4.3.2. Tình hình xã hội

IV.3.2 Tình hình xã hội:

Xã hội Đồng Nai trong những năm từ 1802 đến 1858 vận động trên cơ sở một nền kinh tế tuy chưa tiên tiến nhưng đang phát triển. Trong đó, nông nghiệp là nền tảng và đang có những chuyển biến mới; các nghề thủ công về cơ bản chưa tách khỏi nông nghiệp nhưng đã có bước phát triển quan trọng và từng lúc, từng nơi đã xác lập vị trí độc lập tương đối của mình; kinh tế hàng hóa và hoạt động thương nghiệp ngày thêm phong phú đa dạng.... Sự vận động ấy tiếp nối sự vận động của xã hội của nhiều tộc người sống gần gũi bên nhau mới vượt qua thời kỳ chiến tranh và cùng chung hưởng cảnh thái bình dưới sự chi phối của chính quyền nhà nước phong kiến (chính quyền ấy tuy đã bảo thủ lạc hậu nhưng thực sự có những nỗ lực đáng kể để quản lý đất nước, để vỗ yên dân chúng, và để phát triển kinh tế - lấy nông nghiệp làm nền tảng...) và ở một mức độ nhất định, nó đáp ứng phần nào những đòi hỏi cụ thể về sự phát triển của vùng đất Đồng Nai lúc đó.

Sự quản lý xã hội của vùng đất Đồng Nai trong thời kỳ lịch sử này ngày một chặt chẽ hơn theo phạm trù thiết chế xã hội phong kiến, triển khai trên vùng đất mới khai phá - mà những chủ nhân là lớp dân cư mới. Những đơn vị xã hội cơ sở của lớp dân cư mới này bao gồm nhiều loại hình như: thôn, xã, phường, ấp, hộ... và sự thích ứng vận hành của nó là một thiết chế năng động không rập khuôn như ở miền Bắc, miền Trung. Thiết chế ấy, trên thực tế lịch sử đã không đối chọi với những thiết chế xã hội cổ truyền của lớp cư dân bản địa trên vùng đất này mà từng bước thu hút nó vào guồng máy vận hành chung. Sự thu hút này đã không vội vàng, hấp tấp hay áp đặt. Những “paley” của người Châu Ro, những “bon” của người Mạ, những “palei” của người Chăm, những “poh” của người Stiêng, những “bang”, “tộc” của người Hoa vào những năm đầu của thế kỷ XIX vẫn giữ được vị trí độc lập của nó. Sự độc lập ấy trở nên ”tương đối” và giảm theo năm tháng. Người Hoa thích nghi với thiết chế xã hội mới nhanh hơn, ghép mình vào nó nhanh hơn mà vẫn giữ yếu tố “bang”, “tộc‘ của mình. Người Chăm, người Stiêng, người Mạ, người Châu Ro thích nghi với thiết chế xã hội mới chậm hơn và phải cần đến một thiết chế xã hội “trung gian” hay “quá độ” từ thiết chế xã hội tộc người cổ truyền đến thiết chế xã hội mới. Cái “quá độ” hay “trung gian” ấy là “sách”. Phần lớn những “sách” như vậy phải đến những năm 40 của thế kỷ XIX mới bước chân vào guồng máy xã hội mới. Chẳng hạn huyện Long Khánh vào những năm 1840 mới tiếp nhận vào sự quản lý của mình 48 “sách” nêu trên. Trong thời kỳ lịch sử này, có mâu thuẫn tộc người và xung đột tộc người diễn ra trên một số địa phương có cộng đồng dân cư đa tộc thuộc Nam kỳ lục tỉnh (như tỉnh Trà Vinh là một điển hình). Nhưng đến nay chưa thấy có tài liệu nào nói đến những mâu thuẫn tộc người và xung đột tộc người ở tỉnh Biên Hòa đương thời.

Vào thời kỳ lịch sử này, căn cứ vào sắc tộc, cư dân được chia làm 3 loại: cư dân người Việt được xếp vào “chánh hộ”, cư dân người Hoa được xếp vào “khách hộ”, cư dân các tộc người Châu Ro, Mạ, Stiêng, Chăm được xếp vào “man hộ”. Tất cả nam giới trong dân cư được quản lý chặt chẽ hơn nữ giới được chia làm 8 loại như sau:

1. Quân: lính thường trực

2. Tráng: lính dự bị

3. Lão: bô lão

4. Tật: người tàn tật

5. Cố: tá điền

6. Cùng: người nghèo túng

7. Đào: lính đào ngũ

8. Nhi: trẻ em

9. Dân: không 8 loại trên

Sự quản lý lực lượng sản xuất của xã hội cũng đi vào nền nếp và chặt chẽ hơn trước. Mỗi đơn vị xã hội cơ sở đều có văn bản theo dõi tài sản nhân lực. Sổ theo dõi số đinh (những nam giới trong độ tuổi từ 18 đến 55) gọi là “đinh bạ”. Ruộng đất được đo đạc và xếp hạng theo những tiêu chí thống nhất giúp cho sự quản lý xã hội được thuận tiện hơn. Sổ theo dõi chủ quyền ruộng đất được gọi là “địa bạ”, đơn vị đo lường và dụng cụ đo lường cũng được tiêu chuẩn hóa một cách thống nhất và biểu mức thuế được quy định một cách rạch ròi, có cơ sở thực tiễn. Sổ theo dõi tiền và thóc thuế gọi là “điền bạ”. Thực tế lịch sử cho thấy, công cuộc khai phá đất hoang ở vùng Đồng Nai diễn ra kém hơn về quy mô so với các tỉnh ở châu thổ sông Cửu Long và sự tích tụ ruộng đất vào giai cấp địa chủ cũng chậm và ít hơn. Sự chênh lệch về sở hữu ruộng đất và mâu thuẫn giữa địa chủ với nông dân ở đây ít diễn ra gay gắt hơn so với vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long. Tuy vậy, mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân lao động với chính quyền phong kiến các cấp cũng không kém phần gay gắt mà cuộc khởi nghĩa Lê Văn Khôi diễn ra trên đất Đồng Nai (1833 - 1835) là một bằng chứng điển hình. Về toàn thể địa bàn Biên Hòa đều nằm trong vùng tiểu nông và được tân lưu canh tác (nhiều đất màu và ruộng muối) (1).

Trong nửa đầu thế kỷ XIX, với sự thiết lập hệ thống hành chính khá chặt chẽ như trên đã trình bày, dân trong làng được chia thành 2 thành phần, có thể coi là 2 tầng lớp có địa vị xã hội khác nhau rõ ràng: dân bộ là những dân có đăng ký trong sổ bộ thuế và dân ngoài hay dân lậu là những người không có tên trong sổ chịu thuế.

Tầng lớp “dân bộ” trên nguyên tắc gồm tất cả các chủ hộ đủ 21 tuổi trở lên, các địa chủ hay thương nhân, hay những người có các phương tiện sinh sống độc lập. Chỉ những thành phần này mới đủ tư cách tham gia vào các công việc chung trong làng xã, họ là những người đóng thuế đinh. Tuy nhiên, trong hàng ngũ dân bộ, cũng có những thành phần được miễn một phần hay toàn phần loại thuế này như lão nhiêu, sĩ tử, quân bình. Đứng về mặt quản lý hành chính nhà nước chỉ biết đến những dân bộ vì chính họ mới là những người trả thuế đinh, gánh vác việc quân và mọi loại sưu dịch. Nhưng để giải quyết nhu cầu trong làng thì họ lại cần đến một loại người khác, đó là các dân ngoài, dân lậu.

Tầng lớp dân lậu bao gồm những người chạy trốn vì tù tội, nợ nần, những người nghèo khổ đủ loại đến xin tá túc trong làng. Đối với những loại người này, làng thường giúp họ sinh sống bằng cách để họ làm thuê làm mướn cho các “dân bộ”. Sau một thời gian, họ được phép khai khẩn một khoảnh đất và cuối cùng người dân lậu tiến tới một vị thế xứng đáng hơn. Dân lậu không được đăng tịch và nếu họ có được một sinh hoạt xã hội nào, đó là nhờ thiện ý của cộng đồng làng xã. Nhiều dân lậu cảm thấy sung sướng nhận làm công sưu, canh giữ làng, nhận làm các công việc phục dịch làng. Nhiều khi họ nhận thù lao để làm công sưu thay cho các dân bộ. Chính vì muốn có được những người chuyên lo các dịch vụ nói trên mà làng che chở các dân lậu, bảo đảm cho họ có một vị thế nhất định và giúp họ thoát cảnh lưu tán bất định. Dân lậu trở thành một thứ đội ngũ trù bị mà làng sử dụng để bổ sung cho số lượng “dân bộ”. Ngoài trường hợp đặc biệt này, tất cả mọi dân lậu không đăng ký trong sổ bộ thuế đều không được tham dự vào công vụ của làng, cho dù thời gian cư ngụ của họ có kéo dài bao lâu.

Chính mối quan hệ nhà nước - dân bộ - dân lậu này trong các làng xã đã bộc lộ một đặc điểm về sự bóc lột phong kiến bằng cách phân hóa hàng ngũ công dân; tức cư dân ở nông thôn trong chừng mực nhà nước có thể kiểm soát được. Và quá trình phân hóa này càng mãnh liệt bao nhiêu thì nhà nước và “dân bộ” càng có lợi bấy nhiêu nhờ khai thác sức lao động của thành phần dân lậu này.



(1) Xem thêm Nguyễn Đình ĐầuNghiên cứu địa bạ triều Nguyễn Biên Hòa, Nxb. TP.Hồ Chí Minh, 1994, sđd.

Comments