêu tả khá tỉ mỉ về một phái bộ của chúa Nguyễn đi Chân Lạp vào năm 1621: “Sứ thần là một người sinh trưởng tại Nước Mặn, một nhân vật quan trọng đứng sau chức tổng trấn. Sứ bộ gồm khá đông người cả quan lẫn lính, vừa nam vừa nữ, chuyên chở trên những chiếc thuyền lớn có trang bị vũ khí và bài trí lộng lẫy. Khi sứ bộ tới kinh đô U - đông thì dân chúng Khơ me, thương nhân Bồ Đào Nha, Nhật Bản, Trung Hoa đã tụ hội đông đảo để đón tiếp và hoan nghênh”(2).

Năm 1623, khi sản xuất có bước phát triển, việc giao lưu hàng hóa diễn ra ngày càng nhiều, thì chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên cho lập sở thu thuế ở vùng Chợ Lớn và Bến Nghé ngày nay. Việc lập sở thu cho thấy số lượng lưu dân đã trở nên đông đảo và việc đi lại buôn bán đã có phần tấp nập.

Cho đến những thập kỷ cuối thế kỷ XVII, thế lực của chúa Nguyễn ở vùng Đồng Nai - Sài Gòn đã tăng lên mạnh mẽ, hỗ trợ đắc lực cho lưu dân người Việt đến định cư và khai thác vùng đất này.

Về số lượng lưu dân người Việt nhập cư vào đất Đồng Nai trong thế kỷ XVII qua các đợt di dân tự phát cho dù đến nay chưa tìm thấy một tài liệu thống kê nào, nhưng chắc chắn số lượng ấy không phải nhỏ. Điểm dừng đầu tiên của họ là vùng Mỗi Xuy (còn gọi là Mô Xoài) - Bà Rịa. Đây là địa đầu của vùng đất mới nằm trên trục giao thông đường bộ từ Bình Thuận vào, giáp biển, nằm giữa mũi Thùy Vân ở phía Nam và mũi Bà Két ở phía Bắc và vùng vịnh biển mang tên Ô Trạm (đây là một vùng rộng lớn từ Long Hương, Phước Lễ, Đất Đỏ ngày nay). Theo một số tài liệu thì từ những thập niên đầu thế kỷ XVII, ở đây, đã có người Việt vào làm ăn sinh sống theo sự thỏa thuận giữa chính quyền Đàng Trong và vương triều Chân Lạp. Đến nửa sau thế kỷ XVII, số di dân người Việt đến vùng này đã khá đông, trong đó có những di dân Công giáo trốn chạy sự cấm đạo. Những người này đã lập họ đạo Xích Lam gần Đất Đỏ (Bà Rịa).

Từ Mô Xoài, Bà Rịa - địa bàn đứng chân đầu tiên, di dân Việt tiến lần vào vùng Đồng Nai. Các điểm định cư sớm nhất của họ ở vùng này là Bàn Lân, Bến Gỗ, Bến Cá, An Hòa, Long Thành, Cù Lao Phố, Cù Lao Rùa, Cù Lao Tân Chánh, Cù Lao Ngô, Cù Lao Kinh, Cù Lao Tân Triều.

Tiến trình nhập cư của lưu dân người Việt vào đất Đồng Nai - Sài Gòn đã diễn ra liên tục trong suốt thế kỷ XVII. Kết quả là đến năm 1698, khi Nguyễn Hữu Cảnh theo lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu vào “kinh lược” (thiết lập hệ thống quản lý hành chánh, tổ chức việc khai thác đất đai và ổn định trật tự xã hội) thì dân số vùng này đã hơn 40.000 hộ, nếu tính bình quân mỗi hộ 5 người, thì tổng nhân khẩu là khoảng 200.000 người. Đây là nguồn nhân lực đầu tiên đã mang lại sự biến đổi cho bộ mặt kinh tế xã hội của một vùng đất vốn giàu tiềm năng nhưng chưa được khai thác.

Các giồng đất hai bên bờ sông thuộc vùng Nhơn Trạch, Long Thành, Biên Hòa và các cù lao thuộc trấn Biên Hòa (Cù Lao Tân Triều, Tân Chánh, Cù Lao Kinh, Cù Lao Phố, Cù Lao Rùa) là những nơi người Việt đến định cư và khai khẩn đầu tiên.

Những lớp di dân Việt đầu tiên ấy đã chọn những địa điểm thuận lợi. Ai muốn ở đâu, lập làng ấp chỗ nào tùy ý thích, vì lúc ấy sự quản lý hành chíïnh chưa được xác lập. Thường những nơi có nước ngọt dùng cho sinh hoạt và canh tác, chắc chắn là nơi định cư khai phá, lập làng của người dân di cư thời kỳ này.

Các vùng ven núi cũng là nơi lưu dân Việt đến sinh sống, vì có điều kiện khai thác các nguồn lợi lâm sản như săn bắn, khai thác gỗ, khai thác mỏ.... Ở núi Thiết Khâu“ tục danh núi Lò Thổi, cung nạp thuế sắt, quặng sắt...”Núi Ký“ tục danh núi Bà Ký... có suối nước ngọt cây cối um tùm, chim muông tụ tập, nhân dân bốn phương về ở, chuyên nghề săn bắn và lấy cây gỗ để sinh nhai, “Núi Nữ Tăng“ tục danh núi Bà Vải ở địa phận Long Thành. Dân núi lấy nhiều thổ sản ở núi ấy để cấp dưỡng. “Núi Sa Trúc“ tục danh núi Nứa, trên có nhiều nứa, dưới núi có chằm lớn, người chài lưới tụ tập làm nghề đánh cá rất đông”. “Núi Thoát Ky “tục danh núi Ghềnh Rái... trên núi có suối nước ngọt, dưới có dân chài nhóm ở sinh nhai” ([4][4]).

Tiến trình phân bố các địa điểm định cư và khai hoang của lớp cư dân mới ở đất Đồng Nai, qua tìm hiểu các tư liệu và điền dã thực tế, bước đầu phác họa một lược đồ như sau:

Vùng Mỗi Xuy, Bà Rịa là nơi có vị thế thuận lợi cả về giao thông đường bộ (từ Bình Thuận vào Nam) lẫn giao thông đường thủy (giáp biển Đông), là nơi di dân người Việt đến định cư khai khẩn sớm nhất. Theo một số tài liệu thì từ cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, ở khu vực Long Hương, Phước Lễ, Đất Đỏ (thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ngày nay) đã có mặt người Việt.

Từ Mỗi Xuy, Bà Rịa, di dân người Việt ngược sông Đồng Nai, hoặc mở đường bộ tiến sâu vào vùng Đồng Nai. Các địa điểm định cư và khai khẩn sớm là vùng Nhơn Trạch, Long Thành, Bến Gỗ, Bến Cá, Bàn Lân, Cù Lao Rùa, Tân Triều, Cù Lao Tân Chánh, Rạch Lá Buông...

Vùng Cù Lao Phố, đến thế kỷ XVII trở đi, “... người Kinh đến khai hoang lập ấp, chính yếu là tại Cù Lao Phố ngày nay và vùng lân cận. Cù Lao Phố lúc ấy đã có 32 xóm: xóm Chợ Chiếu về sau là xã Hưng Phú, xóm Rạch Lò Gốm về sau là thôn Hòa Đông, xóm Chùa (chùa Phước Lợi) về sau gọi thôn Bình Tự” ([5][5]).

Từ giữa thế kỷ XVII, trên cả một khu vực rộng lớn dọc theo sông Đồng Nai và cả vùng Sài Gòn - Bến Nghé, cùng với người Khơ me, người dân tộc bản địa, người Việt đã đến định cư và khai phá. Tuy nhiên vì dân cư còn ít, mà hầu hết lại là dân nghèo phiêu bạt, phương tiện sản xuất thiếu thốn, trình độ kỹ thuật còn hạn chế, những điểm định cư và khai phá chỉ rải rác dọc theo sông rạch nơi thuận tiện giao thông, đất hoang rừng rậm vẫn còn nhiều.

Với nếp sinh hoạt có tổ chức đã thành truyền thống, với bản tính siêng năng cần cù, ưa nếp sống quần tụ lưu dân Việt khi vào vùng đất mới đã nhanh chóng “kết thành chòm xóm” dựa vào nhau làm ăn, đùm bọc giúp đỡ nhau những lúc gặp khó khăn hoạn nạn, bảo vệ nhau chống lại thú dữ, trộm cướp, cường hào.... Khi số người đông lên do sinh đẻ tự nhiên, do người di cư tiếp tục bổ sung, xóm được mở rộng thành ấp, thành thôn, thành xã rồi tách thành thôn, xã mới.

Các thôn, xóm ban đầu (trong thế kỷ XVII) chỉ là một sự kết hợp tự phát, trên tinh thần tương thân tương trợ, chưa có luật lệ gì ràng buộc, chưa có những quy chế chặt chẽ so với những lệ làng, hương ước như các xã ở miền Bắc và miền Trung.

Những lưu dân xiêu dạt vào vùng Đồng Nai trong những thập niên cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII phần lớn là những người nông dân nghèo. Vào vùng đất mới, đã sinh sống bằng nhiều ngành nghề khác nhau như buôn bán nhỏ, đánh bắt cá, làm nước mắm, săn bắn, khai thác gỗ, hoặc một số nghề thủ công như dệt cửi, mộc, dệt chiếu, đan lát, làm đồ gốm... nhưng tuyệt đại bộ phận đều sống về nông nghiệp.

Lương thực thực phẩm là vấn đề quan trọng hàng đầu, vì vậy để có thể tiến hành sản xuất nông nghiệp, việc đầu tiên là phải khai phá đất đai. Việc khai phá đất đai của lưu dân Việt trong cuối thế kỷ XVI và thế kỷ XVII diễn ra hoàn toàn tự phát, không có sự hỗ trợ của chính quyền, dưới hình thái cộng đồng gồm một vài gia đình có quan hệ họ hàng thân thuộc hay cùng quê hương xứ sở.

Đứng trước cảnh rừng hoang cỏ rậm, kênh rạch chằng chịt, những lưu dân đã chọn những khu đất cao ráo, tương đối dễ làm để khai phá trước. Những khu đất này thường nằm lọt giữa một vùng rộng lớn chưa được khai phá. Cách khai phá này người xưa gọi là “móc lõm”. Những khu đất được khai phá đầu tiên sẽ được mở rộng dần và càng về sau khoảng cách giữa các khu càng thu hẹp và đến một lúc nào đó nối liền lại với nhau thành một cánh đồng liền khoảnh.

Quy mô khẩn hoang của lưu dân thuộc loại nhỏ. Đa phần lưu dân là tầng lớp nghèo, thiếu vốn, lương thực, công cụ, trâu bò... họ tận lực khai phá để mở rộng diện tích canh tác. Thực tiễn khai phá giúp người dân lưu tán nhận thức ra rằng bước đầu canh tác trên diện tích càng rộng càng tốt, tuy làm sơ sài nhưng chắc ăn hơn.

Trong gần một thế kỷ, với đức tính cần cù, siêng năng, kiên trì và chung lưng đấu cật, giúp đỡ lẫn nhau, lưu dân người Việt cùng người dân tộc bản địa từng bước khai phá cả một vùng rộng lớn từ Mỗi Xuy, Bà Rịa đến Đồng Nai (Biên Hòa). Những người đi khai phá buổi đầu ấy đã tạo ra những diện tích canh tác đáng kể, đặt cơ sở vững chắc cho việc mở rộng quy mô khai phá về sau.

Trước khi có lưu dân Việt đến khai phá, cư dân bản địa đã biết trồng lúa nhưng phạm vi và trình độ kỹ thuật còn bó hẹp. Lưu dân Việt đã đem theo những kinh nghiệm và kiến thức cổ truyền trong nghề trồng lúa nước đã được tích lũy từ bao đời từ quê hương Ngũ Quảng áp dụng trên diện tích vừa được khai thác. Đồng thời, họ tiếp thu và vận dụng những kinh nghiệm kỹ thuật thích hợp với điều kiện môi trường mới của cư dân địa phương, nên việc khai hoang, canh tác mang lại hiệu quả. Cùng với tiến triển khẩn hoang, lập làng, địa bàn trồng lúa ngày càng mở rộng không những ở các vùng đất gò cao ráo mà còn cả vùng đất trũng sình lầy ven sông. Diện tích trồng lúa ngày càng tăng thu hút làn sóng di dân đông đúc đổ dồn đến vùng đất hứa này. Nhìn chung hầu hết những nơi có lưu dân đến định cư đều được khai phá trồng lúa, lập vườn ngoại trừ những vùng đầm lầy trũng sâu, hoặc nhiễm phèn, nhiễm mặn.

Nền nông nghiệp ở Đồng Nai trong thế kỷ XVII chủ yếu là trồng lúa nước, song bên cạnh đó, họ còn trồng các loại cây ăn quả và hoa màu khác.

Thời kỳ mới khai phá, cảnh “trước vườn sau ruộng” đã trở thành phổ biến. Với tập quán lâu đời, người Việt khi đến vỡ hoang làm ruộng, còn lập vườn xung quanh nhà để vừa tạo cảnh quan vừa giải quyết nhu cầu hoa quả.

Bên cạnh những vườn cây ăn quả, ở một số nơi đất cao, đất bãi, người nông dân khai phá trồng các loại hoa màu như: đậu, bắp, mè, bí; các loại củ như khoai môn, khoai lang, khoai sáp, khoai từ, sắn... và mía để làm đường mật.

Thành quả của khai hoang và sản xuất của lưu dân người Việt cùng với các dân tộc bản địa trong thế kỷ XVII đã làm biến đổi bước đầu bộ mặt kinh tế vùng Đồng Nai. Nơi đây vốn là rừng rậm hoang vu đã sớm hình thành những cánh đồng lúa và hoa màu tươi tốt.



([1][1]) Leâ Quyù Ñoân, Phuû Bieân Taïp Luïc, Q.I, tôø 28a

([2][2]) Leâ Quyù Ñoân, Phuû Bieân Taïp Luïc, Q.I, tôø 44a

([3][3]) Christofo Borri - Relation de la nouvelle mission des peøres de la Compagnie de Jeùsus au Royaume de Cochinchine, Lille, 1631.

(1) Theo bieân nieân söû Campuchia naêm 1618, vua An Nam (töùc chuùa Saõi Nguyeãn Phuùc Nguyeân) gaû moät ngöôøi con gaùi (töùc coâng chuùa Ngoïc Vaïn) cho vua Chaân Laïp laø Preachey Chettha II.

(2) Christofo Borri - Relation de la nouvelle mission des peøres de la Compagnie de Jeùsus au Royaume de Cochinchine, Lille, 1631.

([4][4]) Trònh Hoaøi Ñöùc,, sñd. Q.III

([5][5]) Traàn Hieáu Thuaän - Cuø Lao Phoá, Taïp chí Xöa vaø Nay, soá 36B thaùng 2 - 1997.

Comments