2.3. Thương cảng Cù Lao Phố, một trung tâm thương mại, giao dịch quốc tế

II.3. Thương cảng Cù Lao Phố, một trung tâm thương mại, giao dịch quốc tế:

Nhóm lưu dân người Minh theo chân Trần Thượng Xuyên, đầu tiên định cư trên vùng đất Bến Gỗ, nhưng nhận thấy Cù Lao Phố, có vị trí quan trọng trong kinh doanh với đường thủy, đường bộ nối liền miền Trung, đường bộ lên Cao Miên và đường thủy xuống Gia Định. Sau khi quyết định định cư trên Cù Lao Phố, Trần Thượng Xuyên đã cùng với những nhà hào phú, quý tộc đi theo ông “chiêu nạp được người buôn nước Tàu, xây dựng đường phố, lầu quá đôi từng rực rỡ trên bờ sông, liên lạc năm dặm và phân hoạch ra ba nhai lộ, nhai lớn giữa phố lát đá trắng, nhai ngang lát đá ong, nhai nhỏ lát đá xanh, đường rộng bằng phẳng, người buôn tụ tập đông đúc, tàu biển, ghe sông đến đậu chen lấn nhau, còn những nhà buôn to thì ở đây nhiều hơn hết, lập thành một đại đô hội”(1).

Cù Lao Phố phát triển nhanh phồn thịnh trở thành một thương cảng lớn cạnh tranh với thương cảng Hội An ở Quảng Nam nhờ các lý do sau đây:

Việc thương mại được tổ chức khéo léo, Trần Thượng Xuyên chiêu tập người buôn nước ngoài, nhất là người Tàu đến kiến thiết, đây là bọn thương buôn chuyên nghiệp, có vốn to và giàu kinh nghiệm, một số đã theo Trần Thượng Xuyên đến trước đã tạo lập cơ sở đầu tiên ở Bến Gỗ, nhưng do thương mại ngày càng phát triển, nên đã tìm đến Cù Lao Phố là nơi sông sâu có chỗ thuận tiện cho tàu biển đậu (nơi vực sâu gần đền thờ ông Nguyễn Hữu Cảnh) và việc tồn trữ, phân phối hàng hóa được điều hành hợp lý. Nhà lầu, phố xá hai bên nhai lộ lát đá làm kho hàng và cũng là nơi nghỉ mát giải trí của chủ tàu và thủy thủ, tàu chạy buồm, gặp gió thuận thì mới đến hoặc đi được. Thuyền buồm đến hạ neo là lên bờ thuê phố ở, rồi đến nhà chủ mua hàng và định giá mua bao tất cả hàng hóa tốt xấu không từ món nào. Gần đến ngày trương buồm trở về gọi là “hồi đường”, chủ thuyền chỉ cho chủ hàng buôn biết cần mua giúp sản vật gì thì người chủ hàng buôn cũng giúp cho có hàng để kịp ngày giờ. Khi hàng đã chất xuống tàu rồi, chủ thuyền cũng như chủ hàng buôn cùng nhau ngồi tính lại sổ sách, đối chiếu hóa đơn thanh toán cho nhau, rồi cả hai cùng nhau vui chơi ca hát.

“Sản vật mà các chủ thuyền thường hay mua là những sản vật được sản xuất ở Đồng Nai như gạo, cá khô, sừng tê, ngà voi, gạc nai, các loại dược thảo ở phía Nam. Còn sản vật các chủ hàng buôn thường nhận mua là những sản phẩm tiêu dùng gồm tơ lụa, vải bố, dược phẩm cho đến những đồ xa xí, trang trí như gạch ngói, sứ men, đá xây cột chùa, nhang đèn, giấy tiền vàng bạc...

Hàng năm cứ đến tháng một, tháng chạp người ta thường xay giã lúa thành gạo đem đi bán lấy tiền tiêu dùng vào những ngày lễ tết. Còn từ cuối tháng giêng trở đi, họ không còn thời giờ rảnh rỗi để xay giã lúa thóc. Những lúc bình thường người ta chuyên chở gạo thóc ra bán tại thành Phú Xuân để đổi chác hay mua sắm những hàng vóc nhiễu, trừu, đoạn của người Tàu đem về may mặc, nên áo quần họ toàn những hàng hoa màu tươi tốt đẹp đẽ, ít khi họ dùng những áo quần bằng vải trắng thường” ([1][17]).

Nguồn xuất khẩu chính ở Cù Lao Phố là lúa gạo. Lúa gạo ở Đồng Nai nhiều nên rất rẻ “Còn đồng tiền xưa thì một tiền (60 đồng) đong được 16 đấu thóc. Cứ lường theo bát được gạt bằng miệng mà dân gian địa phương thường dùng thì ba bát ấy ngang với 30 bát của nhà nước. Một quan tiền đong được 300 bát đồng của nhà nước (tức bát định chuẩn). Giá rẻ như vậy, các nơi khác chưa từng có” ([2][18]). Kế đến là nguồn gỗ quý dùng để làm tàu thuyền vì giao thông đường thủy là chủ yếu “Phủ Gia Định sản xuất nhiều gỗ tốt. Tra xét sổ sách của cai bạ Nguyễn Khoa Thuyên kê biên hai xứ là nguồn Đồng Môn cùng thủ Quang Hóa thuộc huyện Phước Long có các thứ gỗ sao, trắc, dầu, giáng hương, gụ” ([3][19]).

Các thuyền buôn của phương Tây, của Nhật Bản, của Mã Lai, của Trung Hoa lần lượt ghé vào Cù Lao Phố để buôn bán và trao đổi hàng hóa.

Những người Hoa theo Trần Thượng Xuyên vào Biên Hòa, ngoài những binh lính vẫn giữ nguyên đội ngũ “Long Môn” dưới quyền chỉ huy của ông, còn có hàng loạt các quý tộc phong kiến và thương nhân giàu có cùng gia quyến quê ở Quảng Đông, Hải Nam, Phước Kiến, Triều Châu, Hẹ. Ngoài một số sống tập trung ở Bàn Lân (Bến Gỗ), Cù Lao Phố, còn có những người sống rải rác trong phạm vi vùng Đồng Nai với tính cách là những đại lý thu mua nguyên vật liệu, hàng hóa tại chỗ cung cấp về Cù Lao Phố như ở Tân Bản (lúa gạo), Mỹ Khánh, Bình Long (hàng vàng bạc), Chợ Đồn (nằm trong làng Bình Long xuất lu, hũ, cát, đá ong), Tân Mai, Vĩnh Thanh, Bình Trước, Bình Phước (lúa gạo), Đồng Bản, Thủ Đồn Xứ (gỗ quý, thú rừng), Bình Sơn (đá rửa dùng tô nhà), Phú Hội (xuất trà), An Lợi (sầu riêng), Long Tân (chuối), Phước An (cá Buôi, sò huyết), Phước Khánh (lúa gạo thơm), Tam An (tôm càng), Hội Bài (cá), Long Phước (chuối, xoài).

Sự phồn thịnh của thương cảng Cù Lao Phố hay Nông Nại Đại Phố với tư cách là trung tâm thương mại và giao dịch quốc tế không chỉ riêng của Đồng Nai mà còn của cả đất Gia Định (ngày nay là Nam bộ) kéo dài đến năm 1776 thì chấm dứt. Nguyên nhân là khi công cuộc khai hoang tiến nhanh về miệt dưới (đồng bằng sông Cửu Long ngày nay) thì vị trí trung tâm của đất phương Nam lúc này tất nhiên phải chuyển xuống vùng Bến Nghé - Sài Gòn. Mặc khác khi Cù Lao Phố đã trở thành “xứ đô hội” của vùng đất mới, thì tự nó cũng trở thành nơi diễn ra những cuộc tranh chấp về quyền lực chính trị. Trước hết năm 1747, bọn khách thương người Phước Kiến do Lý Văn Quang cầm đầu tự xưng là “Giản Phố Đại Vương” tập trung bè đảng, toan đánh úp lấy dinh Trấn Biên. Âm mưu bạo loạn bị dập tắt, nhưng gây nhiều thiệt hại cho Cù Lao Phố. Kế đến trận chiến giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn, nhất là biến cố năm 1776 đã tàn phá Cù Lao Phố,“...từ đấy chỗ này biến thành gò hoang, sau khi trung hưng người ta tuy có trở về nhưng “dân số không được một phần trăm lúc trước” (1).



(1) Trònh Hoaøi Ñöùc, Sñd, taäp Thöôïng, Bieân Hoøa, tr.25

(1) Lê Quý Đôn, Sđd, Q.VI, tr.441

([2][18]) Lê Quý Đôn, Sđd, Q.II, tr.223

([3][19]) Lê Quý Đôn, Sđd, Q.VI, tr.375

(1) Trònh Hoaøi Ñöùc, Sñd, taäp Thöôïng, Bieân Hoøa, tr.26

Comments