3. Trạng thái kinh tế, xã hội Đồng Nai thời khai phá

III. TRẠNG THÁI KINH TẾ, XÃ HỘI ĐỒNG NAI THỜI KỲ KHAI PHÁ:

Lưu dân Việt khi mới đến khu vực địa đầu của Đồng Nai, đã chú trọng trước hết đến làm nông nghiệp (trồng lúa nước cổ truyền); thế nhưng vừa do địa thế tự nhiên vừa do nhu cầu sinh sống trước mắt, những di dân này chắc chắn đã bắt tay vào những hoạt động khai thác tự nhiên như săn bắt, hái lượm các sản phẩm tự nhiên ở môi trường chung quanh, đồng thời đào đắp ngay một ít luống nương rẫy để trồng các loại thực vật ngắn ngày lại không kén đất và có thể chịu đựng được khô hạn như khoai, bắp, sắn... “những người di cư mới ra sức chặt phá cây cối, cắt cỏ rậm và mở mang đất đai trở thành những phần đất bằng phẳng, thổ địa phì nhiêu. Nhà Nguyễn lại cho dân tự do chiếm đất mở vườn trồng cau và xây dựng nhà cửa” (1).

Nói chung trong thế kỷ XVIII cơ cấu sở hữu đất đai của người Việt ở Đồng Nai vẫn xuất hiện dưới hai hình thức: sở hữu tập thể và sở hữu cá nhân. Khi con người ở vào giai đọan khai phá đất đai để dùng vào việc canh tác nông nghiệp, thì quyền sở hữu cá nhân xuất hiện phổ biến, vì đất đai khi đó sở dĩ có giá trị là do chính lao động của người khai khẩn và người đó có quyền hưởng dụng những hoa lợi trên đất đai đó một cách chính đáng. Tuy nhiên quyền sở hữu cá nhân này dù trong những thời kỳ nông nghiệp phát triển ở trình độ cao vẫn không phá hủy quyền sở hữu tập thể ban đầu.

Chúa Nguyễn là người sở hữu tối cao về toàn thể các đất đai trong phạm vi lãnh thổ Đàng Trong. Nhưng quyền sở hữu tối cao của chúa Nguyễn vẫn không mâu thuẫn với quyền sở hữu cá nhân về đất đai, khi chúa Nguyễn hợp thức hóa việc chiếm hữu đất đai của cá nhân nhờ lao động, bằng cách lập sổ địa bạ và căn cứ vào đó để đánh thuế điền địa. Nhà nước cũng không xâm phạm đến quyền thừa kế đất đai này vô thời hạn miễn người đó thực hiện nghĩa vụ đóng thuế điền địa về phần đất đai mình đang sở hữu. Có những phần đất đai vẫn có thể có người sở hữu nhưng không phải đóng thuế cho nhà nước, đó là trường hợp các đất đai của làng xã, tức là bổn thôn điền, bổn thôn thổ.

Ở phạm vi làng xã, chúng ta thấy có hai loại tài sản tập thể và tài sản cá nhân. Hai loại tài sản này phát sinh đồng thời, có tính cách bổ sung cho nhau và làm thành yếu tố chủ yếu trong làng xã ở Đồng Nai. Về phương diện kinh tế nông nghiệp, người ta có thể coi làng xã như một đơn vị khai phá trong khi huyện hay phủ mới thực sự giữ vai trò một đơn vị hành chính.

Về sau, dần dần từ trong đơn vị khai phá này, đơn vị biểu thị tài sản hay quyền sở hữu tập thể, sẽ hình thành những tài sản cá nhân: trong khi lập làng những ruộng đất khai phá đã được nhìn nhận, và sự nhìn nhận này vẫn cứ tiếp tục bổ sung khi người dân trong làng cứ khai phá thêm những phần đất mới theo ý họ, rồi xin cho đăng ký vào điền bộ đồng thời chấp nhận chịu đóng thuế cho nhà nước để được nhà nước dành cho mình quyền sở hữu những phần đất này.

Ở giữa hai hình thức ruộng đất công hữu, và ruộng đất tư hữu, các làng xã ở Đồng Nai còn có các bổn thôn điền, bổn thôn thổ thể hiện một dạng sở hữu tập thể, vì chính làng xã có toàn quyền chủ hữu bổn thôn điền thổ: cho thuê mướn và khi cần cho phát mại, tuy làng xã phải nộp thuế cho nhà nước. Phủ Biên tạp lục của Lê Quý Đôn có nói đến các xã điền - những ruộng công của xã - ở trong vùng Thuận Quảng. Phải chăng loại xã điền này xuất hiện rất sớm ngay khi những làng xã đầu tiên của người Việt được lập ở vòng cung định cư Mô Xoài - Đồng Nai - Sài Gòn vào đầu thế kỷ XVII. Do nhu cầu thực tế và do thiết chế tập truyền của làng xã người Việt từ phía Bắc và ở địa phương mới đã mang tên bổn thôn điền, bổn thôn thổ.

Nếu các ruộng đất trồng lúa là cơ sở chủ yếu của sinh hoạt nông nghiệp ở làng xã, thì những loại đất canh tác khác cũng đóng vai trò quan trọng. Ở Đồng Nai, những loại đất này được gọi chung là thổ, nghĩa là đất có trồng những loại nông phẩm khác không phải là lúa. Căn cứ vào việc kê khai những khoảng đất trồng những loại nông phẩm người ta hình dung được một hoạt động kinh tế đa canh hay đa chủng trong những khu vực làng mạc ở Đồng Nai để có thể tiến tới phân vùng trồng trọt. Đây là những khoảng đất trồng bắp, đậu, khoai, rau, dừa, cây ăn quả đủ loại như xoài, mít, chôm chôm, mãng cầu, măng cụt,... chúng tạo nên cơ sở cho hoạt động kinh tế nhộn nhịp, phong phú của cư dân làng xã theo nông lịch của từng loại canh tác ở Đồng Nai để cung cấp cho Cù Lao Phố.

Đến cuối thế kỷ XVIII, trong cơ cấu đất đai của làng xã Đồng Nai, các đất chưa được canh tác vẫn còn chiếm tỷ lệ rất lớn. Dân làng có thể khai thác các tài nguyên tự nhiên như lâm sản, nếu đó là đất rừng; như ngư sản nếu đó là những ao chàm, đầm lầy. Loại đất này được coi như địa sản dự trữ của làng nhằm đáp ứng cho nhu cầu phát triển làng về dân số cũng như ruộng đất khả dụng.

Trong một số trường hợp, trong địa bộ làng có thể còn thấy các loại ruộng đất (tư điền) được sử dụng cho những mục đích riêng biệt như kị điền, hậu điền theo tập quán của một số cá nhân trong làng xã. Tuy nhiên sự hình thành những loại ruộng đất này chưa được phát triển mạnh trong các làng xã ở Đồng Nai. Nguyên nhân, có thể vì tập tục mang tính chất danh gia vọng tộc này chưa được phổ biến lắm hoặc xã hội nông thôn Đồng Nai vẫn còn ở giai đoạn hình thành mới mẻ so với các vùng ở miền Trung, miền Bắc.

Trên phương diện kinh tế, cơ cấu ruộng đất đã hình thành tại Đồng Nai vào cuối thế kỷ XVIII cho chúng ta thấy rõ một số đặc điểm cơ bản:

- Cơ cấu đất đai trong các làng xã mang hình ảnh một đơn vị kinh tế tự cung tự cấp có một chu trình khép kín (dĩ nhiên theo một cách hiểu tương đối), nên chưa khởi phát một sinh hoạt kinh tế quy mô trao đổi hàng hóa chủ yếu là lúa gạo mạnh mẽ. Người nông dân bám chặt vào đất đai, mà chưa khống chế được nó để thoát ra khỏi tầm nhìn bên ngoài phạm vi đất làng. Chu trình khép kín này cản trở sự phát triển sản xuất, đồng thời cũng cản trở đà tiến của kỹ thuật.

- Cơ cấu đất đai làng xã một khi được hình thành thường chỉ dễ thích hợp cho một tình trạng ổn định về cơ cấu dân số và diện tích trồng trọt trong mỗi làng, cho dù sự phát triển những làng xã mới vẫn có thể đáp ứng với nhu cầu gia tăng dân số và đất canh tác.

- Cơ cấu đất đai làng xã này còn biểu thị một mô thức, một trình độ phát triển nông nghiệp kiểu phong kiến Việt Nam. Nó làm trì hoãn đà tiến tới một phương thức sản xuất nông nghiệp dựa trên những sáng kiến kỹ thuật.

- Cơ cấu đất đai làng xã ở Đồng Nai bộc lộ một nền kinh tế nông nghiệp đa canh và luân canh, trong đó canh tác lúa gạo vẫn là hoạt động chủ yếu.

Sản xuất nông nghiệp là thành phần cơ bản trong cơ cấu kinh tế làng xã Đồng Nai nhưng không phải là thành phần duy nhất. Người dân còn sinh sống bằng những hoạt động kinh tế khác như: việc săn bắt hái lượm những sản phẩm tự nhiên. Tại một số địa điểm làng xã ở nguồn cửa sông dân cư thường khai thác những nguồn lợi như lâm, dược thảo... rồi qua thương nhân đem về Biên Hòa, Gia Định làm hàng hóa trao đổi lấy gạo, mắm cá.... Tại những vàm cửa sông hay gần sát biển, dân cư sinh sống bằng nghề làm muối hay đánh cá, làm mắm hay săn bắt nhiều thứ hải sản như Bà Rịa, Cần Giờ... Ngoài ra người dân còn chú ý đến việc khai thác nhiều loại gỗ quý và bền ở Đàng Trong nói chung và ở Đồng Nai nói riêng: sao, gõ, bằng lăng, hoàng đàng, trai, dầu..., những loại cây có nhựa hay dầu thơm như trần hoàng, sơn, trì nam, trầm hương. Những hoạt động kinh tế phi nông nghiệp này phát triển ở những giai đoạn đầu tại những vùng đất mới. Theo cùng với nhịp độ phát triển về phía Nam, đó đây dọc khu vực duyên hải Đồng Nai từ Mô Xoài vòng dài xuống Long Thành, Cần Giờ dần dần có những làng đánh cá được thiết lập trên bãi cát hay bè cây quanh vùng cửa sông để có thể lợi dụng được lúc thủy triều lên xuống. Nhiều người nước ngoài lui tới đã trông thấy những đoàn thuyền đánh cá tụ tập đông đảo ở vùng cửa Cần Giờ. Ngư dân đã thả những bè lưới chài thật rộng xuống mặt biển và chỉ trong một thoáng họ đã kéo lên những mẻ cá nặng trĩu.

Những hoạt động này còn kết hợp với việc sản xuất nước mắm và muối. Có thể đã xuất hiện sớm trong vùng chung quanh Mô Xoài và Phước Hải, lập thành những làng chuyên môn đánh cá, làm nước mắm, làm muối.

Điều kiện tự nhiên thuận hợp khiến cho công việc đánh cá trên các sông rạch nội địa tại Đồng Nai đã trở thành nghề nghiệp chuyên môn của một số dân làng. Người khai thác các sông rạch bằng cách đào đắp đất lập ra những khu vực ao hồ nuôi cá hay bẫy cá. Nhiều ao đầm tự nhiên được nhượng lại cho dân làng giống như các đất đai khác. Trong cuộc khám đạc ruộng đất năm 1836 tại Đồng Nai cho biết có nhiều sở đất trước kia là ruộng nay thành ao cá; sự kiện này cho thấy nhiều dân làng đã chuyển từ khai thác nông nghiệp sang ngư nghiệp vì nghề này mang lại nhiều lợi nhuận hơn. Ở nhiều khu làng xã thuộc Long Thành, nhiều ao đầm sau khi được chuyển nhượng đã biến thành những hồ thả cá, nhiều khúc kênh rạch cũng được ngăn lại bằng những đập đất cao hơn để bẫy cá và đôi khi những bẫy này còn được chia nhỏ hơn để cho thuê lại.

Trên cơ sở một nền nông nghiệp trồng lúa khá phát triển, sản xuất thóc gạo có nhiều dư thừa so với nhu cầu tại chỗ như trên đã nói, trong thế kỷ XVIII, ở nông thôn Đồng Nai bắt đầu xuất hiện sự phân công lao động, đưa tới sự ra đời của nhiều ngành nghề thủ công như mộc, đúc đồng, làm thừng chảo, dệt, thêu, nhuộm, làm gạch ngói, nung vôi, làm chum, làm giấy, làm đồ sắt, đục đá, đan đồ tre mây, nấu rượu, ép dầu, làm đường mía, đóng thuyền, làm đồ đi ngựa, làm vật dụng bằng đồi mồi, chạm bạc, làm lọng, làm giày, làm nón, làm bút, làm mành.... và đã xuất hiện nhiều thợ thủ công chuyên nghiệp, tuy ít nhiều vẫn còn giữ tính cách thủ công nghiệp gia đình. Mặc dù chưa đạt tới trình độ chuyên môn hóa cao, nhưng ở một số vùng đã có các nghề thủ công truyền thống và đã hình thành một số tụ điểm theo từng nghề riêng theo dạng “làng nghề” như chợ Lò Thổi tập trung những thợ chuyên khai thác quặng sắt và làm đồ sắt, Trung Thuyền Tụ ở phía Tây ngã ba sông Nhà Bè chuyên tu sửa và đóng mới ghe thuyền. Ngoài ra ở Đồng Nai hiện nay có một số địa danh như Bến Gỗ, đồi Thiết Tượng (Long Thành), rạch Lò Gốm, xóm Chợ Chiếu (Hiệp Hòa - Biên Hòa)... có lẽ cũng hình thành từ các làng nghề từ thuở ban đầu lưu dân người Việt đến định cư sống.

Trong số các ngành nghề thủ công của Đồng Nai thời kỳ này, có mấy nghề khá nổi tiếng đó là nghề dệt tơ lụa, nghề làm đường (mía), nghề làm đồ gốm và nghề khai thác mỏ quặng (sắt). Về nghề dệt tơ lụa, “người ta có thể nhìn thấy lãnh, là, vải, lụa ở khắp nơi trong xứ Đồng Nai - Gia Định, nhưng nhân dân huyện Phước An trấn Biên Hòa sản xuất được thứ lãnh đen mềm, láng, tốt nhất nước” (1).

Chúng ta không có số liệu thống kê chính xác về số ngành nghề thủ công và số thợ thủ công chuyên nghiệp của Đồng Nai - Biên Hòa trong thế kỷ XVIII, chỉ biết rằng vào năm 1791, Nguyễn Ánh đã ra lệnh trưng tập những thợ giỏi thuộc các ngành nghề khác nhau trong tất cả các địa phương, đưa về sở phủ Gia Định, phiên chế thành 62 ty, cục, tượng (một hình thức tổ chức tập hợp những người thợ cùng nghề), chuyên chế tạo các loại vật phẩm cung ứng cho nhu cầu của tập đoàn phong kiến Nguyễn Ánh lúc bấy giờ. Trong số các thợ giỏi bị trưng tập, chắc chắn có nhiều người là dân Đồng Nai. Điều đó cũng nói lên phần nào trình độ và qui mô phát triển của các ngành nghề thủ công ở đây.

Trên cơ sở một nền nông nghiệp và thủ công nghiệp (chưa tách hẳn nông nghiệp) đã khá phát triển, và ở một mức độ nhất định đã mang tính chất sản xuất hàng hóa, việc buôn bán trao đổi hàng hóa ở vùng đất phía nam nói chung, vùng Đồng Nai - Biên Hòa nói riêng đã sớm được mở rộng trong thế kỷ XVIII.

Việc buôn bán quan trọng nhất lúc bấy giờ là buôn gạo từ Gia Định (tức Nam bộ nói chung) ra Thuận Quảng, và mua hàng hóa của Thuận Quảng đem vào Gia Định. Cùng với cau, lúa gạo đã sớm trở thành thứ nông sản hàng hóa quan trọng nhất vùng này, trong đó có Đồng Nai. “Miền Gia Định có rất nhiều thóc gạo... Những lúc bình thường, người ta (ý nói những người giàu có) chuyên chở gạo thóc ra bán ở thành Phú Xuân để đổi chác hay mua sắm những hàng vóc, nhiễu, trừu, đoạn của người Tàu đem về may mặc, nên quần áo của họ toàn là hàng hoa màu tươi tốt đẹp đẽ. Ít khi họ dùng những quần áo bằng vải trắng” (2).

Một thương nhân ở nam Bố Chánh (tức Quảng Bình ngày nay) tên là Trùm Châm đã từng buôn gạo ở Gia Định (tức toàn vùng Nam bộ ngày nay, trong đó có Đồng Nai - Biên Hòa) hơn 10 chuyến, có kể lại với Lê Quý Đôn, hành chính và cách thức buôn gạo ở đây như sau: “Khi đến địa giới Gia Định, xứ Vũng Tàu là xứ hải đảo có cơ dân thì thu buồm nghỉ ngơi một chút, hỏi thăm nơi nào được mùa, nơi nào mất mùa, biết rõ nơi nào được mùa mới đến. Trước vào cửa Cần Giờ, rồi vào cửa Soài Lạp (tức Soài Rạp), cuối cùng vào cửa Đại, cửa Tiểu. Đến nơi nào cũng thấy thuyền buồm đầy bến. Khi đã mặc cả thành giá thì người bán tự sai người nhà chuyển thóc xuống thuyền cho. Một tiền cổ (60 đồng) mua được 16 đấu thóc, mỗi đấu bằng 3 bát ngang miệng của hộ phiên, tức là 30 bát quan, tính ra một quan tiền đong được 300 bát quan thóc. Không có nơi nào giá thóc rẻ như thế. Ở đó, gạo nếp gạo tẻ đều trắng dẻo, cá tôm to và béo không thể ăn hết, nên dân thường luộc chín phơi khô để bán” (1).

Lê Quý Đôn ghi chép điều này trong sách Phủ Biên tạp lục là cuốn sách được viết vào thời kỳ ông vâng lệnh vua Lê đi trấn nhậm hai đạo Thuận Hóa và Quảng Nam bắt đầu từ 1776. Như vậy đoạn ghi chép nói trên đã phản ánh tình hình sản xuất và xuất cảng lúa gạo ở miền Gia Định, trong đó có Biên Hòa - Đồng Nai vào những năm 70 của thế kỷ XVIII.

Do sản xuất hàng hóa phát triển và việc buôn bán đã sớm trở thành một hoạt động kinh tế sôi nổi, nên trong thế kỷ XVIII, cũng như ở nhiều nơi khác trong đồng bằng sông Cửu Long, vùng Đồng Nai - Biên Hòa đã xuất hiện nhiều tụ điểm buôn bán, nhiều chợ búa trù mật như chợ Đồng Nai, chợ Bến Cá, chợ Đồng Sử, chợ Lò, chợ Bàn Lân, chợ Dầu Miệt, chợ Thủ Đức, chợ Đò, chợ Bà Rịa, chợ Đồng Môn, chợ Lò Thiếc... Ở các tụ điểm buôn bán, các chợ, nơi nào cũng bày bán đủ các mặt hàng nông, lâm, thủy sản như lúa gạo, cau, đường phèn, đường phổ, đường cát, sắt, đá ong, muối trắng, hạt tiêu, hạt sen, ngà voi, sừng tê, đậu khấu, sa nhân, gạc nai, tô mộc, sáp ong, yến sào, hải sâm, đồi mồi, huyền phách, vây cá, bóng cá, thịt voi, gân nai, da tê, da ngựa núi, da rái cá, da nai, da trâu, da rắn, lông chim trã, cánh ngỗng biển, quạt lông, diêm tiêu, các loại tôm, cá, cua, sò, ốc hương, mực, các loại cây thuốc, cây làm đồ gia vị như kỳ nam, trầm hương, nhực quế và các mặt hàng vải vóc như lãnh, là, vải, lụa... ([1][20]).

Đặc biệt Nông Nại Đại Phố ở Cù Lao Phố (Biên Hòa) vào nửa cuối thế kỷ XVIII đã trở thành một thương cảng lớn, một trung tâm thương mại và giao dịch quốc tế. Thương cảng Cù Lao Phố là thương cảng lớn nhất của vùng Đồng Nai - Gia Định trước năm 1776, là một đô hội khá trù mật, “lầu quá đôi từng rực rỡ trên bờ sông, liền lạc năm dặm và phân hoạch ra ba nhai lộ (đường phố lớn): nhai lộ lớn ở giữa lát đá trắng, nhai lộ ngang lát đá ong, nhai lộ nhỏ lát đá xanh, đường rộng bằng phẳng, người buôn tụ tập đông đúc, tàu biển ghe sông bến đậu chen lấn nhau, còn những nhà buôn to ở đây thì nhiều hơn hết ” (2).

Thế kỷ XVIII, sự mở rộng công cuộc khẩn hoang và gia tăng sản xuất nông nghiệp trong quá trình khai phá vùng đất Gia Định nói chung, khu vực Đồng Nai nói riêng, chắc chắn đã hàm chứa những vấn đề xã hội gay gắt - mâu thuẫn giữa tập đoàn phong kiến, địa chủ và nông dân. Nhưng dẫu sao những thành quả đạt được trong lãnh vực khẩn hoang và khai thác nông nghiệp trong giai đoạn này đã đặt nền móng vững chắc cho công cuộc khai phá ở thời kỳ tiếp theo.



(1) Leâ Quyù Ñoân, Sñd, Q.VI, tr.60

(1) Trònh Hoaøi Ñöùc, sñd.

(1) Leâ Quyù Ñoân, sñs, tôø 90a - 90b

([1][20]) Trònh Hoaøi Ñöùc, sñs, tôø 6b - tôø 9b

(2) Trònh Hoaøi Ñöùc, sñs, tôø 28a

Comments