4.2. Thành phần dân cư

IV.2. Thành phần dân cư:

Số lượng các thôn, xã, phường, ấp, hộ nêu trên ít nhiều phản ánh số lượng dân cư thuộc địa bàn Đồng Nai trong những năm từ 1802 - 1858 dưới thời các vua Nguyễn.

Những tài liệu về dân cư trên vùng đất này vào giai đoạn lịch sử nêu trên còn lưu lại đến ngày nay rất ít ỏi và chúng ta không có được những số liệu cụ thể, chi tiết. Do đó, chúng ta chỉ có thể dựa vào những tài liệu chung về số đinh của trấn Biên Hòa trước năm 1832 và của tỉnh Biên Hòa sau năm 1832 trong mối tương quan chung với Gia Định thành trước năm 1832 và Lục tỉnh Nam kỳ sau năm 1832 để hình dung ra tình hình dân số trên địa bàn tỉnh Đồng Nai vào giai đoạn lịch sử này.

Dựa theo tài liệu của Quốc sử quán triều Nguyễn, chúng ta biết được số đinh của trấn Biên Hòa và các trấn khác thuộc Gia Định thành vào năm 1819. Căn cứ vào số đinh đó ta có thể phỏng đoán số khẩu theo tỷ lệ 5 khẩu tương ứng với 1 đinh.

 

BẢNG 1: ƯỚC TÍNH DÂN SỐ NĂM 1819

 

STT

Đơn vị

Số đinh ([1][42])

Số khẩu

Tỷ lệ %

1

Trấn Biên Hòa

10.600

53.000

11

2

Trấn Phiên An

28.200

141.000

29

3

Trấn Định Tường

19.800

99.000

20,4

4

Trấn Vĩnh Thanh

37.000

185.000

38,1

5

Trấn Hà Tiên

1.500

7.500

1,5

 

Tổng số

97.100

485.500

 

 

Những tài liệu của Nguyễn Thế Anh và Nguyễn Đình Đầu cho chúng ta biết số đinh ở tỉnh Biên Hòa và các tỉnh khác thuộc Nam kỳ lục tỉnh vào các thời điểm năm 1836, năm 1840, năm 1847. Căn cứ vào số đinh ấy, ta có thể phỏng đoán được số khẩu theo tỷ lệ 5 khẩu tương ứng với 1 đinh.

 

BẢNG 2: ƯỚC TÍNH DÂN SỐ NĂM 1836

 

STT

Đơn vị

Số đinh

Số khẩu

Tỷ lệ %

1

Trấn Biên Hòa

10.242

51.210

9,5

2

Trấn Gia Định

34.124

170.620

31

3

Trấn Định Tường

20.167

100.835

18,6

4

Trấn Vĩnh Thanh

27.457

137.285

25,5

5

Trấn Hà Tiên

15.136

75.680

13,9

 

Tổng số

108.607

543.035

 

 

BẢNG 3: ƯỚC TÍNH DÂN SỐ NĂM 1840

 

STT

Đơn vị

Số đinh (2)

Số khẩu

Tỷ lệ %

1

Trấn Biên Hòa

12.190

60.950

10,4

2

Trấn Gia Định

32.826

164.130

28,1

3

Trấn Định Tường

22.584

112.920

19,3

4

Trấn Vĩnh Thanh

28.323

141.615

24,3

5

Trấn An Giang

15.065

75.325

12,9

6

Trấn Hà Tiên

5.793

28.965

5,0

 

Tổng số

116.781

583.905

 

 

 

BẢNG 4: ƯỚC TÍNH DÂN SỐ NĂM 1847

 

STT

Đơn vị

Số đinh ([2][43])

Số khẩu

Tỷ lệ %

1

Trấn Biên Hòa

16.949

84.745

10,2

2

Trấn Gia Định

51.788

258.940

31,3

3

Trấn Định Tường

26.799

133.995

16,1

4

Trấn Vĩnh Long

41.336

206.680

25

5

Trấn An Giang

22.998

114.990

13,9

6

Trấn Hà Tiên

5.728

28.640

3,5

 

Tổng số

165.598

827.990

 

 

Theo tài liệu của Lê Quý Đôn thì vào năm 1769, huyện Phước Long (tức trấn Biên Hòa và tỉnh Biên Hòa sau này) có 8.000 đinh (2). Số đinh ấy tương đương với khoảng 40.000 khẩu.

Theo những tài liệu dẫn ra trên đây, chúng ta có được nhịp độ phát triển dân số của Phúc Long - Biên Hòa từ cuối thế kỷ 18 đến thế kỷ 19 như sau:

Năm 1769 khoảng 40.000 dân

Năm 1819 khoảng 485.500 dân

Năm 1836 khoảng 543.035 dân

Năm 1840 khoảng 583.905 dân

Năm 1847 khoảng 827.990 dân

Những chỉ số từ các bảng 1, 2, 3, 4 dẫn ra trên đây cho thấy trong khoảng thời gian triều vua Gia Long (1802) đến triều vua Tự Đức (1858), dân cư trên lãnh thổ Biên Hòa (trong đó có địa bàn thuộc tỉnh Đồng Nai ngày nay) có số lượng và mật độ thấp hơn so với nhiều địa phương khác trên vùng đất Nam bộ. Hai trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng ấy: Một là, do sự phiêu tán dân cư hồi cuối thế kỷ 18 khi cuộc chiến giữa quân Nguyễn Ánh và quân Tây Sơn diễn ra quyết liệt trên địa bàn này. Hai là, sự nghiệp khai hoang lập ấp trên vùng đất Nam bộ nửa đầu thế kỷ 19 chủ yếu tập trung vào địa bàn châu thổ sông Cửu Long và sự qui tụ di dân cùng tập trung vào đó. Sự phát triển dân cư trên lãnh thổ Biên Hòa trong thời kỳ lịch sử này chủ yếu tập trung vào những dãy đất ven sông Đồng Nai, còn nhiều vùng núi và bình nguyên rừng thì vẫn chưa khai phá và ít người đặt chân tới, như ở Xuân Lộc, mãi cho đến những năm đầu thế kỷ thứ XX “vẫn là vùng đất hoang vu với những cánh rừng bạt ngàn đầy muông thú. Đó đây chỉ có vào buôn sóc của đồng bào dân tộc Châu Ro, Stiêng sống rải rác bên các khe suối nhỏ...” ([3][44]).

Trong nửa đầu thế kỷ XIX vùng đất thuộc tỉnh Đồng Nai ngày nay tuy có số dân số ít và mật độ dân cư thấp, nhưng đã là một vùng dân cư đa dân tộc. Những tài liệu thư tịch còn lưu lại không cho chúng ta biết rõ về dân số cụ thể của từng tộc người trên từng địa bàn vào thời gian này. Nhưng những tài liệu điền dã dân tộc học chỉ cho chúng ta biết chắc rằng những tộc người đã từng cư trú trên vùng đất Đồng Nai trong nửa đầu thế kỷ XIX là: người Việt, người Hoa, người Châu Ro, người Stiêng, người Chăm, người Mạ. Người Việt là đa số trong thành phần dân cư trú rải rác trên khắp các tổng, huyện.

Người Hoa cư trú chủ yếu trên địa bàn Cù Lao Phố thuộc huyện Phước Chánh. Số người Hoa ở đây vào thời kỳ này đã giảm nhiều so với trước vì phần đã di cư xuống vùng Sài Gòn (tức Chợ Lớn ngày nay) để làm ăn sinh sống kể từ khi Cù Lao Phố bị tàn phá trong những cuộc giao tranh giữa quân Nguyễn Ánh với quân Tây Sơn (cuối thế kỷ thứ 18).

Người Châu Ro cư trú rải rác trên vùng rừng đất cao thuộc huyện Phước Chánh và huyện Long Thành.

Người Stiêng cư trú rải rác trên vùng rừng đất cao thuộc huyện Phước Chánh và huyện Long Khánh.

Người Mạ và người Chăm cư trú rải rác trên một số điểm thuộc huyện Phước Chánh.

Cũng trong thời lịch sử này, chính quyền nhà Nguyễn đã phân chia dân cư thành ba loại dựa theo nguồn gốc tộc người.

Thuộc về Chánh hộ là người Việt.

Thuộc về Khách hộ là người Hoa.

Thuộc về Man hộ là người các dân tộc Châu Ro, Stiêng, Chăm, Mạ.

Bên cạnh hệ thống tổ chức hành chính do nhà Nguyễn lập ra mà đơn vị cơ sở là thôn, xã, phường, ấp, hộ; vùng đất Đồng Nai vào thời kỳ lịch sử này còn tồn tại những đơn vị cư trú cổ truyền của các đơn vị ít người, như pley của người Chăm, bon của người Mạ, poh của người Stiêng, palei của người Châu Ro... Chính quyền nhà Nguyễn tiến hành từng bước ghép các đơn vị cổ truyền của các dân tộc ít người nêu trên vào tổ chức bộ máy hành chính chung. Lúc đầu, một hoặc vài đơn vị cư trú cổ truyền đó được xếp vào một đơn vị gọi là “sách” kèm theo những tên gọi miệt thị “sách man”, “sách mọi”... Chẳng hạn vào năm Minh Mạng thứ 21 (1840), có 48 “sách man” như vậy được ghép vào huyện Long Khánh.



([1][42]) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập XXVI, NXB Sử học, Hà Nội. tr.285 - 287

(2) Nguyễn Đình ĐầuChế độ công điền công thổ trong lịch sử khai hoang lập ấp ở Nam kỳ lục tỉnh, Hội Sử học Việt Nam, Hà Nội, tr.149.

([2][43]) Nguyễn Thế Anh, sđd, tr.26.

(2) Lê Quý Đôn, sđd, tr.476.

([3][44]Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đồng Nai: Thị trấn Xuân Lộc - những chặng đường đấu tranh cách mạng vẻ vang, NXB Đồng Nai, 1984, tr.11.

Comments