1.1. Âm mưu xâm lược Việt Nam và tiến trình xâm lược của thực dân Pháp từ Đà Nẵng đến Gia Định

I.1. Âm mưu xâm lược Việt Nam và tiến trình xâm lược của thực dân Pháp từ Đà Nẵng đến Gia Định:

          Ở châu Âu, chủ nghĩa tư bản ra đời từ thế kỷ XV, XVI, XVII và ngày càng phát triển. Các thương nhân Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Hà Lan... được sự giúp đỡ của nhà nước, đã tổ chức nhiều đoàn thám hiểm. Sau đó, họ thành lập nhiều công ty thương mại, đổ xô sang các châu Mỹ, Á, Phi hòng vơ vét vàng bạc, hương liệu (đinh hương, hồ tiêu, chè...) và nhiều loại nguyên liệu khác với giá rẻ, đồng thời bán hàng công nghệ phẩm. Chủ trương thôn tính, xâm lược các nước ở ba châu lục này thường được nêu ra với các chính quyền nhà nước vì giai cấp tư sản châu Âu đang lên rất cần vốn, nguyên liệu rẻ mạt để phát triển kỹ nghệ chính quốc và cần thị trường tiêu thụ hàng hóa làm ra.

Chủ nghĩa tư bản châu Âu sử dụng các giáo sĩ của các đoàn truyền giáo làm người “tiên khu” cho công cuộc thực dân. Họ có điều kiện len lỏi dễ dàng vào các vùng đất mới, tìm hiểu khá kỹ về địa lý, tài nguyên, phong tục, khả năng kinh tế và thực lực quốc phòng các vùng đó để giới thiệu với các tổ chức thương nhân hoặc làm môi giới dẫn đường cho kẻ sẽ chinh phục các miền này.

Năm 1686, Véret - một chủ tiệm buôn Pháp ở Xiêm La - cũng từng chú ý đến vị trí ở Côn Đảo trên con đường biển từ Ấn Độ đến Trung Quốc.

Vào thế kỷ XVI, XVII, các cảng: phố Hiến ở Đàng Ngoài và Hội An ở Đàng Trong đã đón tiếp các thuyền buôn Nhật, Hà Lan, Bồ Đào Nha... lui tới giao lưu thương mại...

Người Pháp tuy có ý đồ nhưng chưa kịp có hành động gì, thì năm 1702 nhóm Công ty thương mại Catchpole của Anh chiếm Côn Đảo - lúc này do dinh Trấn Biên cai quản. Chúng lập đồn lũy, bố trí phòng thủ và dựng kho chứa hàng.

Đại Nam liệt truyện tiền biên của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi:

“... Mùa thu năm ấy Hiến tông hoàng đế thứ 11 (1702) bọn hải phỉ là Tô - Lợi - già - thi (phiên âm chữ Catchpole) người An Nam - liệt (phiên âm từ English: Anh) năm người xưng là năm bang cùng đồng bọn 200 người tới đậu vào cảng Côn Lôn, kết trại sách, hàng hóa quý báu chất như núi, bốn mặt đều đặt đại bác”.

Quan trấn thủ dinh Trấn Biên là Trương Phước Phan - con thứ ba đại thần Trương Phước Cương, lấy con gái chúa Nguyễn (Nguyễn Phước Thái) - “đem việc ấy tâu về, chúa sai tìm kế diệt trừ bọn ấy. Phan bèn chiêu mộ 15 người Đồ - bà (Java) bí mật giả tới đầu hàng”, “nhân đêm phóng hỏa đốt chết nhất ban, nhị ban, bắt sống ngũ ban, còn hai tên tam ban, và tứ ban ra biển chạy trốn. Phan nghe báo lập tức sai binh thuyền ra Côn Lôn thu hết vàng lụa lấy được đem nộp, chúa bèn trọng thưởng”.

Lần đầu tiên, thực dân đế quốc phương Tây nếm đòn trừng trị tại Trấn Biên - Đồng Nai.

Năm 1721 đại diện của Công ty thương mại Pháp ở Ấn Độ tới Côn Lôn, ghi được dân số ở đây chừng 200 người (kể cả phụ nữ và trẻ em) và thất vọng, cảm thấy cô lập ở một nơi khó trồng tỉa, khó phòng thủ vì vậy đã tự động rút khỏi đây sau gần một năm đặt chân tới (1).

Năm 1749, giáo sĩ kiêm lái buôn người Pháp Pierre Poivre đến Đàng Trong truyền đạo đồng thời thu thập tin tức tình hình mọi mặt: chính trị, phong tục, sản vật, tôn giáo.... Khi về nước, ông ta báo cáo:

"Một công ty muốn đứng được ở Đàng Trong và có thiết bị chắc chắn để buôn bán có lợi thì cần có phương tiện để khiến người ta kiêng nể và kính trọng. Ta có thể chuyển người Đàng Trong sang các thuộc địa của ta để làm thợ sản xuất đường, tơ lụa.... Ta có thể chuyển sang cả thợ cày, thợ mộc" (2).

Năm 1784, sau năm lần liên tiếp thua quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh trực tiếp cầu viện tư bản Pháp giúp binh lính, súng đạn, tàu chiến. Giám mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaime) thay mặt Nguyễn Ánh ký với đại diện vua Pháp Louis XVI bản hiệp ước Versailles gồm 10 khoản (trong đó có khoản nhường Côn Đảo và Hội An cho Pháp tự do buôn bán). Hiệp ước này không thể thực hiện được vì tình thế của cuộc cách mạng Pháp năm 1789, nhưng nó xâm phạm chủ quyền độc lập đất nước. Hiệp ước này mở đường cho tư bản Pháp thực hiện âm mưu, kế hoạch xâm lược Việt Nam.

Từ nửa sau thế kỷ XVIII đất nước ta đứng trước hiểm họa mới.

Sau khi diệt nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi năm 1802 lấy hiệu là Gia Long, khởi đầu triều Nguyễn. Nguyễn Ánh và các vua kế vị thi hành các chính sách chuyên chế nhằm củng cố quyền lợi dòng họ và giai cấp địa chủ phong kiến. Tuy có làm được một số điều thúc đẩy một số mặt kinh tế - xã hội nào đó tiến lên, nhưng nhìn chung tập đoàn vua quan thống trị tăng cường áp bức bóc lột mọi tầng lớp nhân dân, thi hành chính sách trọng nông ức thương và kìm hãm ngành nghề thủ công, đẩy nền kinh tế vào tình trạng suy đốn. Chính sách đối ngoại bế quan tỏa cảng đã hoàn toàn tự hãm mình vào thế cô lập. Chính sách cấm đạo Công giáo, coi đạo này là tà đạo, tuy với ý định tốt bảo vệ an ninh chủ quyền đất nước song việc đàn áp và thiếu biện pháp thuyết phục lôi cuốn giáo dân đứng về phía dân tộc đã tạo duyên cớ cho địch lợi dụng khoét sâu chia rẽ khối đoàn kết toàn dân (chỉ một lần duy nhất năm 1836 chỉ dụ của triều đình xác định rõ lý do cấm đạo vì giáo sĩ nước ngoài phạm tội do thám).

"Ngay khi còn dựa vào giáo sĩ và người Pháp để đánh Tây Sơn, trong thâm tâm, Nguyễn Ánh cũng đã bắt đầu nghi ngờ, gờm sợ người Pháp và giáo sĩ. Vì vậy sau khi lên ngôi, Gia Long muốn xa lánh họ, hơn thế, muốn cự tuyệt họ.... Trong 20 năm ở ngôi, phương hướng giải quyết của Gia Long là cố sức gìn giữ mối quan hệ êm thắm với người Pháp và giáo sĩ, vì thấy rằng ở địa vị và hoàn cảnh của mình thì chưa thể "trở mặt" ngay với họ được. Gia Long muốn kéo dài tình trạng nhùng nhằng đó cho đến hết đời mình để rồi sẽ chuyển giao nhiệm vụ giải quyết vấn đề cho kẻ nối ngôi"..." Những chỉ dụ cấm đạo của Minh Mạng được ban hành sau khi Gia Long chết" về thực chất là sự thực hành đường lối cơ bản của Gia Long mà thôi"..." Thiệu Trị rồi Tự Đức kế tiếp nhau trị vì một đất nước "đóng kín". Vả chăng những biến chuyển mới không còn thuận lợi cho khả năng "mở cửa" mà trước hết là ý đồ xúc tiến công cuộc can thiệp vũ trang của thực dân Pháp đã được xác định. Tự Đức càng xoay xở càng lúng túng, cuối cùng không còn cách nào khác là dấn sâu thêm vào con đường Gia Long đã "lựa chọn" và Minh Mạng đã "triển khai"(1).

Các cuộc nổi dậy của nông dân nổ ra liên tiếp ở nhiều địa phương nhất là ở Bắc Hà, khiến triều đình Huế càng thêm lúng túng ứng phó.

Các nguyên nhân kể trên và nhiều nguyên nhân khác nữa đẩy triều Nguyễn vào thế bất lực, hèn yếu và vì vậy thất bại trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa thực dân Pháp. Họ phải chịu trách nhiệm về việc mất nước.

Vào các năm 1843, 1845, 1847 các tàu chiến Pháp liên tiếp vào cửa biển Phước Thắng (Vũng Tàu), ghé đảo La Dứ (Quảng Bình), cửa Ba Lạt (Nam Định) và Đà Nẵng, không kiêng nể chính quyền nhà Nguyễn và đưa ra các yêu sách: yêu cầu triều đình Huế bảo đảm tự do giao thương và tự do truyền đạo. Tư bản Pháp càng quan tâm hơn đến Việt Nam từ khi Napoléon III lên ngôi. Montigny được cử làm sứ thần đến Đà Nẵng đưa ra các đề nghị: đặt lãnh sự ở Huế, mở thương điếm ở Đà Nẵng và tự do truyền đạo. Cuộc thương lượng không thành, Montigny ra về với lời đe dọa sẽ dùng vũ lực. "Ủy ban nghiên cứu vấn đề về Việt Nam" được thành lập ở Pháp, họp từ ngày 28 - 4 đến 18 - 5 - 1857 định kế hoạch đánh chiếm nước ta, mục tiêu đầu tiên là Đà Nẵng.

Ngày 1 - 9 - 1858, dưới quyền chỉ huy của đô đốc De Genouilly, 15 chiến thuyền của liên quân Pháp - Tây Ban Nha với 850 quân Tây Ban Nha và 1.500 quân Pháp (trong đó có 2 đại đội gồm bọn Việt gian, thổ phỉ, một số giáo dân) kéo vào vịnh Đà Nẵng nổ súng, đổ bộ, chính thức mở màn xâm lược nước ta. Số giáo sĩ nước ngoài hứa hẹn với đạo quân viễn chinh: hễ liên quân đến thì giáo dân sẽ nổi lên hưởng ứng; nhưng thực tế điều ấy không xảy ra. Họ cũng thông báo rằng quân triều đình ít, sợ vũ khí tối tân châu Âu và sẽ tan rã ngay khi đụng độ; nhưng thực tế - theo lời viên sĩ quan Larclause - thì quân triều đình đông, dân quân càng đông hơn và tinh thần chiến đấu thì rất gan dạ.

Âm mưu đánh nhanh thắng nhanh bị thất bại do sức kháng cự của quân dân Đà Nẵng. Tuy binh lực ta gấp nhiều lần địch, nhưng triều đình Huế chủ trương triệt để phòng ngự, không chủ động tiến công đuổi giặc ra khỏi đất nước.

Sau năm tháng giằng co, sa lầy ở mặt trận Đà Nẵng, địch để lại đây một đại đội và vài tàu chiến, còn đại bộ phận kéo vào Nam đánh chiếm Nam kỳ. (quân Pháp rút hết khỏi Đà Nẵng ngày 23 - 3 - 1860).

Vũng Tàu là vị trí chiến lược án ngữ con đường thủy vào Nam kỳ. Tại đây, triều đình đã bố trí đồn lũy phòng thủ. Kể từ khi Pháp tấn công Đà Nẵng, hệ thống canh giữ, phòng thủ ở đây hết sức cẩn mật.

Ngày 10 tháng 2 năm 1859, liên quân Pháp - Tây Ban Nha pháo kích vào hệ thống phòng thủ của ta tại Vũng Tàu. Do tuần tra và canh mật nghiêm ngặt, Thống chế Trần Đồng chỉ huy pháo đài ở Vũng Tàu đã phát hiện từ trước cuộc tiến quân của quân Pháp. Lệnh báo động lan truyền khắp đồn lũy và lệnh dự bị tác chiến được ban ra. Khi quân Pháp tiến vào cửa biển Vũng Tàu, hàng trăm chiến thuyền với hàng ngàn binh sĩ của ta ra nghênh chiến, cản bước tiến quân thù. Một cuộc hỗn chiến nổ ra trên cửa biển Vũng Tàu. Mặc dầu chiến đấu dũng cảm, quân ta với vũ khí, phương tiện nhỏ đã thất thế trước kẻ thù có vũ khí hiện đại. Trên các pháo đài, súng thần công được bố trí sẵn không tiêu diệt được tàu địch. Cuộc chiến không cân sức đã làm cho quân sĩ ta tổn thất nhiều, nhiều chiến thuyền bị pháo địch bắn chìm.

Những đồn lũy phòng thủ trên mé núi quanh cửa biển bị vỡ do trúng đạn đại bác của địch. Vào buổi chiều, Thống chế Trần Đồng tử trận, hàng ngũ quân sĩ rối loạn và dần dần tan rã. Chỉ sau một ngày tấn công, quân Pháp - Tây Ban Nha đã phá tan hệ thống phòng thủ của ta tại cửa biển Vũng Tàu, mở ra một cửa ngõ quan trọng để tiến sâu vào lãnh thổ Nam kỳ.

Chiếm được Vũng Tàu, quân Pháp chuẩn bị tiến quân vào nội địa của Nam kỳ. Để thực thi kế hoạch này, quân Pháp bắt đầu tiến công hệ thống phòng thủ gồm nhiều pháo đài của ta tại cửa biển Cần Giờ. Nơi đây, hàng ngàn quân sĩ của ta còn đang phòng thủ.

Ngày 11 tháng 2 năm 1859, chiến hạm Pháp dưới sự chỉ huy của R. De Genouilly pháo kích vào Cần Giờ. Do có chỉ điểm, nắm rõ vị trí, địa hình phòng thủ từng đồn lũy, pháo đài, quân Pháp đã bắn đại bác không ngớt vào để tiêu diệt. Sau bốn tiếng đồng hồ chiến đấu, những pháo đài sụp đổ hoàn toàn, binh sĩ tổn thất hàng ngàn, nhiều kho trại bốc cháy, chiến thuyền bị phá hủy, quân quan hỗn loạn. Quân Pháp tuy thắng trận nhưng không đổ bộ mà dừng lại dò xét tình hình cản phá quân ta tập kích để chuẩn bị vượt sông Lòng Tàu.

Ngày 13 tháng 9 năm 1859, chiến hạm liên quân Pháp - Tây Ban Nha vượt sông Lòng Tàu. Quân ta chống giữ quyết liệt, tàu La Dragonne bị bắn trúng 3 đạn đại bác; tàu Avalanche bị trúng 7 đến 8 đạn đại bác (1). Nhưng cuối cùng, hàng loạt các đồn của ta dọc hai bên sông Lòng Tàu: Tam Kỳ, Xóm Rẫy, An Thít, Chà Là, Ông Nghĩa, Bến Tranh lần lượt bị đại bác Pháp phá tan.

Ngày 15 tháng 2 năm 1859, quân Pháp - Tây Ban Nha tiến đến Nhà Bè. Thuyền chiến của ta ra nghênh chiến. Tiếng súng hai bên nổ vang. Sau một hồi giao tranh, quân ta bị tan rã trước sức tiến công của giặc. Ngày 16 tháng 2 năm 1859, vị linh mục Lefébrre - đang bị triều đình nhà Nguyễn truy nã, sau khi cùng một vài giáo dân phản quốc trốn lên tàu của R. De Genouilly đã dẫn liên quân Pháp - Tây Ban Nha tấn công hai tiền đồn của ta ở Tân Thuận và Thủ Thiêm. Quân ta chống trả mãnh liệt nhưng chẳng gây thiệt hại nào cho giặc. Cuối cùng, hai tiền đồn bị phá rã, quân sĩ rút chạy. Khi triệt hạ được hai tiền đồn này, quân Pháp cho quân thám sát thành Gia Định.

Ngày 17 tháng 2 năm 1859, quân Pháp - Tây Ban Nha tiến công thành Gia Định. Trước tình hình lâm nguy, Tổng đốc Võ Duy Ninh cấp báo về kinh đô Huế, đồng thời thông tư đi các tỉnh lấy quân thêm tăng cường bảo vệ thành. Nhưng viện binh chưa về kịp thì liên Pháp - Tây Ban Nha đã chia thành nhiều đạo áp sát và pháo kích thành Gia Định. Tổng đốc Võ Duy Ninh trực tiếp chỉ huy cuộc chống giặc nhưng cuối cùng cũng đành thất thủ và tự vận. Thành Gia Định rơi vào tay giặc. Quân Pháp tịch thu 200 khẩu thần công, 58.000 kilô thuốc súng, 20.000 súng trường và nhiều giáo mác, 130.000 quan tiền và thóc gạo... Một số tướng, quân sĩ của triều Nguyễn ở thành Gia Định rút về các tỉnh kế cận. Gia Định thành nguy khốn, triều đình Nguyễn phái Hộ bộ Thượng thư Tôn Thất Cáp (còn gọi là Tôn Thất Hợp) sung chức Thống đốc quân vụ; Bố chánh Phan Tịnh làm Tham tán, Nguyễn Duy nhậm chức Định Biên Tán lý cứu viện Nam kỳ. Khi đến nơi thì thành Gia Định mất vào tay Pháp, cánh quân này đóng tại Biên Hòa.

Vì không đủ lực để bảo vệ Gia Định và nhằm ngăn chặn quân binh Việt Nam tấn công giành lại, nên ngày 8 tháng 3 năm 1859, Rigault de Genouilly ra lệnh phá thành, tiêu hủy những đồn trại và kho lương thực. Tháng 4 năm 1859, quân Pháp chỉ để lại bốn đại đội dưới quyền chỉ huy của Jau ré Guiberry trụ lại Gia Định. J.de Genouilly cùng số quân còn lại quay trở ra Đà Nẵng. Quân Pháp đồn trú ở một số đồn tại Gia Định luôn bị các đội quân ứng nghĩa của nhân dân tập kích. Thống đốc quân vụ Tôn Thất Cáp cũng nhiều lần xua quân tấn công quân pháp, làm cho chúng lâm vào thế bị động. Trận đánh ngày 21 tháng 4 năm 1859, quân ta chiếm lại đồn hữu bình, tiêu diệt 15 tên lính Pháp, trong đó có 3 sĩ quan, làm bị thương 30 tên. Đêm ngày 3 rạng ngày 4 tháng 7 năm 1860, hàng loạt đồn lính Pháp bị quân ta tiến đánh. Riêng tại Kiểng Phước, sau hơn một tiếng đồng hồ giao tranh, quân ta phải rút lui vì viện binh Pháp từ Sài Gòn kéo vào.

Chí Hòa là một chiến lũy dài ba cây số, rộng một cây số chia ra làm năm điểm tựa có thể yểm trợ cho nhau và có rất nhiều thành vách, ổ kháng cự, hào lũy, chướng ngại... được bao bọc bằng nhiều tiền đồn do Kinh lược Nguyễn Tri Phương và Phạm Thế Hiển chỉ huy 12.000 quân phòng thủ.

Ngày 25 tháng 10 năm 1860, cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc (nhà Thanh) với thực dân phương Tây (Anh, Pháp) chấm dứt bằng hiệp ước Bắc Kinh, chính phủ Pháp hạ lệnh cho Đề đốc Charner thống lĩnh quân viễn chinh tiến về Việt Nam, đánh lấy xứ Nam kỳ. Ngày 17 tháng 2 năm 1861, đoàn quân viễn chinh Pháp đến Sài Gòn. Sau nhiều ngày nghiên cứu, ngày 24 tháng 10 năm 1861, Charner chỉ huy liên quân Pháp - Tây Ban Nha và có một số người Việt tấn công đồn Chí Hòa. Từ các chiến hạm và chiến tuyến trên bộ được lập trước, quân Pháp nã pháo dồn dập vào Chí Hòa. Quân ta liền phản công nhưng không ngăn được sức tiến công của giặc. Trận chiến diễn ra quyết liệt. Hai bên thiệt hại khá nhiều. Quân Pháp tiến đánh bằng nhiều đạo quân, chia ra nhiều hướng với thế vũ khí hơn hẳn nên đã chiếm đồn Chí Hòa sau hai ngày giao tranh. Lực lượng quân ta tổn thất nặng. Tán lý Định Biên Nguyễn Duy hy sinh. Kinh lược đại thần Nguyễn Tri Phương bị thương phải rút về Biên Hòa.



(1) Sơn Nam, Bến Nghé xưa, Nxb Văn Nghệ Tp.HCM, 1981, trang 24.

(2) Ch. B. Maybon trích dẫn trong Histoire moderne du pays d'Annam, trang 158.

(1) Nguyễn Phan Quang, Những vấn đề văn hóa xã hội thời Nguyễn, Nxb. KHXH, 1992, tr.28, 29, 31.

(1) Dẫn theo La conquête de l’Indochine, P, 1943

Comments