2.2. Các hoạt động chống Pháp trước và sau Hiệp ước Nhâm Tuất (1862)

II.2. Các hoạt động chống Pháp trước và sau Hiệp ước Nhâm Tuất (1862):

Trên đất Đồng Nai, quân Pháp chiếm đóng tỉnh lỵ Biên Hòa, huyện lỵ Nghĩa An, huyện lỵ Bình An (Thủ Dầu Một), huyện lỵ Long Thành, phủ lỵ Phước Tuy (Bà Rịa), Vũng Tàu. Với mục đích ngăn chặn các cuộc nổi dậy của phong trào kháng chiến địa phương và đề phòng những cuộc tiến công của quân triều đình Huế từ hướng Bình Thuận, quân Pháp xây dựng các hệ thống đồn lũy kiên cố, cùng các tiền đồn trọng yếu trên địa phận Biên Hòa. Đồng thời chúng tàn phá nhiều làng mạc dân cư, hủy nhiều công trình văn hóa, tín ngưỡng ở Biên Hòa như Văn miếu Trấn Biên, Miếu Hội đồng, các di tích đình, chùa. Biên Hòa dưới bàn tay xâm lược tàn bạo của quân Pháp trở nên tiêu điều: “Bến Nghé của tiền tan bọt nước, Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây”, “... đất Biên Hòa đêm vắng trăng lờ, oan quỷ nhóm ngọn đèn thần hiu hắt” (Nguyễn Đình Chiểu). Nhân dân Biên Hòa căm thù giặc, thực hiện “vườn không nhà trống”, bất hợp tác với kẻ thù: “Dân cư ba huyện Nghĩa An, Bình An, Long Thành gần chỗ giặc Pháp đóng, bỏ trốn đến 74 thôn(3). Trước cảnh nước mất nhà tan, quê hương bị quân thù giày xéo, quan quân triều đình thì cứ án binh bất động tại Bình Thuận, nhân dân Biên Hòa vẫn sôi sục lòng căm thù quân xâm lược, đi theo ngọn cờ kháng chiến của các sĩ phu yêu nước lãnh đạo. Tầng lớp các nho sĩ trước vận mệnh thời cuộc đã tách mình ra khỏi giai cấp thống trị, đứng hẳn về phía nhân dân, nêu cao truyền thống chống ngoại xâm với ý thức gìn giữ chủ quyền đất nước: “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”.

Nhân dân đoàn kết tụ họp đông đảo theo nghĩa quân Trương Định, tôn ông làm Bình Tây đại nguyên soái. Tri phủ Phước Tuy là Nguyễn Thành Ý cùng Phan Trung, mỗi người mộ được 2.000 quân, hoạt động từ Gò Công tới Tân An. Tri huyện Long Thành là Đỗ Trình Thoại (Thụy) (bị triều đình cách chức) mộ 300 quân tấn công đồn Pháp ở Thuận Tác (Gò Công). Ông chém chết một lính thủy Pháp, đâm bị thương một tên khác và trúng đạn hy sinh tại trận tiền cùng với 14 nghĩa quân. Ông đồ Phú Kiết được tri huyện Trần Bá Lộc tuyển làm thư lại, sau một thời gian, ông xin về Trung kỳ. Đến Phan Thiết, ông quay lại hiệp với Trương Định, hoạt động ở vùng núi Thị Vải, Hồ Tràm.

Giữa lúc cao trào kháng chiến chống Pháp của nhân dân miền Đông Nam kỳ làm cho giặc Pháp khốn đốn thì triều đình Huế ký Hòa ước Nhâm Tuất (05 - 06 - 1862) với Pháp. Trong 12 khoản của điều ước, khoản 3 quy định về việc triều đình nhượng ba tỉnh miền Đông Nam kỳ cho Pháp là: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường. Việc triều đình nhà Nguyễn ký Hòa ước Nhâm Tuất càng làm cho nhân dân ở miền Đông Nam kỳ thêm căm giận. Tầng lớp nhân dân yêu nước vì nghĩa lớn đã bất chấp “phận thần tử”, “Bởi lòng chúng chẳng nghe thiên tử chiếu, đón ngài mấy dặm mã tiền....” để cùng sĩ phu “theo bụng dân”, “cùng ba tỉnh dựng cờ phất nghĩa” (Nguyễn Đình Chiểu).

Quân Pháp ra sức bình định, chiếm đóng nhưng vấp phải sự kháng cự mạnh mẽ. Nghĩa quân do các sĩ phu yêu nước lãnh đạo nổi lên tấn công mạnh vào các đồn lũy, tàu bè, các toán tuần tiễu của kẻ thù.

Nghĩa quân Trương Định đồng thời tiến công các đồn Phước Tuy, Bình An, Thuận Kiều, Tây Thái, Mai Sơn... và liên tục quấy rối không để địch yên.

Đêm 17 rạng ngày 18 - 12 - 1862, khoảng 1.200 nghĩa quân Trương Định mở hai mũi tiến công diệt đồn Long Thành. Bonard vội phái bộ binh, kỵ binh và hai khẩu sơn pháo chiếm lại đồn này.

Trưa ngày 18 - 12 nghĩa quân đốt cháy chiến thuyền Lorcha số 10 đang do thám gần phủ Phước Tuy. Khoảng 100 nghĩa quân trang bị đầy đủ vũ khí tập kích diệt gọn một toán tuần tra địch, chỉ có 1 tên chạy thoát.

Tuần lễ đầu năm 1863 đường dây điện báo Biên Hòa - Bà Rịa - Vũng Tàu bị nghĩa quân cắt đứt nhiều đoạn.

Ngày 01 - 1 - 1863 viên tiểu đoàn trưởng lính thủy đánh bộ Coquet dẫn 12 pháo thủ trang bị 1 khẩu pháo dã chiến, 13 kỵ binh và hiến binh đi tuần tra và bắt liên lạc với một nhóm người theo đạo Thiên Chúa. Trên đường từ Bà Rịa đến Long Lập, toán quân này bị phục kích ở Thạnh Mỹ. Trận đánh diễn ra ác liệt, nghĩa quân xông thẳng vào toán pháo binh gây cho chúng thiệt hại nặng.

Ngày 20 - 1 - 1863 Coquet bị vây chặt ở Bà Rịa. Tình hình nguy ngập đến nỗi Bonard phải đưa quân ở Sài Gòn ra tiếp viện.

Ngày 23 - 1 - 1863 nghĩa quân Kinh Thượng phục kích toán lính hành quân từ Bà Rịa đi chợ Bến (Long Điền).

Đầu năm 1863, quản Sư nổi dậy khởi nghĩa với khẩu hiệu "Dân chúng tự vệ", hoạt động suốt từ Biên Hòa tới Bà Rịa. Do bị phản bội, quản Sư bị bắt và bị hành hình ngày 09 - 3 - 1863 ở Bà Rịa.

Nghĩa quân Nguyễn Trung Trực tuy hoạt động tại địa bàn chính Định Tường nhưng cũng có lúc cơ động đánh đồn Long Thành, Phước Tuy, Tân Uyên, Biên Hòa.  

Cuối tháng 1 - 1863 nghĩa quân Kinh - Thượng ở Biên Hòa, Bà Rịa liên tiếp tập kích các căn cứ giặc làm chúng không dám ló ra khỏi đồn. Ngày 23 - 1 - 1863 nghĩa quân Kinh Thượng phục kích toán lính hành quân từ Bà Rịa đi chợ Bến (Phước Hải).

Con đường từ Long Thành đi An Lộc cắt ngang địa điểm ngôi thành cổ này. Ở bên phải con đường, người ta thấy vài phần mộ mà các cụ già người Việt nói là những mộ lính Pháp. Người ta còn nhớ ngôi mộ viên đại úy Buffy chết ở vùng người Thượng (nguyên văn: Mọi) tại Cẩm Ngôn vào năm 1862 trong những trường hợp còn chưa rõ (1).

Người Xtiêng ở phía Bắc Biên Hòa và Thủ Dầu Một cùng đồng bào Jro (Chơro) ở Đông Bà Rịa đứng lên chiến đấu. Họ lập thành vành đai bao vây phía Bắc và Đông Bắc Sài Gòn. Họ lấy núi rừng làm căn cứ kháng chiến, lúc ẩn lúc hiện, lúc đánh lúc rút làm địch hoang mang. Từ rừng rú đại ngàn, nghĩa quân Kinh Thượng ào ra tiến công các cứ điểm địch rồi lại biến vào rừng. Thiếu tá Loubère ở Biên Hòa và trung tá Coquet ở Bà Rịa tốn nhiều công sức mới đẩy lui được quân kháng chiến. Địch thú nhận: "Quân khởi nghĩa đã thành công trong việc lôi kéo những bộ lạc người Thượng ở ven biên giới Biên Hòa - Bà Rịa; trước đó những bộ lạc này vẫn đứng ngoài cuộc chiến. Việc tham gia của những bộ lạc này chứng tỏ cuộc khởi nghĩa ở Biên Hòa đã có một trợ lực quan trọng". (2).

Quân Pháp phải vất vả bình định lại các vùng đã bình định trước đó vì tinh thần bất khuất và ý chí độc lập của nhân dân Biên Hòa, tình đoàn kết giữa đồng bào Kinh - Thượng trong cuộc kháng chiến đánh đuổi kẻ thù xâm lược.

Nhiều đồn lũy của Pháp ở Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh bị tấn công, nhiều nơi quân Pháp phải bỏ đồn rút về Sài Gòn. Tình hình này khiến Đô đốc Bonard phải lấy thêm viện binh từ Tuy Hòa để giải vây tình thế cho thành Biên Hòa, tái lập các đồn lũy và nhất là tấn công vào trung tâm hoạt động của nghĩa quân Trương Định ở Gò Công (1) Biên Hòa được xem như một trung tâm xuất phát của phong trào dân chúng nổi dậy đánh vào quân Pháp xâm lược và lan tỏa về các tỉnh khác ở Nam kỳ.

Ngày 20 - 8 - 1864, Bình Tây đại nguyên soái Trương Định hy sinh tại làng Kiểng Phước (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang) do sự phản bội của Huỳnh Công Tấn. Con trai ông là Trương Quyền mới 20 tuổi thay cha tiếp tục lãnh đạo nghĩa quân. Trương Quyền chưa đủ uy tín nên một số thủ lãnh xưng hùng xưng bá, không thống nhất hành động. Quản Là tự phong đại nguyên soái đóng ở Cần Giuộc. Phan Chánh (Phan Cư Chánh, tức Phan Trung, tức Trần Tuấn là sĩ phu yêu nước, bạn của Nguyễn Thông, Trương Gia Hội, Trần Quý Bình) xưng là Bình Tây phó nguyên soái, hội với Trương Quyền lập căn cứ Giao Loan tại vùng Rừng Lá (nay thuộc xã Xuân Hòa, huyện Xuân Lộc) giáp ranh hai tỉnh Biên Hòa - Bình Thuận. Nơi đây rừng lá mịt mù, khó tiếp tế và địch cũng khó đánh vào. Nhiều người yêu nước ở Biên Hòa, Gia Định, Định Tường nghe tiếng đến xin gia nhập. Nghĩa quân mộ binh, tổ chức tích trữ lương thảo, vũ khí, đúc súng đạn, rèn dáo mác. Từ căn cứ Giao Loan, nghĩa quân bung lực lượng đi quấy rối giặc ở Biên Hòa, Bà Rịa.

Nghĩa quân còn xây dựng căn cứ kháng chiến Bàu Cá (nay thuộc xã Đông Hòa, huyện Thống Nhất), đi đánh nhiều trận gây cho chúng nhiều tổn thất. Các làng Long Nhung, Long Kiên, Long Xuyên, Xuyên Mộc (phủ Phước Tuy) là căn cứ tiếp tế hậu cần cho các nhóm nghĩa quân.

Tháng 1 - 1865 viên quan De la Rousse cầm đầu một đạo quân đánh căn cứ Giao Loan. Căn cứ này gồm nhiều vị trí liên hoàn, mỗi vị trí đều có hàng rào gỗ, phía ngoài chặt cây rừng để chặn bước tiến của địch từ xa. Băng qua dải rừng cây ngổn ngang như vậy rất vất vả. Đằng sau rào cây đổ, nghĩa quân bố trí 15 khẩu súng thần công và nhiều máy bắn đá. Đánh vào Giao Loan, địch bị thương vong rất nhiều. Sau đó chúng đánh tiếp các đồn Gia Phú, Gia Lào ở giáp giới Bình Thuận. (Đồn Gia Phú mới là căn cứ chính của nghĩa quân; tại đây binh lính và nghĩa quân chế tạo, rèn đúc các loại vũ khí). Cùng thời gian này, một đạo quân khác hạ đồn Bàu Cá.

Cuối tháng 1 - 1865, bị mất các căn cứ, phần lớn nghĩa quân rút ra Bình Thuận. Một bộ phận theo Trương Quyền rút về Tây Ninh, liên kết với nghĩa quân Pu Cam Bô (Campuchia) tiếp tục kháng chiến, gây cho Pháp nhiều thiệt hại khác.

Cuộc kháng chiến của nhân dân Biên Hòa cũng như nhân dân miền Đông Nam kỳ đến năm 1865 tạm thời lắng xuống.



(3) Đại Nam thực lục chính biên, tập XXIV, Nxb KHXH, Hà Nội 1974, trang 238.

(1) Địa phương chí tỉnh Biên Hòa, xb 1891, trang 51.

(2) Poyen: Notice sur l'artillerie de la marine en Indochine, p. 88, P, 1893.

(1) Nguyễn Khắc Ngữ - Những cuộc hành quân của Pháp.... Nxb Trình Bày, Sài Gòn 1967

Comments