4.3.1. Hoạt động kinh tế

IV.3.1. Hoạt động kinh tế:

Vào giữa thế kỷ thứ XVIII, địa bàn thuộc tỉnh Đồng Nai ngày nay đã có những hoạt động kinh tế đa dạng và phát triển hơn so với các địa bàn khác trên vùng đất Nam bộ. Những hoạt động kinh tế khá toàn diện cả về nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp mà Cù Lao Phố là một trung tâm khá nổi tiếng đương thời. Nhưng cuộc chiến tranh tàn khốc giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn vào cuối thế kỷ thứ XVIII đã có tác động nhiều đến hoạt động kinh tế trên địa bàn này.

Từ năm 1802, vua Gia Long và các vị vua kế tiếp vừa tiến hành nhiều biện pháp cải tiến hành chính vừa thực thi nhiều chính sách nhằm phát triển kinh tế của đất nước. Chủ trương phát triển nông nghiệp được thực hiện một cách nhất quán. Công cuộc tiếp tục khai hoang, phục hóa trên vùng đất Nam bộ được đặc biệt quan tâm. Vua Gia Long và các vị vua tiếp theo luôn chú trọng khuyến khích và tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho người đi khai hoang nhằm thu hút nhiều nguồn nhân lực nhàn rỗi trong xã hội vào lĩnh vực hoạt động này. Ngay trong năm 1802, vua Gia Long đã ra chỉ dụ, trong đó nêu rõ: Người nào không có điền sản thì đem ruộng hoang cấp cho và cho vay thóc giống, đến khi thu hoạch xong sẽ trả lại cho nhà nước (1).

Năm 1805, sau khi nắm được chính quyền, Gia Long cho làm tổng kiểm kê ruộng đất ở năm trấn thuộc xứ Gia Định: Phiên Trấn, Trấn Biên, Vĩnh Trấn, Định Trấn và Hà Tiên. Việc kiểm kê gồm đo đạc ruộng đất, ghi rõ nông phẩm canh tác, xác định các khoảng cách từ điểm này đến điểm khác, đo chiều dài các tuyến đường, phân loại sông núi và hải đảo, kèm theo những bản đồ riêng; đồng thời việc lập sổ dân đinh và thuế má cũng được thực hiện (2).Việc kiểm tra này có ý nghĩa quan trọng: về chính trị nó thể hiện quyền uy của chế độ phong kiến nhà Nguyễn đối với nhân dân nông thôn ở Gia Định thành nói chung và Đồng Nai nói riêng; về pháp lý nó tạo cơ sở cho việc phân chia các loại ruộng đất, điều chỉnh những sơ hở trong cơ cấu ruộng đất để tránh nạn hà lạm gây ra bất công; về tài chính nó cung cấp tư liệu quan yếu để tính thuế cho từng nhân đinh cũng như cho từng loại ruộng đất có hoa lợi khác nhau.

Công cuộc khai hoang phục hóa được tiến hành đồng thời với công cuộc đạc điền lập địa bạ trên toàn quốc. Năm thứ 17, đời Minh Mạng, việc khám đạc mới được triều đình Huế cho thực hiện ở Nam kỳ trong tất cả các làng mạc (3). Sổ địa bộ (4) được lập thành ba bản: bản Giáp chuyển về Bộ Hộ, bản Ất dành cho quan bố của tỉnh, và sau cùng bản Bính được lưu trữ trong kho văn kiện của làng. Và kể từ đó về sau người dân cứ chiếu theo địa bộ cơ sở này để tiến hành các thủ tục chuyển nhượng, mua bán ruộng đất trong làng. Những phần đất được chấp nhận cho trưng khẩn về sau cũng phải tuân hành các thủ tục lập địa bộ của làng.

Địa bộ 1836 cho thấy một làng ở Đồng Nai được thiết lập trên một phạm vi đất đai mà cơ cấu của nó gồm những thành phần như sau:

Trước hết là các ruộng lúa, một cơ sở chủ yếu cho sinh hoạt kinh tế nông nghiệp, được đo đạc một cách kỹ lưỡng. Những ruộng lúa của làng lại chia ra hai loại chính là thảo điền và sơn điền (5).

Việc xác định thảo điền và sơn điền còn mang một ý nghĩa khác khi nó tạo cơ sở cho việc đánh thuế một cách chính xác trên các ruộng lúa thu được hoa lợi nhiều hay ít. Vả lại căn cứ trên sự phân bố thảo điền và sơn điền, người ta cũng có thể nhận định được mật độ tập trung dân số, tình trạng thịnh vượng trong sinh hoạt nông nghiệp cùng những vấn đề xã hội tâm lý hay chính trị có liên quan trong những cộng đồng làng xã khác nhau. Sơn điền và thảo điền còn thể hiện kinh nghiệm và kiến thức của nhân dân nông thôn Đồng Nai về môi trường tự nhiên, về những thuận lợi hay bất lợi của nghề trồng lúa. Còn về phương diện xã hội và pháp lý, cả hai loại ruộng này được phân biệt làm ba hạng: công điền, tư điền, bổn thôn điền. Đây là một sự phân biệt mang tính chất truyền thống trong nông nghiệp Việt Nam. Công điền được nhà vua phong kiến dành cho các làng xã để phân chia cho dân đinh theo phương thức quân phân điền thổ. Về phương diện nguyên tắc pháp lý, công điền, công thổ là ruộng đất của nhà nước nhưng trong thực tế lại thuộc về các làng xã. Việc phân chia công điền cho các xã căn cứ theo số lượng người kê khai trong sổ dân đinh. Như vậy dân đinh làng nào ít quá, thì số công điền sẽ bị xén bớt để chia cho các làng lân cận có số dân đinh cao hơn, các khẩu phần công điền (1) không được phát mại hay chuyển nhượng một cách riêng tư.

Định chế tập truyền này về công điền cho thấy rõ mục đích của quân cấp công điền là để đảm bảo tận thu thuế và ổn định tình trạng cư trú và xã hội của dân cư trong các làng xã ngõ hầu có được số người cần thiết cho sưu dịch và binh dịch; ngăn ngừa những cuộc nổi dậy của nông dân nghèo trong các làng xã, cũng là để trả công cho các hàng quan lại (1).

Việc đạc điền lập địa bạ ở Nam kỳ lục tỉnh được tiến hành một cách nhanh gọn vào năm 1836. Năm 1837 vua Minh Mạng tiếp tục ra chỉ dụ: nếu người đi khẩn hoang thiếu trâu cày, điền khí và lúa giống thì các quan phải cấp phát (2).

Đến năm 1853, vua Tự Đức phê chuẩn và cho tổ chức thực hiện chính sách khẩn hoang lập đồn điền với quy mô lớn do Nam kỳ kinh lược đại sứ Nguyễn Tri Phương đề xuất và trực tiếp điều hành. Theo đó có nhiều biện pháp tích cực khuyến khích lưu dân đi khai hoang, như: Nhà nước ứng trước công cụ, thóc giống, miễn đinh và thuế điền cho thời gian từ 5 năm đến 10 năm và được dễ dãi trong các thủ tục khác.

Ở Đồng Nai tác dụng của định chế quân cấp công điền không phát huy được nhiều. Đến giữa thế kỷ XIX vẫn còn là một vùng đất mới, tại đó công cuộc trưng khẩn mở mang ruộng đất lập nên các làng xã được xúc tiến do nhiều sáng kiến phong phú từ phía nhân dân. Vả chăng nhân dân đến Đồng Nai cũng là những thành phần tứ chánh, nên quá trình sở hữu hóa ruộng đất đã mang lại nhiều phần lợi cho những người này hơn là chính quyền phong kiến; kết quả là trong số ruộng đất Đồng Nai, tỷ lệ tư điền đã áp đảo tỷ lệ công điền song chúng ta không có những chứng liệu chính xác để khẳng định cụ thể số lượng công điền và tư điền. Người ta chỉ nhắc đến tư điền khi có những quy định về thuế má hay quyền hạn của những người có tư điền như trong Phủ Biên tạp lục của Lê Quý Đôn.

Nguồn nhân lực đáp ứng cho công cuộc khai hoang phục hóa trong thời kỳ lịch sử này chủ yếu là người Việt và tập trung phần lớn nỗ lực vào vùng châu thổ sông Cửu Long. Một số liệu về kết quả khai hoang lập đồn điền vào năm 1822 cho thấy ở phủ Phước Long có 4 hiệu, 4 trại, 138 đinh trong tổng số 6.723 đinh của 4 phủ thành Gia Định (3). Con số này cho thấy kết quả khai hoang lập đồn điền ở đây chỉ chiếm tỷ lệ 2,1% của toàn vùng đất Nam bộ, xét về mặt dân số. Con số nhỏ bé ấy chủ yếu tập trung vào những dãy đất hoang gần sông Phước Long (tức sông Đồng Nai ngày nay) là cơ sở để hình thành một số thôn mới trên địa bàn này như các thôn Tân Lộc, Hữu Lộc thuộc Thành Tuy, Long Thành...

Số liệu về diện tích phục hóa ở tỉnh Biên Hòa vào năm 1840 cũng chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với toàn Nam kỳ lục tỉnh: 6 mẫu trong tổng số 4.936 mẫu ([1][46]), tức là chỉ có 0,12%. Tương tự như vậy, đợt khai hoang lập đồn điền với quy mô rất lớn ở Nam kỳ lục tỉnh do Nam kỳ Kinh lược đại sứ Nguyễn Tri Phương trực tiếp và điều hành từ năm 1853, cho đến năm 1857 thì lập được 25 cơ, trong đó ở Biên Hòa có được 1 cơ là cơ Biện Dũng (số dân trong mỗi cơ được ấn định là 500 người) ([2][47]).

Những số liệu của phái đoàn kinh lược đạc điền Nam kỳ năm 1836 lưu lại đã góp phần giúp chúng ta thấy rõ thêm về diện mạo hoạt động sản xuất nông nghiệp và cơ cấu ruộng đất, cây trồng ở địa bàn thuộc tỉnh Đồng Nai ngày nay vào thời vua Minh Mạng.

 

BẢNG 5: CƠ CẤU DIỆN TÍCH RUỘNG ĐẤT VÀ CÂY TRỒNG

 

 

Đơn vị

cơ sở

Diện tích điền thổ thực canh

Tổng số

Sơn điền

Đất trồng khoai, đậu

Đất trồng dâu, mía

1

2

3

4

5

Thôn Tân Hạnh

128.2.12.4

 

 

37.2.10.4

Thôn Hạnh Đông

111.7.01.5

 

 

11.8.10.5

Thôn Hạnh Trung

2.4.00.0

 

 

 

Thôn Tân Phú

2.5.06.0

 

 

0.2.06.0

Thôn Tân Phước

19.0.07.5

 

 

 

Thôn Tân Phước Đông

5.6.07.5

 

 

 

Thôn Bình Đa

25.6.09.0

 

 

1.9.01.5

Thôn Bình Hành

14.1.12.0

 

 

 

Thôn Bình Hòa

11.9.01.3

 

 

3.5.06.0

Thôn Bình Quan

14.8.13.5

 

 

 

Thôn Bình Thành

32.7.02.9

 

 

17.4.09.7

Thôn Bình Trúc

80.7.13.3

 

 

9.9.00.8

Thôn Bình Tự

35.6.11.2

 

 

6.0.13.5

Thôn Bình Xương

27.2.10.5

 

 

0.3.09.0

Thôn Hưng Phú

 

 

 

2.7.04.5

Thôn Long Quới

18.3.10.5

 

 

0.2.12.0

Thôn Phước Lô

21.0.00.6

 

 

15.8.12.6

Thôn Tân Giám

19.6.10.3

 

 

3.0.09.0

Thôn Tân Lại

50.1.11.6

 

 

27.2.12.0

Thôn Tân Lân

3.1.08.1

 

 

1.8.05.1

Thôn Tân Mai

26.1.12.0

 

 

3.5.08.5

Thôn Tân Tục

3.4.00.0

 

 

1.1.00.0

Thôn Vĩnh Thanh

12.10.1.5

 

 

4.2.03.0

ThônVĩnh An

14.0.07.5

 

 

1.1.07.5

Thôn An Lộc đông

3.2.07.5

 

 

1.5.04.5

Thôn Bình An chánh

21.5.01.5

 

 

9.5.06.0

Thôn Bình An thượng

6.2.06.0

 

 

0.8.06.0

Thôn Bình Lợi

74.013.7

 

 

8.9.07.9

Thôn Bình Lục

75.5.05.9

 

 

63.2.00.3

Thôn Bình Ninh

78.8.11.8

 

 

49.4.11.6

Thôn Bình Thạnh

62.2.03.3

 

 

35.8.01.0

Thôn Bình Thảo

134.7.14.5

 

 

64.5.01.0

Thôn Long chánh

40.6.08.6

 

 

20.4.03.1

Thôn Long Phú

19.7.08.1

 

 

8.107.0

Thôn Phú Trạch

10.3.12.0

 

 

4.0.01.5

Thôn Tân Định

6.5.11.9

 

 

3.4.02.9

Thôn Tân Huệ Đông

56.1.07.9

 

 

18.6.14.8

Thôn Tân Lộc Tây

59.8.10.8

 

 

38.6.10.8

Thôn Tân Quan chánh

18.3.02.5

 

 

10.7.13.5

Thôn Tân Quan đông

71.6.02.3

 

 

28.6.04.0

Thôn Tân Quan trung

19.1.00.9

 

 

9.6.03.5

Thôn Xuân Hòa

60.4.01.6

 

 

15.2.01.0

Thôn Bạch Khôi

2.7.13.1

 

 

1.9.05.6

Thôn Bình Điện

32.4.02.1

 

 

15.3.03.0

Thôn Bình Hậu

5.3.10.6

 

 

3.8.11.2

Thôn Bình Mỹ

31.5.07.8

 

 

8.3.10.8

Thôn Bình Sơn

82.4.02.0

 

 

44.5.09.0

Thôn Bình Thạch

127.0.09.6

 

 

60.5.02.6

Thôn Bình Thới

62.9.11.1

 

 

50.0.01.2

Thôn Bình Ý

34.4.06.3

 

 

21.3.13.5

Thôn Tân Phong

41.5.13.8

 

 

18.9.2.7

Thôn Tân Hưng

4.4.07.5

 

 

2.6.12.0

Thôn Tân Thạch đông

29.6.12.6

 

 

26.4.01.1

Thôn Tân Thành

 

 

 

5.7.09.4

Thôn Tân Vinh đông

72.8.09.4

 

 

50.7.08.6

Thôn Tân Vinh tây

 

 

 

39.2.10.0

Thôn Tân Xuân

 

 

 

47.8.14.5

Thôn Thạnh Hòa

36.5.14.8

 

 

27.7.09.3

Thôn An Hòa

39.9.06.5

 

 

 

Thôn An Hưng

69.4.11.0

 

 

20.2.13.0

Thôn Long An

22.0.09.5

 

 

0.9.00.0

Thôn Long Hòa

19.7.14.5

 

 

2.1.00.0

Thôn Long Trường

88.8.07.5

 

 

5.2.07.5

Thôn Phước Gia

47.7.02.5

11.1.00.0

 

 

Thôn Phước Tân

135.0.07.8

 

 

4.6.00.0

Thôn Vĩnh Thọ

28.4.08.5

 

 

 

Thôn Long Phú đông

27.8.09.0

 

 

 

Thôn Long Thạnh tây

102.5.05.5

 

 

 

Thôn Long Thạnh đông

15.9.07.5

 

 

 

Thôn Long Tuy

 66.6.03.5

 

 

 

Thôn Phước Thiện

31.6.06.0

 

 

 

Thôn Vĩnh Thuận

30.9.09.5

 

 

 

Thôn Hữu Lộc

 

 

 

 

Thôn Phước Lộc tây

18.0.07.0

 

 

 

Thôn Tân Lộc

 

 

 

 

Thôn Xuân Lộc

 

 

 

 

Thôn Hưng Thạnh

123.2.12.0

123.8.04.0

 

 

Ấp Mỹ Hội

8.3.00.0

 

 

1.6.00.0

Thôn Phước Lai

21.2.07.5

 

 

 

Thôn Phước Thành

18.2.00.9

 

 

 

Thôn Tuy Thạnh

66.2.01.5

46.6.00.0

 

5.8.07.5

Thôn Cam Đường

6.9.04.5

2.0.00.0

4.9.04.5

 

Xã Cam Mỹ

11.5.10.5

3.1.10.5

8.4.00.0

 

Thôn Cam Ngôn

9.9.04.5

5.0.00.0

4.9.04.5

 

Thôn Cam Triêm

12.8.07.5 (1)

4.0.07.5

8.8.00.0

 

Thôn La Minh

 

 

4.0.00.0

 

Xã Thoại Hương

 

 

2.0.00.0

 

 

Từ những số liệu trong bảng 5 trên đây cho thấy diện tích ruộng đất canh tác của các đơn vị cơ sở đương thời (2) rất không đều nhau; diện tích sơn điền (3) chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ; đất trồng khoai, đậu không nhiều, hầu hết các địa phương đều trồng dâu, mía, lúa vẫn là cây lương thực chính. Ở đây, lúa chủ yếu được gieo cấy trên thảo điền (4) và có năng suất cao hơn so với một số địa phương khác. Trịnh Hoài Đức ghi lại rằng: ở Gia Định thành, trung bình cứ gieo một hộc thóc giống thì đến mùa thu được 100 hộc (5). Thế mà vào năm 1840 vua Minh Mạng ban thưởng cho các đồn điền đạt kết quả cao, thì Biên Hòa được thưởng 400 quan tiền trong tổng số 950 quan tiền thưởng cho toàn Nam bộ (chiếm tỷ lệ 42,1%) trên diện tích 300 mẫu thu 4.600 hộc lúa trong tổng số diện tích và năng suất của toàn Nam bộ được thưởng (1.500 mẫu/11.300 hộc thóc) (6). Có nhiều giống lúa được gieo cấy trong thời kỳ này như: Nàng Trà, Nàng Huynh, Nàng Hương, Nàng Thơm, Nàng Hượt, Nàng Keo, Nàng Ngọc, Nàng Trinh, Nàng Đài, Nàng Ra, Nàng Mau, Nàng Lai, Nàng Óc, Nàng An, Nếp Sáp, Chân Li...(7); Katon, Vadyui, Vathug, Vakeh, Vaup, Vacop, Vachapchey, Vaprauyang, N’hpalchraujro, N’hpalluh, N’hpalpuh, N’hpalqual, N’hpalbayboh....(1) ; Koi Mẹ, Koi Krong, Koi Tiu, Koi Brao, Koi Tr’rang, Koi Leh, Koi Mbar... (2).

Ngoài lúa là cây lương thực chính, người dân trên vùng đất Đồng Nai thời kỳ này còn trồng nhiều loại cây khác như: khoai, đậu, bắp, mè, bông, dâu, mía, thuốc lá, cam, chanh, mít, chuối, đu đủ, bưởi... và nhiều loại rau xanh. Từ thời kỳ này, ở đây đã nổi tiếng về bưởi, mía, đậu phộng, măng cụt... Trịnh Hoài Đức ghi lại: vùng trồng mía nổi tiếng lúc bấy giờ là huyện Phước Chánh tỉnh Biên Hòa (3). Sách Đại Nam nhất thống chí cũng chép: đậu phộng được trồng trên vùng đất cao thuộc tỉnh Gia Định và Biên Hòa, nhất là ở huyện Phước Chánh (4). Theo Nguyễn Thanh Nhã thì cây măng cụt mới chỉ được du nhập vào Nam bộ từ cuối thế kỷ 18 do Bá Đa Lộc đem từ đảo La Sonde tới (5), mà vào đầu thế kỷ thứ XIX cây này đã được trồng rộng rãi ở nhiều nơi, nhất là ở Vĩnh Long và Biên Hòa (6).

Từ năm 1802 đến năm 1858, sản xuất nông nghiệp là hoạt động kinh tế giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế của tỉnh Biên Hòa và của cư dân người Việt. Bên cạnh nghề nông, các dân tộc ít người ở đây còn có những hoạt động kinh tế khác cũng không kém phần quan trọng, như hành nghề thủ công và buôn bán của người Hoa, săn bắt và hái lượm của người Chơ ro, người Mạ, người Stiêng...

Làm nghề thủ công và buôn bán là hoạt động kinh tế quan trọng và là sở trường của nhóm cư dân người Hoa ở Cù Lao Phố. Nó cũng quan trọng đối với nhiều nhóm cư dân người Việt, như ở hộ Thiết Tượng thuộc tổng Long Vĩnh Thượng huyện Long Thành... Sự phong phú, đa dạng của tài nguyên thiên nhiên và sản phẩm nông nghiệp là những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự hình thành và phát triển các ngành nghề thủ công và các hoạt động trao đổi, buôn bán, tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển của kinh tế hàng hóa.

Phước Chánh - Biên Hòa vào thời kỳ lịch sử này nổi tiếng về nghề làm đường. Diện tích trồng mía nêu trên đã chứng tỏ nhu cầu và sự đáp ứng nhu cầu tại chỗ của nghề thủ công ép mía nấu đường. Mía ở Phước Chánh có thể cho sản phẩm đường cát trong khi mía ở các địa phương khác chỉ có thể cho sản phẩm đường đen. Trịnh Hoài Đức đã ghi lại rằng: mía có 4 loại: hồng, trắng, xanh, và hồng trắng lẫn lộn. Lại có mía voi mình lớn 6 - 7 tấc dài hơn 10 thước (khoảng 5 mét), có vị thanh cam tuyệt phẩm. Mía dùng ép nấu ra đường, duy có loại mía trắng ngoài da có phấn làm đường thỏi, mà đường cát thì chỉ ở huyện Phước Chánh trấn Biên Hòa sản xuất, trừ loại nấu ra đường phèn, đường phổi. Còn đường cát kể số bán cho thương thuyền một năm hơn 6.000 cân, mà mỗi một trăm cân theo tỷ lệ đầu cân phải gia lên 5 cân nữa (lệ trừ hao). Còn mía ở các huyện khác thì ít đường mà có nhiều mật, mật ấy chỉ làm ra đường đen mà thôi (1). Theo tài liệu của Lê Văn Năm, huyện Phước Chánh trở thành trung tâm sản xuất đường cát ở Nam bộ đương thời, với sản lượng khá lớn. Hàng năm thương thuyền mua tới trên 630.000 cân (2). Theo tài liệu của Nguyễn Đình Đầu thì: “Trong lịch sử ngoại thương của Việt Nam đương thời, có ghi nhiều lần xuất khẩu đường cát trắng. Đó là đường mía của Biên Hòa. Mía được tập trung trong huyện Phước Chánh” (3).

Trong các loại đậu, đậu phộng được trồng nhiều trên khắp địa bàn tỉnh Biên Hòa đương thời. Nghề thủ công ép dầu đậu phộng cũng trên cơ sở nguyên liệu tại chỗ mà phát triển. Lúc đầu nghề này phổ biến trên địa bàn huyện Phước Chánh, sau lan rộng ra các địa phương khác. Sản phẩm dầu đậu phộng ở đây khá nổi tiếng, không chỉ phục vụ cho nhu cầu của đời sống cư dân địa phương mà còn được sử dụng rộng rãi trên địa bàn Nam kỳ lục tỉnh.

Nghề mộc phổ biến trên khắp các địa phương phục vụ cho nhu cầu xây cất nhà cửa, chế tạo đồ dùng sinh hoạt gia đình, trang trí đình chùa... Không chỉ có tài nguyên trên mặt đất và những sản phẩm nông nghiệp được chế biến, mà nhiều tài nguyên khoáng sản dưới mặt đất cũng tiếp tục được khai thác và chế biến thành sản phẩm phục vụ đời sống dân sinh trên địa bàn và cung cấp cho các địa phương khác. Nghề đục đá xanh, đúc đồng, làm gốm phát triển nhiều ở huyện Phước Chánh. Nghề khai thác mỏ sắt, rèn sắt, đúc gang phát triển trên địa bàn huyện Long Thành và huyện Phước Chánh. Tại “Long Thành còn có mỏ sắt (thiết khoáng), có dân thiết trường lãnh trưng mở lò đào nấu. Ở trấn Biên Hòa có nhiều nơi có mỏ đá ong (phong thạch), người thợ đào ra nhân khi đất còn ướt mềm, tùy theo sự cần dùng thước tấc rộng dày thế nào thì chặt ra thành khối để trải ra giữa gió và mặt trời, thì đất ấy cứng rắn, búa đẽo cũng không vô, dùng xây vách tường, sân hè, cừ sông và phần mộ, kiên cố không thua gì đá núi. Mặt viên đá ấy có lỗ nhỏ lấm tấm trông như tổ ong nên gọi là đá ong. Trong rừng bao la ở Biên Hòa có rất nhiều gỗ quý như các loại cây sao, gõ, huỳnh đàn, trai, dầu, bời lời, huỳnh tâm... để làm nhà cửa, đồ đạc và đóng thuyền” (1).

Trong các nghề thủ công của cư dân vùng Đồng Nai trong thời kỳ này còn phải kể đến nghề chế biến lương thực, thực phẩm như: làm bánh kẹo (đặc biệt là làm kẹo đậu phộng, kẹo mè, bánh tráng...), nấu rượu (chủ yếu là rượu gạo), vừa mang tính phổ biến, vừa mang dấu ấn của sắc thái địa phương và văn hóa cổ truyền của tộc người.

Bên cạnh những nghề thủ công khá phổ biến mà nguồn nhân lực chủ yếu là cư dân người Việt và người Hoa nêu trên, còn có những nghề thủ công truyền thống khá đặc thù của đồng bào các dân tộc Châu Ro, Mạ, Stiêng, Chăm. Đó là nghề đan lát bằng nguyên liệu tại chỗ mây, tre, lá... nghề rèn của người Stiêng, nghề dệt thổ cẩm và mền đắp của người Mạ và người Chăm, nghề dệt chiếu (đặc biệt là chiếu lùng) của người Châu Ro... Những sản phẩm này không những chỉ đáp ứng nhu cầu tự cấp tự túc trong bộ tộc mà còn được đồng bào các tộc người khác ưa dùng. Một bộ phận trong những sản phẩm đó chính là hàng thủ công mỹ nghệ có giá trị.

Như vậy, trên vùng đất Đồng Nai trong những năm từ 1802 đến 1858, các hoạt động sản xuất thủ công có vị trí đáng kể trong nền kinh tế và đang trên đà phát triển. Nguồn nhân lực tại chỗ và nguồn nguyên liệu tại chỗ đảm bảo duy trì các hoạt động ấy. Sản phẩm từ các nghề thủ công này, trước hết đáp ứng nhu cầu tiêu dùng sở tại, đồng thời được đem trao đổi, buôn bán không chỉ với các địa phương khác trên cả nước (đặc biệt là Nam kỳ lục tỉnh và Nam Trung bộ) mà còn với nước ngoài.

Trong thời kỳ lịch sử này, Cù Lao Phố tuy không còn tấp nập và sầm uất như trước, nhưng vẫn là một đầu mối thương mại lớn của khu vực. Cù Lao Phố có quan hệ mật thiết đặc biệt với Bến Nghé, một trung tâm thương mại quan trọng bậc nhất của vùng đất Nam bộ đương thời. Mặt khác, bên cạnh Cù Lao Phố, trên lãnh thổ tỉnh Biên Hòa lúc này còn có 18 chợ nữa trong tổng số 93 chợ trên toàn Nam kỳ lục tỉnh vào năm 1851 được Quốc sử quán triều Nguyễn ghi lại trong sách Đại Nam nhất thống chí. Theo đó, Biên Hòa tuy là tỉnh nhỏ, ít dân, nhưng là một trong hai tỉnh có số chợ nhiều nhất (2).

Hoạt động của phái đoàn kinh lược đạc điền Nam kỳ năm 1836 đã tác động sâu sắc đến các hoạt động kinh tế trên vùng đất Đồng Nai. Trước năm 1836, ruộng đất canh tác chỉ được tính đại khái theo các đơn vị sở, thửa, dây, khoảnh... Sau năm 1836 được tính bằng các đơn vị mẫu, sào, thước, tấc, phân, khẩu... theo qui định thống nhất của Nhà nước (1). Từ đây, ruộng đất cũng được phân theo đẳng hạng một cách thống nhất, rạch ròi:

- Thảo điền là loại ruộng cỏ, ruộng thấp hay ruộng sâu.

- Sơn điền là loại ruộng núi, ruộng gò hay ruộng cao.

- Tang căn thổ là loại đất trồng dâu tằm.

- Giá thổ là loại đất trồng mía đường.

- Phù viên thổ là loại đất vườn trồng trầu không.

- Viên lang thổ là loại đất trồng cau.

- Vu đậu thổ là loại đất trồng khoai đậu.

- Ba tiêu thổ là loại đất trồng chuối.

- Thanh trúc thổ là loại đất trồng tre nứa.

Trên một ý nghĩa tương đối, có thể nói rằng, tỉnh Biên Hòa của nửa đầu thế kỷ thứ XIX có một nền kinh tế phát triển tương đối toàn diện hơn so với các tỉnh khác thuộc Nam kỳ. Thực tế lịch sử cho thấy những hoạt động kinh tế trên vùng đất ngày nay thuộc tỉnh Đồng Nai là biểu hiện tương đối tập trung những đặc điểm kinh tế của Biên Hòa đương thời (trừ nghề biển). Vào thời kỳ này, hoạt động của trung tâm thương mại và thủ công nghiệp Cù Lao Phố tuy có giảm sút so với giữa thế kỷ XVIII nhưng đã phục hồi dần. Nhìn tổng thể thì nền kinh tế trên vùng đất Đồng Nai trong những năm từ 1802 đến 1858 có những bước phát triển so với các thời kỳ lịch sử trước đó.



(1) Quốc sử triều NguyễnĐại Nam thực lục, tập II, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1962, tr.9.

(2) Trịnh Hoài Đức, sđd, tr.17 - 18.

(3) Đại Nam thực lực Chính biên, Đệ nhị kỷ, Bính Thân (1836), Hà Nội, NXB KHXH, 1969, tr.49.

(4) Địa bộ là một văn kiện cơ sở hình dung địa đồ của làng, mô tả và phân loại các ruộng đất trong làng: đó là một chứng thư  quy chế về văn bản pháp lý các loại ruộng đất trong làng, từ đó người ta có thể giải quyết những vụ tranh tụng, những việc chuyển nhượng và lập sổ điền bạ để đánh thuế.

(5) Trịnh Hoài Đức, Sđd, Q.III, tr.17. Tiêu chuẩn để phân biệt hai loại ruộng này là độ cao thấp, mà muốn biết cao thấp người ta căn cứ lượng nước phân bố trong các mùa khác nhau. Ruộng thấp thường được cung cấp nước khá thường xuyên nên trồng lúa rất tốt, và nếu không trồng lúa thì cỏ hoang mọc lan tràn. Dĩ nhiên đây là những khu ruộng không bị nhiễm bị chua mặn một cách thái quá làm hại cho việc trồng trọt. Về phương diện địa lý, thì nói chung số lượng thảo điền được phân bố trong các làng xã ở miền Tây, tuy đây không phải là miền không có những loại sơn điền. Sơn điền chỉ những loại ruộng cao hơn nên ít nước và nước không được phân bố thường xuyên theo các mùa. Việc trồng lúa trên những loại này khó khăn hơn, vì phải có nước trời hay dẫn nước từ nơi khác đến nhờ công trình thủy lợi hay tác nước. Nông dân cũng áp dụng việc luân canh trên những loại sơn điền này để có thể đạt năng suất tối đa và đáp ứng nhu cầu về các loại nông phẩm khác nhau trong đời sống nông thôn. Sự khan nước trên các sơn điền khiến cho độ phì nhiêu giảm sút và làm cho các sơn điền phần nhiều tập trung ở miền Đông.

(1) Tất cả mọi dân đinh từ 18 có khi 16 tuổi trở lên đều được cấp khẩu phần công điền trong thời hạn 4 năm có khi 6 năm. Việc ấn định khẩu phần công điền được căn cứ theo thông niên, trình độ học vấn hay chức vụ của người thụ hưởng. Do đó có nhiều hàng khẩu phần công điền và những hàng này là cơ sở hình thành những giai tầng xã hội mới ở nông thôn, nếu có người quá cố hay bị truất quyền, thì khẩu phần của họ bị thu hồi để đem cho những người đến tuổi hưởng dụng. Những dân đinh được hưởng dụng, phải nạp cho công khố một số thóc ấn định theo luật lệ, phải canh tác trên khẩu phần của mình, nếu không khẩu phần bị thu hồi: những người có tư điền thì không được chia công điền nữa cũng như những người thụ hưởng các hoa lợi do chức vụ phẩm hàm (họ được thu thuế tại một số làng xã mà triều đình phân phong cho họ); riêng các binh lính vẫn được hưởng khẩu phần công điền dành cho họ đủ có hoa lợi; tuy nhiên những người có số tư điền ít hơn khẩu phần công điền thì họ được cấp thêm số sai biệt, và người có tư điền ít hơn khẩu phần công điền, vẫn phải đem cầm tư điền của chính mình thì được hưởng số công điền bằng số đã cầm cho người khác; người đến tuổi hưởng công điền, dù chưa đến thời hạn quân phân điền thổ, được lĩnh canh nơi dân đinh nào quá cố hoặc người đã quá 60 tuổi

(1) Định chế công điền đã được thiết lập một cách khá phổ biến ở Đàng Trong từ sau thời kỳ phân chia Bắc Nam trong cuộc tranh chấp giữa các thế lực phong kiến. Nhưng định chế này chỉ được phát triển và củng cố một cách chậm chạp tại Nam kỳ cho đến ngay lúc thực dân Pháp tiến hành xâm lược phần lãnh thổ này từ 1859.

(2) Quốc sử quán triều Nguyễn, Minh Mạng chính yếu, tập III, Sài Gòn năm 1974, tr.76.

(3) Quốc sử quán triều Nguyễn, sđd, tập VI, tr.94

([1][46]) Huỳnh Lứa (chủ biên), Lịch sử khai phá vùng đất Nam bộ, Nxb. TP.Hồ Chí Minh, 1987, tr.123.

([2][47]) Huỳnh Lứa, sđd, trang 123 - 124.

(1) 1 mẫu bằng 150 thước x 150 thước; 1 thước bằng 0,4664 mét; 1 sào bằng 1/10 mẫu; 1 thước bằng 1/15 sào; 1 tấc bằng 1/10 thước. Số liệu trong bảng 5 biểu thị mẫu, sào, thước, tấc (thí dụ: 12.8.07.5 tức là 12 mẫu, 8 sào, 7 thước, 5 tấc).

(2) Đơn vị cơ sở ở đây được hiểu là cấp hành chính thấp nhất đương thời (thôn, xã, phường, ấp, hộ).

(3)Son điền được hiểu là ruộng gò, ruộng cao, rẫy đã thuần.

(4) Thảo điền được hiểu là ruộng trũng, ruộng thấp.

(5) Trịnh Hoài Đức, sđd, tập II, tr.30.

(6) Trần Minh Tân, Đồn điền - một trong những yếu tố hình thành làng xã Nam bộ, trong sách Hai mươi năm hoạt động khoa học của Trung tâm Nghiên cứu lịch sử (1975 - 1995), sưu tập một số công trình nghiên cứu khoa học”, Viện khoa học xã hội tại TP. Hồ Chí Minh, 1995. “Hộc” là dụng cụ đo lường đương thời, dùng để đo những chất hạt rời như lúa, gạo, đậu, mè. Có dung tích khoảng 10 lít.

(7) Những giống lúa có tên gọi bằng tiếng Việt

(1) Những giống lúa có tên gọi bằng tiếng Châu ro.

(2) Những giống lúa có tên gọi bằng tiếng Mạ.

(3) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập V (bản dịch), tr.82.

(4) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập V (bản dịch), tr.82.

(5) Nguyễn Thanh Nhã, Tableau é conomiqye du Vietnam aux XVII è et et XVIII è siècles, Paris, 1970.

(6) Huỳnh Lứa (chủ biên), sđd, tr.146.

(1) Trịnh Hoài Đức, sđd, tập Hạ, tr.39.

(2) Huỳnh Lứa (chủ biên), sđd, tr.148.

(3) Nguyễn Đình Đầu, sđd, tr.138

(1) Nguyễn Đình Đầu, sđd, tr.132

(2) Thời gian này, số chợ của các tỉnh làBiên Hòa 19, Gia Định 12, Định Tường 17, Vĩnh Long 19, An Giang 12, Hà Tiên 14.Huỳnh Lứa (chủ biên), sđd, tr.155

(1) Nguyễn Đình ĐầuTổng kết nghiên cứu địa bạ Nam kỳ lục tỉnh, NXB TP.Hồ Chí Minh, 1994, tr.26, 56.

Comments