4.3.3. Sinh hoạt văn hóa

IV.3.3 Sinh hoạt văn hóa:

Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, trong nửa đầu thế kỷ XIX, sinh hoạt văn hóa của cư dân Đồng Nai cũng diễn ra khá phong phú.

Trong toàn bộ sinh hoạt văn hóa làng xã Việt Nam nói chung, Đồng Nai nói riêng trong thời kỳ này, điểm nổi bật nhất vẫn là sinh hoạt chung quanh ngôi đình làng, cùng những thú tiêu khiển và nghệ thuật mang tính chất dân gian.

Khoảng cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, mỗi làng ở Đồng Nai thường dựng lên một ngôi đình để thi hành các lễ nghi tế xã vào một ngày thật tốt. Chiều hôm đó, mọi người lớn nhỏ đều nhóm tại đình và trải qua một đêm thâu ở đó gọi là Túc yết để sáng hôm sau cử hành lễ Chánh tế với áo mũ chiêng trống uy nghi. Sau cùng đến ngày hôm sau nữa, các quan viên làm lễ Dịch tế gọi là Đại đoàn. Lễ xong mọi người chia tay ra về.

Mỗi làng chọn ngày giờ cúng tế khác nhau tùy theo hương tục: có làng chọn ngày Xuân làm lễ cầu thần cho được mùa sắp tới; có làng lại chọn ngày Thu để cúng lễ tạ ơn thần đã cho một mùa thu hoạch mỹ mãn; nhưng cũng có nơi chọn những ngày trong ba tháng mùa Đông để tạ lễ vì trọn năm thành công. Tất cả những lễ cúng tế này đều có ý tạ ơn và xin bằng yên nên đều gọi là lễ Kỳ Yên hay Cầu An.

Ngày cúng tế ngoài chủ ý tạ ơn thần hay cầu bình an còn mang một ý nghĩa xã hội: Hương chức có địa vị cao và học vấn nhiều - phụ trách việc giảng quốc luật và hương ước cho dân làng. Nhân dịp này, thôn hội còn duyệt xét sổ sách để kiểm điểm việc thu nộp thuế, diêu dịch, gạo tiền dư thiếu, nông điền mất trong năm; sau cùng làng tổ chức việc bầu cử các chức sự vào thôn hội và tiến hành bàn giao công việc ngay trong ngày (1)

Ngôi đình làng vẫn giữ một vị trí quan trọng có tính truyền thống trong các làng xã ở Đồng Nai: đình là nơi sinh hoạt tập thể long trọng và chính thức của làng xã. Tại đình có thiết trí bàn thờ thần làng, tức Thành hoàng, và đây cũng là nơi hội hợp các kỳ hào để bàn luận mọi công việc liên hệ đến làng.

Thần làng ở Đồng Nai có thể được xếp vào loại thiên thần như thần sông, thần núi hay nhân thần. Trong đó rất nhiều làng người sáng lập hay có nhiều công trạng đối với làng cũng được tôn sùng làm thần làng, như tại làng Bình Kính, Nguyễn Hữu Cảnh trở thành một thần làng được nhân dân sùng bái từ sau năm 1700.

Hồn của thần được thể hiện bằng sắc phong của nhà vua, gồm có 3 loại hay 3 bậc: thượng đẳng thần, trung đẳng thần và hạ đẳng thần. Sắc phong thần được đặt trong hòm sắc sơn son thiếp vàng.

Mỗi tháng đều có 2 kỳ lễ thường, tức lễ Sóc và lễ Vọng được cử hành vào ngày mùng 1 và ngày rằm trong tháng (âm lịch). Ngày đó, ông chủ từ đánh chuông trống, đốt hương nến rồi thay mặt cho cả làng tế lạy thần làng. Ông thủ từ không được “gần gũi” với gia đình và giữ chay tịnh trong suốt năm làm chủ từ.

Ngoài ra làng còn có nhiều lễ khác được cử hành trùng hợp với từng mùa theo chu kỳ nông nghiệp hàng năm, các lễ chính yếu liên quan đến thần làng gồm có:

- Lễ Cầu An, hay Kỳ Yên được tổ chức vào tháng 11 hay tháng 12 để cầu khẩn vị Thành hoàng bổn cảnh ban bình an và thịnh vượng cho làng. Có làng lại tổ chức ngày này vào ngày rằm tháng Giêng.

- Lễ Hạ điền được tổ chức vào ngày bắt đầu cấy lúa hay sạ thóc để cúng tế thần làng, xin ban cho một mùa cấy tốt và gặt tốt.

- Lễ Thượng điền thường được cử hành sau khi cấy lúa xong, vào khoảng rằm tháng Mười.

- Lễ Chạp miếu được tổ chức vào tháng Chạp để tạ ơn thần đã cho một mùa gặt tốt.

Ở nhiều làng tại Đồng Nai, còn có các lễ múa bông và cầu bông tổ chức vào mùa thu, lễ tống quái hay tống gió vào đầu năm tới. Mỗi lần làng gặp phải những tai nạn như cháy nhà, hạn hán, ngập lụt hay dịch bệnh, người ta cũng thường tổ chức những buổi cúng tế để xin thần làng phù trợ cho dân làng thoát những tai ương này. Có lẽ ngày lễ vào đám hay vào hội là ngày long trọng nhất được tổ chức trong một năm. Có khi ba năm một lần. Người ta cũng gọi lễ này là lễ nhập tịch, vì để kỷ niệm ngày sinh hay ngày sắc phong của thần làng. Trong dịp lễ, dân làng thường tổ chức các cuộc vui chơi.

Đồ cúng trong các ngày lễ, không kể trầu cau và rượu là những thứ không thể thiếu, người ta còn thấy có oản, chuối, cam... xôi hay cơm nếp, và tam sinh tức là ba con vật nuôi heo, bò, dê hay chỉ có heo, bò hay trâu.

Việc cúng tế ở đình do một vị chủ tế, 2 bồi tế, 1 đông xướng, 1 tây xướng và các vị chấp sự từ 2 đến 8 người đảm trách. Số những tham gia hành lễ không nhất định và càng đông người thì cuộc tế càng trở nên long trọng hơn. Các vị đều bận áo thụng xanh, đội mũ, đi ủng. Riêng các vị quan cử hành việc cúng tế thì mặc áo trào, đội mũ cánh buồm, đi ủng và hai tay cầm hốt. Trong khi cử hành các nghi lễ, người ta còn sử dụng âm nhạc cổ truyền với trống cái, chiêng, kèn, trống con và bát âm, tức là sên tiền, đàn nguyệt, đàn tam, đàn nhị, sáo, trống cố, đàn tỳ bà, cảnh. Để lo việc cúng đình hàng năm, mỗi làng đều thành lập một tổ chức chuyên trách gọi là Hội hương. Hội hương này do vị Kế hiền đứng đầu gồm có một số chức sự như: Tiền bái, Chánh bái, Bồi bái, Phó bái, Chánh tế, Hương quản, Hương cả hay Cả trưởng và Chủ trưởng. Mỗi chức vụ này đều có những trách nhiệm và địa vị rõ rệt trong việc cúng tế. Tuy nhiên Hội hương không được tổ chức thống nhất đối với mỗi làng vì tùy theo nhu cầu làng có thể chọn lựa một số tối thiểu những người chuyên lo việc cúng lễ. Do uy tín và kinh nghiệm cũng như do khả năng tài chánh, những người giữ chức vụ trong Hội hương thường đóng vai trò cố vấn cho thôn hội. Như thế, Hội hương có ý nghĩa tín ngưỡng và Hội đồng Hương chức - có ý nghĩa xã hội chính trị, đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: ngôi đình vừa là nơi cử hành việc cúng tế vừa là trung tâm sinh hoạt xã hội chính trị của toàn thể dân làng.

Đình còn tượng trưng cho một cộng đồng làng xã trong đó thần làng đã nhập thể vào cuộc sống của dân làng để điều khiển làng đi theo một chiều hướng riêng biệt thể hiện cá tính của mình. Người ta có thể biết được những đặc điểm của một làng xã nếu biết rõ vị thần làng được sùng bái tại đình làng đó.

Nhưng khác với chùa chiền Phật giáo và nhà thờ Kitô giáo là những địa điểm sinh hoạt cộng đồng mang tính chất tôn giáo thuần túy, đình làng còn dành cho những sinh hoạt xã hội của làng. Đình quả là trung tâm sinh hoạt tinh thần và xã hội của dân làng khi đình được sử dụng vừa làm nơi tế lễ, vừa làm chỗ hội họp các Hương chức, vừa làm địa điểm tổ chức các cuộc vui chung trong làng.

Ngoài thần làng là một loại đối tượng thờ cúng phổ cập trong giới quần chúng nông dân Đồng Nai, người ta còn thấy có nhiều loại thần khác được thờ phụng trong các đền, miếu, am là những loại kiến trúc nhỏ bé sơ sài. Khởi đầu thường do tư nhân thiết lập để tỏ lòng sùng bái một vị thần đã gia ân cho bản thân, hay gia đình hay địa phương của họ. Câu nói bình dân “Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá, cảnh thổ nào phải có thần hoàng ấy” chứng tỏ ngoài thần làng còn có các loại thần sông, núi, đất,... Tại Đồng Nai có nhiều đền miếu nổi danh linh ứng đến nỗi triều đình đã cho ghi vào quốc điển để đời đời nhân dân ghi nhớ. Điều đáng lưu ý là nào những vị thần có tính cách truyền thống như Long Vương, Nam Hải Vương, Hải Thần, Hỏa Tinh, Quan Công... có những làng xã còn tiếp nhận cả những vị thần từng được nhân dân bản địa người Khơ me sùng bái từ lâu đời, đó là Ngũ Công tại nguồn Băng Bột, trấn Biên Hòa: Tà - Mã, Tà - Môn, Tà - Nông, Tà - Việt, và Tà - Khuông (1). Ở Đồng Nai có 9 đền miếu nổi tiếng linh ứng được phân bố như sau: (1)

 

Trấn

Đền

Địa điểm

Miếu

Địa điểm

Biên Hòa

Lễ Công

Long Vương

Diêm Vương

Giáp Công

Nam Hải

Ngũ Công

Đại Phố

Đông Trấn, 50 dặm

Thước Hưng

Xích Lam

Miền Biển

Bằng Bột

Văn Miếu

Hội Đồng

Quan Đế

Bình Thành

Biên Hòa

Nam Đại Phố

 

Điều cần lưu ý là Trịnh Hoài Đức ghi lại những đền miếu này sau khi cuộc chiến giữa Tây Sơn và họ Nguyễn đã làm hủy hoại nhiều kiến trúc cổ xưa, có thể đã có từ giai đoạn những di dân người Việt đầu tiên đến Đồng Nai.

Hầu hết các đình đều thờ các thần linh đã có những kỳ tích người dân tại Đồng Nai như Long Vương, Diêm Vương, Nam Hải tướng quân và Ngũ Công. Chỉ có một nhân vật lịch sử - dĩ nhiên có công với chúa Nguyễn - và một nhân vật lịch sử của Trung Hoa mà nay đã được thượng tôn làm thần thánh. Và như thế, việc thờ thần rõ ràng gắn liền với cuộc sống xã hội của dân cư.

Ở đầu thế kỷ XIX, qua số lượng các miếu Hội đồng thờ chung nhiều linh thần tại từng cảnh thổ địa phương, có vẻ họ Nguyễn đã cho thiết lập những loại miếu này để có thể thiết lập truyền thống đẳng tế cho mỗi trấn. Sự gia tăng số lượng các đền miếu về sau này, được ghi lại trong Đại Nam nhất thống chí, có thể củng cố cho giá trị của giả thiết vừa nêu:

 

Tỉnh

Đàn

Đền

Miếu

Từ

Am

Biên Hòa

Xã Tắc

Tiên Nông

Kỳ Phong

Lễ Công

Quan Công

Long Vương

Diện Công

Giáp Công

Hiên Ngọc Hầu

Hồ Tập

Nam Hải

Hỏa Tinh

Chu Công

Trung Tiết

Văn Miếu

Hội Đồng

Thành Hoàng

 

Vân Tình

 

Bảng kê trên cho thấy số đền miếu được ghi vào quốc điển đã gia tăng, đồng thời có thêm nhiều loại kiến trúc mới như đàn tế, từ và am nhỏ. Ngoài những điều nêu trên nhà Nguyễn còn lập tại Đồng Nai cả một thần hệ gồm có các thần Xã tắc, thần Sơn xuyên, thần Tiên nông, thần Văn miếu để nhân dân làm lễ cúng tế theo đẳng cấp của mình.

Ở Đồng Nai, trong nửa đầu thế kỷ XIX, trong đời sống tinh thần của người dân, Phật giáo chiếm vị trí quan trọng, chùa chiền gia tăng nhiều. Nếu trong Gia Định Thành thông chí - Trịnh Hoài Đức chỉ ghi lại một ngôi chùa Sắc Tứ danh tiếng, thì Đại Nam nhất thống chí cho biết ở Đồng Nai có 12 chùa: (1)

Tên chùa

Địa điểm

Hộ Quốc

Long Hưng

Hội Sơn

Bửu Phong

Đức Vân

Long Cốc

Vạn An

Bửu Sơn

Bửu Thành

Đại Giác

Khánh Long

Chúc Đảo

Đắc Phước

Phước An

Long Tuy

Bình Định Điện

Núi Mỗi Xuy

Phước Khánh

Phước An (1720)

Bình Thành

Bình Thành

Tân Hưng

Gò Quýt

Bình Thành

 

Trong thời kỳ này, việc tu sửa và xây cất đình chùa không những do nhân dân tự quyên góp nhân tài vật lực để làm, mà triều đình cũng quan tâm đến việc ấy. Vua Gia Long đã cho trùng tu chùa Đại Giác ngay trong năm 1802 và sau đó cho tái trùng tu chùa này vào năm 1820. Vua Minh Mạng cho trùng tu Bửu Phong cổ tự vào năm 1829 và cho phép xây dựng đình Tân Lân vào năm 1832. Những công trình như vậy đã góp thêm sự đa dạng phong phú vào quần thể kiến trúc văn hóa trên địa bàn này.

Cùng với Phật giáo, Công giáo cũng có một chỗ đứng nhất định trong đời sống tinh thần người Đồng Nai. Đồng Nai trong những giai đoạn cấm đạo ngặt nghèo của thế lực phong kiến họ Nguyễn đã là nơi dung thân của nhiều tín đồ Công giáo trốn chạy khỏi những cảnh bắt bớ không nương tay ở phía Bắc Đàng Trong. Đó là cơ sở xã hội để cho Công giáo dần dần sinh trưởng trên vùng đất này. Từ nửa sau thế kỷ XVII, một tập thể Công giáo nhỏ bé đã mọc lên ở Đất Đỏ, rồi lan dần xuống Bà Rịa, Đồng Nai. Vào những năm 40 của thế kỷ XVIII, một họ đạo hình thành ở Bến Gỗ (tổng Long Vĩnh, huyện Long Thành) gồm khoảng 200 giáo dân thuộc dòng Thánh Jésustes. Trong nửa đầu thế kỷ XIX, nhiều cộng đồng Công giáo tiếp tục hình thành trên đất Đồng Nai. Rõ ràng sự phát triển của Công giáo đã đem lại một thành tố mới trong cơ cấu tinh thần truyền thống của người Việt ở Đồng Nai nhưng lại không gây nên một sự kỳ thị tôn giáo nào.

Ngoài những trào lưu tín ngưỡng và tôn giáo trên đây, sinh hoạt văn hóa của người dân Đồng Nai còn biểu hiện ở những hình thức khác như các thú tiêu khiển, các thứ thể loại nghệ thuật bình dân như thi ca, tuồng kịch, câu ví, câu đối... Từ khoảng đấu thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX. Những tài liệu đề cập trực tiếp các thú vui chơi ở Đồng Nai thật hiếm hoi. Tuy nhiên trong một chừng mực nào đó, những tài liệu nói đến sinh hoạt vui chơi của nhân dân Đàng Trong nói chung, đặc biệt ở vùng Thuận Quảng, cũng giúp ta hình dung cách thức tiêu khiển của nhân dân vùng Đồng Nai nói riêng. Những trò chơi và những cuộc biểu diễn nghệ thuật khác thường được tổ chức vào những dịp lễ tiết trong năm, quan trọng nhất là Tết Nguyên Đán và những lễ tế thần ở đình làng. Những trò tiêu khiển thường thấy trong các làng xã là chơi banh, đá cầu, chơi cờ tướng, đá gà, đá cá, hát tuồng, hát bội, múa, đánh đu, đánh vật... Trong trò chơi banh, ở nhiều làng xã, người Việt thường dùng một cây gậy nhỏ để đưa banh; còn khi chơi cầu, người ta dùng chân trao cầu cho nhau, hễ ai để rơi thì người đó thua. Cờ tướng là một loại cờ du nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam và đã phổ cập trong dân gian. Ở Đồng Nai, đá gà và đá cá là những trò chơi rất thịnh hành trong các làng xã không phải chỉ trong những dịp lễ tiết trọng thể mà cả trong sinh hoạt thường ngày. Loại tiêu khiển này cho đến ngày nay vẫn còn phổ biến. Ở thế kỷ XVII và XVIII, những trò chơi này cũng là những thú vui ưa thích của chúa Nguyễn (Võ vương Nguyễn Phúc Khoát là một tay say mê đá gà cũng như Tả quân Lê Văn Duyệt). Trong dịp lễ lớn, cúng đình thì tại Đàng Trong cũng như Đồng Nai nhân dân thường thích xem diễn tuồng, tức là một lối vừa hát vừa múa với những cử chỉ, bộ điệu để làm trò. Xen lẫn vào các màn tuồng còn có ca múa tập thể với những vũ điệu mềm mại và đều đặn. Nhiều khi người ta còn múa đèn dầu trong lúc diễn tuồng: người múa để đĩa dầu trên đầu trong khi hai tay vẫn múa thật nhịp nhàng nhưng cố giữ thăng bằng làm sao cho đĩa dầu không đổ, dầu không tràn ra ngoài và ngọn lửa vẫn không hề thay đổi. Nghệ thuật múa ở Việt Nam xưa bao giờ cũng phân biệt trai gái vì nam nữ thọ thọ bất thân: không khi nào trai gái múa mà lại sát gần nhau. Múa là công việc của nhà nghề, không phải bất cứ ai cũng biết múa. Đề tài hát tuồng thường chú trọng việc ca tụng các bậc anh hùng dân tộc như vua chúa và tướng lĩnh phong kiến; và có pha lẫn những câu tình tứ với tinh thần trung nghĩa với đất nước của các nhân vật. Lời nói, tiếng hát cùng với cử điệu xen lẫn nhau trong những cuộc đối thoại giữa các người diễn tuồng. Vào thế kỷ XVIII, việc hát tuồng ở Đàng Trong thịnh hành không những ở nơi dân gian mà cả trong chốn cung đình phong kiến. Các chi phí tuồng tổ chức ở làng đều được làng xã đài thọ trong khi chính các chúa quan hay những người giàu có phải đài thọ cho những cuộc diễn tuồng theo ý muốn của riêng họ. Ở Đồng Nai, vào các ngày Tết Nguyên Đán, nhân dân hay chơi đánh đu. Dàn đu thường dựng bằng tre; người đu thường phải uốn mình để lấy đà đu thật cao để có thể giật được giải thưởng được đặt ở chỗ cao nhất. Khi có nhiều người cùng đu, thì trai gái không được đu chung với nhau.

Trong Gia Định Thành thông chí, Trịnh Hoài Đức còn mô tả lối đánh đu tiên gọi là vân xa thu tiên (tiên bay múa trên xe mây) (1): 8 thiếu nữ xinh tươi mặc y phục lộng lẫy cùng ngồi trên xe đu thay nhau đạp xuống nền đất phía dưới để đẩy cho xe đu quay nhanh làm cho người xem có cảm tưởng đang ngắm bầy tiên nữ cưỡi bay trên xe mây; lối đánh đu rút: người đu điều khiển dây đu làm cho thân mình lên cao dần, hơi nhoài giữa không trung; và lối đánh đu dàn xay: hai thanh niên trai tráng ngồi ở hai đầu một thân cây gắn vào một trụ quay ở giữa dùng chân đạp mạnh làm cho thân cây xoay tròn theo chiều này hay chiều khác.

Những thú tiêu khiển ở làng xã Đồng Nai đã biểu trưng một cách thật sống động cho tinh thần đoàn kết, hợp nhất của người nông dân. Mọi người tham dự đều có những tác động tập thể tích cực theo nhịp trống chầu và tiếng vỗ tay tán thưởng cổ vũ. Hơn nữa vì mọi người trong làng đều đã biết nhau rõ ràng, nên họ đều hướng đến một đối tượng một cách tập trung. Chính sự chăm chú tập trung này đã phát sinh mối liên đới xã thôn, mà cái nút thắt chặt của nó chính là một trò chơi, một diễn viên hay một tiếng trống... Trong các trò chơi và những thú tiêu khiển ưa thích, người ta nhận ra tinh thần, óc thông minh, cũng như sự tinh tế thanh tao của một dân tộc, một cộng đồng thôn xã. Trò chơi còn bộc lộ trình độ và sắc thái nghệ thuật của người biểu diễn cũng như của cộng đồng dân làng dự khán; nó cũng góp phần đào tạo những đức tính nơi con người như sự lanh lợi, ngay thẳng trong luật chơi, khả năng thẩm mỹ nơi con người...

Về sinh hoạt văn hóa trên đất Đồng Nai vào thời kỳ lịch sử này, còn phải kể đến những sinh hoạt lễ hội dân gian truyền thống của các tộc người. Đó là những nghi lễ tín ngưỡng dân gian truyền thống của người Việt và người Hoa thể hiện đậm nét trong lễ cưới, lễ tang (1)... Đó còn là những sinh hoạt cộng đồng của những tộc người bản địa trên cơ sở tín ngưỡng dân gian, tập trung vào những lễ nghi nông nghiệp.

Vùng đất Đồng Nai trong những năm từ 1802 đến 1858 thái bình hơn so với nhiều miền quê khác trên cả nước; có dấu ấn và âm hưởng của Hào khí Đồng Nai trong đó. Chính nó đã góp phần làm đậm nét bản sắc văn hóa Đồng Nai. Ở đây, vào thời kỳ lịch sử này, sự nghiệp giáo dục phát triển phong phú hơn so với thời kỳ trước đó. Bên cạnh sự học chính thống bằng chữ Nho thông qua những thầy đồ nơi tư gia và những giáo trình Nho giáo..., còn có những thầy chùa dạy kinh Phật, thầy dòng dạy Kinh Thánh... Phổ biến, bao trùm hơn cả là nền giáo dục dân gian truyền thống của các tộc người sống gần gũi bên nhau trên vùng đất này.

Bằng mồ hôi và công sức, đôi khi cả máu và nước mắt của các thế hệ lưu dân, qua hơn hai thế kỷ khai phá, bộ mặt kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng Nai đã thay đổi cơ bản. Vùng đất Đồng Nai từ chỗ là một vùng đất hoang vu đã sớm trở thành một vùng đất có sức thu hút mạnh đối với người tứ xứ:

Nhà Bè nước chảy chia hai

Ai về Gia Định - Đồng Nai thì về.



(1) Trịnh Hoài Đức, Sđd, Q.VI, tr.88 - 89.

(1) Trịnh Hoài Đức, Sđd, Q.VI, tr.115.

(1) Trịnh Hoài Đức, Sđd, Q.VI, tr.115.

(1) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, sđd.

(1) Trịnh Hoài Đức, Sđd, Q.IV, tr.9 - 10.

(1) Có nhiều “lễ” trong nghi thức cưới như: nạp thái, vấn danh, nạp kiết, nạp tệ, xiên, thỉnh kỳ, thân nghinh, giao bôi, giao bái, nhị (tứ) hỉ... và nhiều lễ trong nghi thức tang như: hồn bạch, phục hồn, phan hàn, tiểu liệm, liệm, nhập quan, phát tang, yết tổ, động quan, đưa đám, hạ huyệt, an sàng... Xin xem thêm trong tập V: Văn hóa - Xã hội, Địa chí Đồng Nai.

Comments