2.2. Đẩy mạnh công cuộc định cư và khai phá ở vùng đất mới sau khi thiết lập cơ cấu hành chính

II.2. Đẩy mạnh công cuộc định cư và khai phá ở vùng đất mới sau khi thiết lập cơ cấu hành chính:

Khi Nguyễn Hữu Cảnh (Kính) kinh lược đất Đồng Nai ngoài việc thiết lập hệ thống quản lý hành chánh đặt ra phường ấp xã thôn chia cắt địa phận”, “lập bộ đinh bộ điền”, ông còn cho “chiêu mộ những người dân có vật lực từ các xứ Quảng Nam, phủ Điện Bàn, Phủ Quảng Nghĩa và phủ Quy Nhơn thiên cư vào đất Đồng Nai thuộc phủ Gia Định”(1).

Chính những người dân có vật lực này, tức là những người giàu có, đã mang đến một sinh khí mới cho công cuộc khai khẩn đất đai ở đây, vì chỉ có họ mới có điều kiện tài chánh để thuê mướn người làm (điền nô) tổ chức việc khai hoang với quy mô lớn. Những người di cư mới ra sức chặt phá cây cối, cắt cỏ rậm và mở mang đất đai thành những vùng đất bằng phẳng, thổ địa phù nhiêu (2).

Trong thế kỷ XVIII, công cuộc khẩn hoang đất đai ở đây được mở rộng nhanh chóng còn nhờ các chính sách khá thoáng của chính quyền các chúa Nguyễn về chiếm hữu đất đai, thể lệ canh tác, thuế ruộng đất. Chính quyền các chúa Nguyễn “cho dân được tự tiện chiếm đất, trồng cau và làm nhà cửa”, hoàn toàn không can thiệp, hạn chế hoặc ràng buộc. Chính quyền các chúa Nguyễn tỏ ra dễ dãi đối với việc dân chúng di cư chiếm đất để khẩn hoang đến mức, dân ở vùng này có thể tự do đến khai khẩn đất ruộng ở các vùng khác, ai muốn đến ở đâu, khai khẩn ruộng gò, ruộng thấp ở nơi nào tùy ý. Lựa chọn đất đai rồi, chỉ cần khai báo với nhà cầm quyền là mình trở thành nghiệp chủ khoảnh đất hay khu đất ấy, chính quyền cũng không tiến hành đo đạc (3), xem diện tích bao nhiêu, không cần biết đất ấy tốt xấu thế nào, người nghiệp chủ tùy theo khoảnh đất mình chiếm rộng hay hẹp mà tự nguyện nộp thuế (bằng thóc) nhiều hay ít và khi nộp, đong bằng hộc già hay hộc non đều được. Sách Gia Định Thành thông chí chép: “Địa phương Nông Nại (tức Đồng Nai - Gia Định) khi đầu thiết lập 3 dinh (4), mộ dân đến ở. Pháp chế còn khoan dung giản dị, có đất ở hạt Phiên Trấn mà kiến trưng (5) làm đất ở hạt Trấn Biên, hoặc có đất ở hạt Trấn Biên mà kiến trưng làm đất của Phiên Trấn. Như vậy cũng tùy theo ý nguyện của dân, chính quyền không có ràng buộc, cốt yếu khiến dân mở đất khẩn hoang cho thành điền, lập làm thôn xã. Lại có đất hiện còn bùn cỏ mà trưng làm sơn điền, hoặc đất gò đống mà trưng làm ruộng cỏ cũng có phần nhiều, đến như sào mẫu khoảnh sở tùy theo miệng khai rồi biên vào bộ chứ không hạ thước đo khám, phân bổ đẳng hạng tốt xấu, còn thuế lệ nhiều ít và cái hộc (đồ đong lường) lớn nhỏ cũng tùy nguyện lệ sở thuộc phỏng theo mà làm không có đồng nhau một mực” (1).

Chính quyền các chúa Nguyễn còn thu nhận con trai con gái người Thượng ở các đầu nguồn đem bán cho các nhà giàu làm nô tì để hầu hạ trong nhà hoặc cày ruộng (điền nô) (2). Chính nhờ các chính sách khuyến khích khẩn hoang của chính quyền các chúa Nguyễn mà việc khai khẩn đất đai ở huyện Phước Long (Đồng Nai) và huyện Tân Bình (Sài Gòn) thời kỳ này (thế kỷ XVIII) không dừng lại ở những mảnh ruộng nhỏ hẹp của các tiểu nông, trái lại đã xuất hiện những đồn điền trồng lúa rộng lớn của các đại điền chủ: “(Ở phủ Gia Định, đất Đồng Nai) Người giàu ở các địa phương hoặc 40, 50 nhà hoặc 20, 30 nhà, mỗi nhà điền nô hoặc 50, 60 người, trâu bò hoặc đến 300, 400 con, cày bừa cấy gặt rộn ràng không rỗi, hàng năm đến tháng 11, tháng 12, thường giã thành gạo, bán lấy tiền để ăn tết chạp” (3).

Về mặt khai khẩn ruộng nương, ở thời kỳ này, người nông dân khai hoang đã áp dụng hai phương thức khác nhau đối với hai loại ruộng khác nhau: sơn điền (là ruộng núi) và thảo điền (là ruộng cỏ) đều có ở Đồng Nai. Ruộng núi là loại ruộng cao, nhiều cây cối, phần lớn tập trung ở những vùng xa sông rạch, thuộc địa phận Bà Rịa, Long Khánh ngày nay. Ruộng cỏ là loại ruộng thấp, ruộng này lùng, lác, bùn lầy, lúc nắng khô nứt nẻ như vỏ mu rùa, có hang hố sâu lớn(4). Đối với ruộng cao, cách thức canh tác là mùa nắng “đốn chặt cây cối, đợi cho khô đốt làm phân tro, khi mưa xuống trồng lúa, không cần cày bừa, dùng lực ít mà được bội lợi. Trong 3, 4 năm thì đổi làm chỗ khác, mà cũng là phương pháp “đao canh hỏa nậu” (đốt cho cháy cỏ cây rồi trồng lúa). Đối với ruộng cỏ, cách thức canh tác là đợi có nước mưa đầy đủ dầm thấm, nhiên hậu mới hạ canh, mà trâu bò phải lựa con nào có sức mạnh, móng chân cao mới kéo cày được, nếu không vậy thì ngã ngập trong bùn lầy không đứng dậy nổi” (5).

Trong việc làm ruộng, người nông dân Biên Hòa thuở ấy còn phân ra hai loại ruộng sớm và ruộng muộn. Ruộng sớm: tháng 5 gieo mạ, tháng 6 cấy, tháng 9 gặt; ruộng muộn: tháng 6 gieo mạ, tháng 7 cấy, tháng 11 gặt. Ngoài ra, ngoài việc làm ruộng, họ còn trồng trọt các loại hoa màu thích hợp trên đất thổ như: đậu, bắp, mía, khoai lang, đậu phụng, phiên lê (?), dưa bí, dưa hấu. Đậu: tháng 4 tỉa, tháng 6 hái; Bắp: tháng 4 tỉa, tháng chạp hái; phiên lê: tháng 3 trồng, tháng 4 năm sau thâu hoạch; dưa bí: tháng giêng trồng, tháng 8 hái; dưa hấu: tháng 10 trồng, tháng chạp hái ([1][15]).

Theo Gia Định Thành thông chí, ở huyện Phước Long (mà một bộ phận là tỉnh Đồng Nai ngày nay), làng Phước Vĩnh là làng Chánh Mỹ thuộc tổng Phước Chánh có cả ruộng sớm lẫn ruộng muộn; về hoa màu có khoai, đậu, phiên lê, đậu phộng; ở tổng Long Thành, hai làng Long Vĩnh và Thành Tuy đều có ruộng sớm ruộng muộn; về hoa màu có dưa bí, dưa hấu, đậu phộng, khoai lang.

Song song với việc áp dụng các kỹ thuật cày cấy, lựa chọn thời vụ thích hợp với từng loại ruộng, những người khai phá thời kỳ này còn trồng trọt nhiều loại lúa, nếp khác nhau. Lúa có nhiều loại như: lúa canh và lúa thuật, ở trong các xen thứ lúa dẻo. Lúa canh là thứ lúa không dẻo, hạt gạo nhỏ, cơm mềm, mùi rất thơm, là thứ lúa có cái mang (ở đầu hạt lúa); lúa thuật là thứ lúa dẻo, hạt tròn mà lớn. Lúa có tên riêng như lúa tàu, lúa móng tay, lúa móng chim, lúa mô cải, lúa càn đông, lúa càn nhe, lúa tráng nhất, lúa chàng co, danh hiệu khác nhau và có sớm muộn, dẻo và không dẻo khác nhau, nhưng thứ thơm ngon đệ nhất là giống lúa tàu, thứ nhì là giống lúa cà nhe.

Ruộng ở Biên Hòa thuộc loại ruộng cày trâu với năng suất 200 hộc trên một hộc lúa giống.

Đồng Nai trong thế kỷ XVIII, đi đôi với việc trồng lúa người lưu dân nông dân tiếp tục khai thác các loại lâm thổ sản như ngà voi, sừng tê, gạc nai cùng với các loại cây cỏ thu nhặt hoặc trồng trong rừng đem xuống Nông Nại Đại Phố và Gia Định trao đổi.

Với những đức tính cần cù, chịu khó, nỗ lực khắc phục khó khăn, lao động sáng tạo của lớp lưu dân, vùng Đồng Nai trong thế kỷ XVIII đã được khai phá thêm một bước quan trọng, đã hình thành những diện tích canh tác đáng kể, đặt cơ sở vững chắc cho việc mở rộng công cuộc khai phá sau này. Những năm 70 của thế kỷ XVIII, huyện Phước Long (trong đó có Đồng Nai ngày nay) có ruộng thực trưng hơn 787 mẫu, đấy là chưa kể các khoản ruộng núi, đất dâu, đất mía, đất vườn trầu, ruộng các họ, ruộng quan đồn điền. Ngoài ra nơi đây còn có trường Gian Thảo có ruộng đất ngoài 6.000 sở. Số liệu thống kê trên đây của Lê Quý Đôn chắc chắn là không thể chính xác và cũng không rõ ràng (đơn vị diện tích sở hoặc thửa rất mơ hồ), nhưng cũng cung cấp cho chúng ta một hình ảnh khá đậm nét về tình hình khai phá đất đai ở Đồng Nai trong hai thế kỷ XVII, XVIII.

Thành quả khai hoang và trồng trọt của Đồng Nai trong thế kỷ XVIII đã góp phần làm cho vùng đất Gia Định (chỉ toàn vùng Nam bộ) ngay từ rất sớm đã trở thành vựa lúa lớn, sản xuất thóc gạo dư thừa so với nhu cầu lương thực tại chỗ. Lúa gạo sản xuất được ở đây, ngoài việc thỏa mãn nhu cầu lương thực cho nhân dân tại chỗ, còn được đem bán đi các nơi khác trong nước... chủ yếu là các phủ thuộc mạn bắc xứ Đàng Trong, nhất là xứ Thuận Hóa và nước ngoài. Người dân Thuận Hóa trong thế kỷ XVIII, chủ yếu sống nhờ vào thóc gạo của Gia Định trong đó có Đồng Nai.

Người dân Thuận Hóa vào lúc bấy giờ sống nhờ vào thóc gạo của xứ Đồng Nai - Gia Định: “Ngày trước việc buôn bán với Đồng Nai được lưu thông thì tại kinh thành Phú Xuân, giá gạo một hộc mười thăng chỉ có ba tiền đồng mà có thể đầy đủ cho một người ăn trong một tháng, cho nên nhân dân ở Thuận Hóa chưa hề phải lưu tâm chú ý đến việc làm nghề nông. Ngày nay thành Qui Nhơn bị loạn lạc (ý nói khởi nghĩa Tây Sơn nổ ra), thành Gia Định bị núi cách sông ngăn, nên nhân dân ở nơi đây (chỉ Thuận Hóa) lấy việc thiếu ăn làm điều lo lắng lớn” (1).

Về mặt khẩn hoang sản xuất, cũng cần nói thêm rằng, trong thế kỷ XVIII, công cuộc khai phá ở Đồng Nai - Gia Định nói chung trong đó có Đồng Nai ngày nay nói riêng chủ yếu vẫn do người dân (cả giàu lẫn nghèo) tự động tiến hành. Tuy nhiên bên cạnh hình thức khai phá chủ yếu đó, trong thế kỷ XVIII, còn xuất hiện một hình thức khai phá khác, đó là hình thức chính quyền các chúa Nguyễn sử dụng binh lính khai phá đất đai canh tác ở những khu vực trú quân dài ngày. Tư liệu lịch sử cho biết trong nửa cuối thế kỷ XVII, nhất là trong nửa đầu thế kỷ XVIII, các chúa Nguyễn thường điều động binh lính các dinh từ Phú Yên đến Khánh Hòa, Bình Thuận vào vùng Đồng Nai - Gia Định để ổn định tình hình giữ gìn biên cương lãnh thổ. Với số lượng binh lính đông đảo hành quân tác chiến hoặc trú phòng ở chốn xa xôi, việc đảm bảo lương thực tất yếu gặp nhiều khó khăn, do đó các tướng tá thường điều động binh lính tranh thủ khai phá đất hoang chung quanh các doanh trại ở khu vực trú quân dài ngày để lấy đất canh tác, sản xuất lương thực nhằm tự cung tự cấp phần nào. Trong thế kỷ XVIII, đại thể nơi nào có đóng quân lâu ngày là thường có tổ chức cho binh lính khẩn hoang, vỡ đất cày cấy. Dinh Trấn Biên là một trong những trọng trấn lúc bấy giờ, luôn có số lượng lớn binh lính trú phòng và binh lính tạm dừng chân trên đường hành quân, nên việc binh lính trực tiếp tham gia công việc khai hoang sản xuất là điều tất yếu. Đất đai do binh lính khai phá trồng trọt mang hình thức “quân đồn điền”. Trong đồn điền binh lính cùng nhau cày cấy, trồng trọt và lúa gạo làm ra được nộp vào kho chung.

Bên cạnh việc sử dụng binh lính khai hoang, sản xuất nông nghiệp, vào những năm cuối thế kỷ XVIII, Nguyễn Ánh sau khi chiếm lại Gia Định từ tay nghĩa quân Tây Sơn (năm 1790) đã ra lệnh cho các cơ quan chính quyền, bất luận hành chính hay quân sự đều phải đôn đốc việc mộ dân khai hoang lập đồn điền với qui định “mỗi năm một người trong đồn điền nộp 6 hộc lúa, ai mộ được 10 người trở lên cho làm quản trại, trừ tên trong sổ làng (khỏi đi lính) ([2][16]). Tháng 10 năm 1799, Nguyễn Ánh lại cho đặt thêm Sở đồn điền chuyên trách việc động viên và tổ chức quân sĩ tại ngũ và dân chúng khai hoang phục hóa những vùng đất bấy lâu phải bỏ hoang vì chiến tranh. Thực hiện chủ trương binh lính khai hoang, binh sĩ thuộc binh Trung Quân và quân các vệ thuyền đến khẩn ruộng tại khu vực sông Vàm Cỏ, lập ra Trại Đồn điền”.

Từ thế kỷ XVIII, ở Đồng Nai đã hình thành các phương thức lập làng, khẩn hoang như sau:

 Phương thức lập làng thứ nhất: Một số người thường là các chủ hộ giàu có góp công góp của xin lập làng mới và chấp nhận đóng thuế cho nhà nước. Tuy những hoạt động tập thể đã giúp cho những di dân dễ dàng sống được lúc ban đầu, bởi vì ruộng đất mới chỉ mang lại rất ít hoa lợi - có khi không có hoa lợi - trong năm đầu khai khẩn, trong lúc chúa Nguyễn chỉ giúp đỡ bằng cách cho tạm miễn thuế, mà không cấp dưỡng hay cung ứng các nông cụ. Chính vì muốn giúp cho những dân mới nhập cư có thể sống được trong những năm đầu chúa Nguyễn đã cho dành riêng những phần đất công cộng của làng ngoài những ruộng đất của tư nhân.

Phương thức lập làng thứ hai: Một người giàu đi chiêu mộ một số gia đình túng thiếu lập làng mới. Mọi hoạt động và sự hình thành cơ cấu đất đai cũng giống như trong phương thức thứ nhất, chỉ có khác là trong những năm đầu khai khẩn, người giàu có đứng ra lập làng sẽ ứng trước mọi chi phí về lúa giống, nông cụ, lương thực cho những người trực tiếp khai khẩn, canh tác. Tình trạng này đã tạo ra một tỷ lệ ruộng đất lớn lao thuộc quyền của người sáng lập làng trong khi những người khác chỉ có được một phần ruộng đất khiêm tốn trong làng mới.

Phương thức lập làng thứ ba: Có phần nào giống phương thức thứ nhất, một di dân có thế lực xin trưng khẩn một vùng đất để lập làng mới đã tìm kiếm bằng cách cưỡng bách hay mua chuộc các điền nô đến cư ngụ và làm việc trên đất như người làm thuê.

Phương thức lập làng thứ tư: Có phần giống như phương thức thứ nhất và thứ ba, một di dân xin trưng khẩn lập làng mới, đã đưa cả thân nhân, dòng họ nội ngoại đến cư ngụ và khai thác trên đất đai đã xin trưng khẩn.

Bên cạnh các phương thức trên còn có những phương thức nhà nước đứng ra trực tiếp vận động và tổ chức:

Nhà nước chiêu mộ những thành phần lưu tán - trong đó có tù đào binh, tứ cố vô thân - hay phân bổ nhân dân và nhiều loại binh lính đến khai khẩn đất đai lập ra làng mới. Những ruộng đất ngày càng mở rộng và cũng dần dần đi theo khuôn mẫu cơ cấu chung với các hình thức sở hữu được nhà nước chủ động cung cấp các phương tiện canh tác như trâu cày, lúa giống... chính phương thức này có xu hướng phát sinh những loại tài sản tập thể trong các làng xã.

Nhà nước tổ chức các làng đồn điền rồi huy động nhân dân, nhất là binh lính, đến làm việc theo một kỷ luật rất chặt chẽ để duy trì thường trực một đội quân nông dân - ngụ binh ư nông - vừa sản xuất vừa chiến đấu hay luân phiên làm việc này đến việc kia khi hữu sự. Trên nguyên tắc, các đồn điền trực tiếp tạo ra các diện tích công điền công thổ.

Một cách cụ thể hơn người ta có thể phân biệt nhiều phương thức lập làng, khai khẩn khác nhau, nhưng tổng hợp lại, các phương thức lập làng tiêu biểu trên đây là nguồn gốc thực trạng cơ cấu điền thổ trong các làng xã ở Đồng Nai từ đầu thế kỷ XVII, hay đúng hơn và chủ yếu hơn từ đầu thế kỷ XVIII trở về sau.

Theo thư tịch, để khuyến khích việc khẩn hoang, các chúa Nguyễn đã cho người di dân được tự tiện chiếm đất mở vườn trồng cau và xây dựng nhà cửa. Các di dân ngày càng mở rộng đất đai, mở mang vườn tược. Việc khai hoang lập ấp ở Đồng Nai phát triển mạnh đến mức cao, đủ để cho nhà nước thực hiện việc đo đạc và tính thuế. Tại địa bàn Đồng Nai khi chính quyền được thiết lập thì toàn thể các lưu dân nhất loạt phải tuân theo phép tắc của nhà nước đặt ra phường, ấp, xã, thôn, chia cắt địa phận, mỗi người phân chiếm ruộng đất, chuẩn định thuế đinh, thuế điền và lập sổ bộ đinh, bộ điền (Lập sổ đinh để biết rõ số dân đinh, tên tuổi và nghề nghiệp để đóng thuế và sưu dịch. Lập sổ điền để ghi rõ địa bàn của từng làng, từng mảnh ruộng của mỗi người để tính thuế).

Nhưng từ thế kỷ XVIII, việc thành lập các làng xã dần dần được quy định do chính quyền họ Nguyễn mà hệ thống cai trị của nó đã được công khai áp đặt. Vì thế các cơ cấu làng xã được thành lập ban đầu cũng nhiều đặc điểm khác trong một bối cảnh đã thay đổi. Chính quyền phong kiến một cách nào đó đã góp phần làm phát sinh nhiều làng xã có những cấu trúc xã hội ban đầu khác nhau.

Có loại làng xã quy tụ những người tuy không giàu có nhưng lại có óc tháo vát mạnh dạn tìm đất khai hoang lập ấp có thể đặt nền tảng cho một cấu trúc xã hội làng xã khá đồng bộ về ý chí tiến thủ, về địa vị xã hội cũng như về tài sản vật chất. Những thành phần xã hội này chủ động liên kết với nhau và có những phương tiện vật chất khả quan để thực hiện mục tiêu của họ, họ không phải là những thành phần bị vô sản hóa, lại có ý thức về kế hoạch họ theo đuổi nên đã sớm tổ chức những cơ cấu địa sản đáp ứng cho quyền lợi cá nhân cũng như công cộng của cộng đồng làng xã. Những yếu tố này dễ đưa loại làng xã này trở thành những đơn vị khép kín chặt chẽ trong chính việc bảo vệ những quyền lợi trong làng xã của mình.

Có loại làng xã được lập nên do sáng kiến của một người giàu chiêu tập những người nghèo đã có một cấu trúc xã hội ban đầu mang tính đối lập: một bên là bản thân một người giàu, có tài sản đóng vai ông chủ và bên kia là tập thể những người nghèo khổ vô sản đóng vai trò làm thuê. Giữa hai thành phần xã hội này có sự mâu thuẫn về lợi ích.

Có loại làng xã hình thành do việc một người di dân nào đó chiêu tập các điền nô để lập làng mới mà trong đó người chiêu tập điền nô - đóng vai trò người chủ làng đầy quyền uy chiếm hữu hầu hết các đất đai trong làng - định đoạt tất cả mọi công việc và quyền lợi cho điền nô. Thân phận điền nô còn hẩm hiu đen tối hơn những thành phần nghèo khổ trong loại cơ cấu làng xã trên. Nhưng những điền nô dễ từ bỏ những cơ cấu định cư kiểu này, để kiếm những người chủ khác hay tự mình khai thác lấy một khoảnh đất nào đó.

Cả ba hình thái cơ cấu xã hội trên, dù là phát sinh trên cơ sở nhân dân hay được sự chỉ đạo của chính quyền phong kiến họ Nguyễn, đều có nhiều tính chất tự phát nên có thể đưa đến những hậu quả mất cân đối trong cơ cấu cũng như trong sinh hoạt xã hội làng xã về sau. Ngoài ra trong thực tế, còn có những làng xã do chính quyền phong kiến trực tiếp thành lập, những làng xã này có những cấu trúc xã hội có thể ít nhiều mang tính chất công cụ trong việc thể hiện các đường lối chính sách của chế độ phong kiến họ Nguyễn. Về phương diện lịch sử, những cấu trúc xã hội làng xã này phần nhiều đã xuất hiện từ một phần tư cuối thế kỷ XVIII.

Tùy theo những thành phần dân cư khác nhau mà chính quyền phong kiến lựa chọn, đưa vào công cuộc khẩn hoang lập ấp, chúng ta thấy có một số loại làng có cấu trúc xã hội khác nhau.

Loại làng có cấu trúc xã hội phức tạp gồm những thành phần tuyển mộ là những người lưu tán có xuất xứ lý lịch là tù binh, đào binh, trộm cắp, hay nhiều loại tội hình mang án lưu đày. Dĩ nhiên để điều hành những làng xã này, chính quyền phong kiến phải áp dụng những biện pháp quản lý chặt chẽ riêng nhằm ổn định các thành phần xã hội dễ gây bất an vì thiếu cơ sở sinh sống và cư trú thường xuyên trong các đồn trại xây dựng kinh tế để rồi từng bước chuyển dần thành làng xã. Có thể nhiều mầm móng bất mãn gây ra biến động xã hội bắt nguồn từ trong những loại làng này.

Có những làng khác được chính quyền thành lập với một thành phần xã hội nhất định, chẳng hạn các tù binh hay tù phạm thường dân được giao việc khẩn hoang lập ấp như một hình thức đền tội bằng lao động để sau một thời gian nhất định sẽ được trả lại cuộc sống bình thường. Ít nhất về phương tiện tù phạm, những thành phần này tuy xuất xứ xã hội không giống nhau vẫn tạo nên một cấu trúc khá thuần nhất cùng chịu những biện pháp quản lý của chính quyền phong kiến.



(1) Leâ Quyù Ñoân, sñd, Q.VI, tr.441

(2) Leâ Quyù Ñoân, sñd.

(3) Ñeán naêm 1836, döôùi trieàu Minh Maïng môùi tieán haønh vieäc ño ñaïc ñieàn laäp ñòa baï ñaàu tieân

(4) Ba dinh laø Traán Bieân, Phieân Traán, Long Hoà

(5) Kieán tröng laø ñöôïc ñoùng thueá

(1) Trònh Hoaøi Ñöùc, sñd, Q.III, tôø 14a - 14b.

(2) Leâ Quyù Ñoân, sñd, Q.VI, tôø 243a - 243b

(3) Leâ Quyù Ñoân, sñd, Q.VI, tôø 243a - 243b

(4) Trònh Hoaøi Ñöùc, sñs, Q.V, tôø 3a, 3b

(5) Trònh Hoaøi Ñöùc, sñs, Q.V, tôø 3a, 3b

([1][15]) Trònh Hoaøi Ñöùc, sñs, Q.V, tôø 2 - 4b - 5a

(1) Leâ Quyù Ñoân, sñd, Q.II, tôø 105b - 106a

([2][16]) Trònh Hoaøi Ñöùc, sñd, trang 70

Comments