2.3. Phong trào hội kín ở Biên Hòa

II.3. Phong trào hội kín ở Biên Hòa:

Năm 1883, thực dân Pháp đánh chiếm toàn bộ Việt Nam. Triều đình Huế hoàn toàn đầu hàng giặc. Đánh dấu sự kiện này là việc triều đình Huế ký kết Hiệp ước Hác măng với Pháp vào ngày 25 - 8 - 1883 (1). Ngay sau khi ký hiệp ước này, triều đình Huế ra lệnh bãi binh trên toàn quốc nhưng phong trào kháng chiến của quần chúng nhân dân vẫn không ngừng diễn ra. Phong trào Cần Vương lan tràn khắp Trung kỳ và Bắc kỳ. Ở Nam kỳ, đầu năm 1885, cuộc khởi nghĩa của Mười tám thôn Vườn Trầu - Hóc Môn do Quản Hớn lãnh đạo gây nhiều thiệt hại cho quân Pháp và bọn tay sai. Thế nhưng, các phong trào đấu tranh dần dần bị thất bại, lắng xuống và chuyển sang một hình thức mới. Đó là việc tổ chức hoạt động các Hội kín được thành lập nhiều nơi ở Nam kỳ.

Các Hội kín tổ chức theo kiểu Thiên Địa hội của Trung Quốc nên nhiều người quen gọi là phong trào Thiên Địa hội. Về nguồn gốc tổ chức Thiên Địa hội ở Nam kỳ là một chi hội của tổ chức Nghĩa Hòa đoàn - một tổ chức vừa mang tính chất tương tế, vừa mang tính chất chính trị của nông dân Trung Quốc được hình thành từ sau khi nhà Minh bị nhà Thanh lật đổ. Hội này có tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm minh, mục tiêu là “Bài Thanh phục Minh”. Ở Nam kỳ tổ chức Thiên Địa hội phát triển khá mạnh và cuốn hút nhiều người tham gia. Người Việt vào hội rất đông và sau đó tách ra thành một hội riêng. Đó chính là các tổ chức kín của người Việt mà mục tiêu là chống thực dân Pháp và bọn phản động, giành lấy lại độc lập, tự do cho Việt Nam với khẩu hiệu: “phản Pháp, phục Nam”.

Có thể nói, tổ chức các hội kín ở Nam Kỳ là những tổ chức yêu nước của quần chúng nhân dân. Động cơ tham gia hội của quần chúng xuất phát từ tình cảm yêu nước, căm thù kẻ thù xâm lược thống trị đất nước và bọn phong kiến tay sai. Đây là ý thức tự vệ chính đáng của nhân dân Nam kỳ đối với các thế lực áp chế của một xã hội thuộc địa. Vì vậy, các tổ chức hội kín thu hút nhiều thành phần tham gia và số hội viên lên đến hàng ngàn, tùy theo từng nơi mà có người khởi xướng, lãnh đạo.

Tổ chức của các hội kín rất chặt chẽ, liên hệ và nhận nhau bằng dấu hiệu, hay nói tiếng lóng. Chẳng hạn như khi đi hội viên mang theo cây dù, các hội viên nhận nhau qua việc cách để dù ở đâu mà biết công việc: “Dù mang bên tả, đảng viên. Đi việc cơ mật, nói riêng chủ nhà”; “Quần xăng ống thấp ống cao. Bộ đi vội vã có tàu của Tây”. Tư tưởng triết lý của tổ chức các hội kín khá phức tạp, bao gồm cả Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo và mang nhiều yếu tố thần bí, làm cho hội ngoài tính chất tương thân, tương ái, đoàn kết nhau còn có màu sắc tôn giáo, nhưng đây chỉ là phương tiện để tập hợp, cố kết, ràng buộc các hội viên với nhau.

Phong trào gia nhập các hội kín ngày càng đông, đặc biệt ở các vùng Biên Hòa, Gia Định, Chợ Lớn, Thủ Dầu Một, Bến Tre... làm cho thực dân Pháp hết sức lo lắng và tổ chức các cuộc truy quét.

p p p

Tại Long Thành, thực dân Pháp dùng bọn tay sai để thiết lập bộ máy cai trị. Huyện Đường vốn là một lính tập được Pháp đưa lên cai quản đầu tiên. Sau đó, Tham biện Huỳnh Công Thạch - cũng từng làm lính, thông ngôn cho Pháp được đưa lên thay, do ức hiếp dân, bị dân kiện nên Huyện Thạch bị thuyên chuyển đi nơi khác. Huyện Ân từ nơi khác đưa về cai quản Long Thành nhưng vì tham lam và tàn bạo, bị dân chúng giết hụt hai lần, đã hoảng sợ xin chuyển về Sóc Trăng năm 1880.

Đầu năm 1881, Pháp đưa Trần Bá Hựu về làm tri phủ Long Thành. Y khét tiếng gian ác như hai anh ruột Trần Bá Lộc, Trần Bá Tường - các tay sai đắc lực của Pháp.

Tháng 2 - 1885, nhóm nghĩa quân hội kín do nhà sư Trần Văn Tấn (pháp hiệu Huyền Vi) trụ trì chùa Giác Lâm tìm cách đột nhập vào phủ đường. Họ đem lễ vật đến để biếu quan phủ và dò la tin tức: Biết được tri phủ đánh bạc ở nhà xã trưởng Tài, nghĩa quân đến lập mưu dụ phủ Hựu ra ngoài và liền bị nghĩa quân phục sẵn đâm chết.

Nhà cầm quyền tỉnh Biên Hòa lùng bắt hội kín Long Thành rồi đem xử ở tòa đại hình Bình Hòa (Gia Định): một án tử hình cho nhà sư Trần Văn Tấn tức Huyền Vi, ba án khổ sai chung thân cho nhà sư Phạm Trung Báo (tức Huỳnh Tấn Thanh), Nguyễn Văn Thượng và Lâm Văn Tôn, bốn án khổ sai 20 năm, một án khổ sai 10 năm...

Phong trào hội kín Long Thành còn dai dẳng đến năm 1908 và ngầm phát triển ở các xã với các cụm: Phước Thái, Long An, Long Phước do ông Lê Lưu Di phụ trách đặt tại đình Long Phước. Cụm An Hòa Hưng, Phước Tân, Tam Phước, Tam An, An Lợi do ông Phan Văn Tập cầm đầu, cơ sở tại đình Tam Phước. Cụm Phước Lộc, Phước Nguyên, Lộc An, Bình Sơn do ông Huỳnh Thanh Quang và Trần Nghĩa Khánh phụ trách cơ sở đặt ở khu Giàu Ba. Khu vực Phú Hữu, Phước Khánh, Giòng Ông Đông do ông Nguyễn Xuân Sáng điều khiển. Khu Phước Long, Phước Thọ, Phước An do ông Đặng Phùng chỉ huy. Nổi bật là cụm Phú Hội, Long Tân, Phước Thiền, Phước Kiển do ông Hồ Văn Tĩnh lãnh đạo. Cơ sở đặt tại xóm Hố. Trụ sở lúc đầu đặt tại hốc cây Da thuộc xã Phú Hội. Sau thấy hội họp ở đây không được tiện, dễ bị lộ nên tổ chức quyết định xây một miễu ở Gò cao giáp ranh xã Long Tân và Phú Hội, đặt tên là miễu Bà. Thực ra miễu này không có bài vị, không có tượng thần Phật, chỉ sử dụng làm nơi hội họp. Hàng năm lấy ngày 15 tháng giêng âm lịch là ngày cúng miễu, các hội viên đều về họp, bề ngoài coi như đi cúng thần, nhưng tranh thủ để thông báo kế hoạch hành động. Mật hiệu của hội kín gặp nhau là: Một người chỉ tay lên trời và nói bâng quơ: “Mây vẫn nặng nề”. Nếu là người trong tổ chức thì biết và lập tức chỉ tay xuống đất và trả lời: “Cơn giông sắp nổ”. Khi đến nhà nhau thì dùng mật hiệu, cầm cây dù, nếu cù ngoéo quay ra là trao đổi rồi đi luôn, nếu cù ngoéo quay vào là phải ở lại. Hội có chương trình học tập cho hội viên về nội quy gia nhập, lời thề, có cả những bài ước để cổ động. Một đoạn của bài ước như sau:

        “Bán dạ Minh khuê

Đánh đáo quê đình

Nghĩa huynh kết bài đồng minh

Thủy huynh đệ lai đồng ẩm nhất”

Tạm dịch nghĩa là: Nửa đêm anh em cùng nhau họp việc hội, nâng ly rượu chia nhau cùng uống, thề hiệp sức làm việc. (1)

Ngày 12 tháng giêng năm 1916, lực lượng nghĩa quân Hội kín ở Long Thành tham gia phá khám Sài Gòn. Bị thất bại, địch phát hiện ra cơ sở ở Long Thành, đem quân về lùng bắt nhiều người như: ông Tiền, ông Quý, ông Dệt và đàn áp phong trào.

p p p

Đoàn Văn Cự sinh năm 1835 tại làng Bình An, huyện Bình An, tỉnh Biên Hòa (nay thuộc huyện Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh) trong một gia đình nhà Nho yêu nước. Khi quân Pháp chiếm đóng, gia đình ông luôn bị theo dõi nên đã lánh về Bưng Kiệu, thôn Vĩnh Cửu (nay thuộc phường Tam Hòa, thành phố Biên Hòa).

Tiếp nối truyền thống của gia đình, Đoàn Văn Cự theo nghề cha dạy học và làm thuốc để giúp đỡ dân nghèo. Chính vì thế, ông đã tạo được uy tín và điều kiện để tiếp xúc tuyên truyền, khơi dậy lòng yêu nước trong các tầng lớp nhân dân lao động. Lợi dụng địa thế rừng, ông xây dựng Bưng Kiệu thành căn cứ tập hợp lực lượng, tích trữ lương thảo, rèn đúc gươm dáo để mưu cầu đại sự.

Ông đã khéo léo dùng hình thức hoạt động tôn giáo để thu phục nhân tâm, qua đó tuyên truyền thức tỉnh lòng yêu nước, tinh thần xả thân vì đại nghĩa của dân tộc. Các tín đồ và đồng chí của ông có mặt khắp miền Đông, nhưng đông nhất là vùng Bình An, chợ Chiếu (Cù Lao Phố), Vĩnh Cửu, Bình Đa, An Hảo cho tới khu vực núi Nứa (Long Thành). Tổ chức hội kín do ông thành lập quy tụ nhiều danh tài hảo hớn, tinh thông võ nghệ, coi việc nghĩa là việc đại sự, một lòng vì nước, vì dân. Lực lượng nghĩa quân phát triển ngày một lớn mạnh; lương thực, khí giới được tích trữ chuẩn bị cho việc dấy binh.

Tháng 5 năm 1905, Hội kín tổ chức lễ tế cờ, luyện quân ở suối Linh. Hoạt động của hội không giữ được bí mật, giặc Pháp nắm được tin tức. Ngày 8 tháng 4 âm lịch (tức ngày 11 - 5 - 1905), chính quyền thực dân cho một tiểu đội lính bí mật đến bao vây thôn Vĩnh Cửu.

Được tin, Đoàn Văn Cự đã triệu tập hàng trăm nghĩa quân tổ chức mai phục sẵn sàng đánh địch. Phục kích cả ngày không thấy địch đến, tưởng địch đã rút lui, đến tối, ông cho nghĩa quân rút về căn cứ. Lúc này giặc mới ập đến, vây chặt căn cứ Bưng Kiệu. Tên đại úy chỉ huy quân Pháp dẫn một tốp lính xông thẳng vào nhà ông. Biết khó lòng thoát hiểm, ông điềm tĩnh vận bộ trang phục uy nghi, đầu chít khăn lụa điều, mình buộc thắt lưng màu hồng, giắt đoản dao đầu hổ, làm lễ trước bàn thờ tổ chờ địch đến. Khi toán lính bước vào nhà, ông vung thanh đoản đao sáng loáng chém bị thương tên chỉ huy. Địch bắn trả, ông Đoàn Văn Cự trúng đạn, ngã xuống trước bàn thờ tổ.

Quân Pháp tấn công vào doanh trại của nghĩa quân và đốt phá kho lương thực. Rừng Bưng Kiệu ngập khói lửa kín cả một góc trời. Mười sáu nghĩa quân anh dũng hy sinh. Số còn lại đều chạy thoát vào rừng. Hôm sau, giặc Pháp bắt nhân dân khiêng xác tử sĩ và chôn chung vào một hầm lớn. Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa quân hy sinh anh dũng. Hội kín Đoàn Văn Cự tan rã.

p p p

Trại Lâm Trung là một tổ chức yêu nước nằm trong hình thái Hội kín rất phổ biến và phát triển ở Nam bộ đầu thế kỷ 20. Mục đích của hội kín này là tập hợp nhân dân, xây dựng lực lượng để kháng chiến chống thực dân Pháp.

Tại Biên Hòa, một nhóm người yêu nước đã thành lập ra Trại Lâm Trung, căn cứ đóng tại Gò Mọi, xã Thiện Tân (huyện Vĩnh Cửu). Trại thành lập trong lúc chiến tranh thế giới thứ nhất đang diễn ra quyết liệt. Tại Nam kỳ thực dân Pháp càng ra sức bóc lột, vơ vét tài nguyên bằng sưu thuế nặng nề để trang trải chiến phí và tăng cường bắt thanh niên Việt Nam đi lính để “bảo vệ mẫu quốc” Pháp. Trại do các nhân vật yêu nước tinh thông võ nghệ như: Tư Hy, Tư Hổ, Ba Hậu, Hai Lực, Bảy Đen, Ba Vạn, Hai Cầm... khởi xướng tổ chức luyện tập võ nghệ. Trại viên được trang bị vũ khí thô sơ như gậy, dao, gươm và một ít súng điểu thương. Nghĩa quân tham gia trại rất đông phần lớn là thanh niên trai tráng các tổng Phước Vĩnh Trung, Phước Vĩnh Hạ, Chánh Mỹ Trung... thậm chí có một số hương chức hội tề và nhiều gia đình khá giả.

Trại đã được nhân dân Vĩnh Cửu, Tân Uyên ủng hộ giúp đỡ, tích trữ lương thực. Hoạt động của Trại Lâm Trung bí mật, các đội viên liên lạc với nhau đều bằng mật hiệu, khẩu hiệu.

Đầu năm 1916, Trại Lâm Trung đề ra kế hoạch hoạt động với hai mục tiêu:

- Tiến đánh thành Săng Đá để tiêu diệt quân Pháp.

 - Tiến đánh khám đường Biên Hòa, giải thoát các người yêu nước và thanh niên bị Pháp bắt đi lính.

Đêm 24 - 1 - 1916 nghĩa quân trại Lâm Trung chia ra làm nhiều toán, nổi dậy tiến công các nhà hội (trụ sở hội tề) Tân Trạch, Tân Khánh, Tân Lương... Bằng vũ khí thô sơ nghĩa quân đã làm hương chức hội tề các làng bỏ chạy tán loạn. Nhiều thanh niên trai tráng được giải thoát khỏi số phận "tình nguyện” làm bia đỡ đạn cho nước mẹ Pháp quốc.

5 giờ chiều 25 - 1 - 1916 các ông Mười Sóc, Mười Tiết, Cao Văn Lẹt chỉ huy phá khám lớn Biên Hòa. Nghĩa quân tước được một số súng của lính gác nhà tù, dùng súng bắn vào dinh chủ tỉnh. Bị đàn áp, anh em rút về Tân Trạch.

11 giờ đêm 26 - 1, một toán nghĩa quân chừng 50 người xông vào phá chợ Tân Uyên, giết một tên lính, đánh bị thương viên kiểm lâm.

Sau cuộc nổi dậy chống bắt lính và phá khám Biên Hòa, giặc Pháp tập trung lực lượng đàn áp hội. Chúng tổ chức lùng sục truy tìm bắt các lãnh tụ Trại Lâm Trung, và dùng thủ đoạn bắt cha mẹ, vợ con của họ để buộc các ông phải ra hàng.

Vì có bọn tay sai chỉ điểm, tháng 3 năm 1916, các ông cầm đầu Lâm Trung Trại đã sa vào tay giặc Pháp, nhằm khủng bố nhân dân hòng dập tắt ý chí bất khuất của họ, chúng kết án tử hình chín người cầm đầu: Hai Sở, Hai Lựu, Ba Hậu, Năm Hi, Cao Văn Lẹt, bếp Đầy, Bảy Phan, Mười Sóc, Mười Tiết. Số thành viên hội kín này bị xử bắn ở dốc Sỏi gần đình Bình Thành vào năm 1916, trước sự chứng kiến của nhân dân địa phương.

Cả chín ông đều bị trói chặt hai tay vào một trụ cột. Trước cái chết, ông Hương hào Hậu dõng dạc: “Ta sinh làm tướng, chết làm thần, chào bà con ở lại mạnh giỏi”. Ông Hai Sở hiên ngang: “Cứ bắn ta đi! Sở này không sợ đâu. Cái chết ta thị như quy tân gia”.

Thực dân Pháp đưa thi thể 9 lãnh tụ của Trại Lâm Trung chôn chung một nấm mồ tại “Cây Gõ cụt” cách nơi hành hình khoảng 50 mét.

Năm 1918, nhân dân đã xây dựng một miếu thờ dưới gốc cây đa ở ngã ba Dốc Sỏi (nhân dân thường gọi là miễu Cô hồn), hàng ngày nhang khói để cầu siêu và tưởng nhớ gương nghĩa liệt của các ông.

p p p

Kể từ khi đặt chân đến xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp đã vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của nhân dân ta. Triều đình Huế lúc bấy giờ nhu nhược đã đầu hàng, song ngọn cờ kháng chiến của nhân dân ta đã nổ ra khắp nơi với tinh thần quật khởi bằng nhiều hình thức khác nhau. Từ khởi nghĩa vũ trang cho đến hoạt động tổ chức các Hội kín, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Biên Hòa đã liên tục tiến hành cuộc kháng chiến cứu nước, cứu nhà. Dù “ngoài cật có một manh áo vải, trong tay cầm một ngọn tầm vông” (1) song người dân Biên Hòa không hề nao núng trước quân thù có ưu thế về quân sự “tàu đồng ống khói”, “súng thép đạn chì” (2), với truyền thống bất khuất, không ngại hy sinh, đứng lên đánh giặc gây cho chúng bao tổn thất, làm thất bại ý đồ bình định cấp tốc của quân Pháp. Kẻ thù phải thốt lên “Tưởng chấm dứt được cuộc chiến tranh đẫm máu nhưng lại vấp phải một cuộc kháng chiến có thể còn là mạnh mẽ và đáng sợ hơn vì là một cuộc chiến tranh chống lại quân đội chính quy của nhà vua” (3). Người Pháp đến đây không phải là đến một ngôi nhà vô chủ. “Bằng khí giới rất đơn sơ, dân tộc Việt Nam chống cự rất kiên cường với súng lớn của ta một cách oanh liệt và đầy tinh thần hy sinh dũng cảm. Những kẻ bị ta bắt được tại trận, đem xử bắn hay chém đầu, đều thản nhiên chịu chết, không lộ vẻ gì nhu nhược sợ hãi”(1).

Do nhiều nguyên nhân của lịch sử, phong trào kháng Pháp của nhân dân Biên Hòa trong bối cảnh chung của cả nước không đạt đến mục tiêu đánh bại quân xâm lược, nhưng tinh thần chiến đấu bất khuất của họ đã tô thắm trang sử hào hùng truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta. Nhìn lại cuộc kháng chiến của nhân dân Nam kỳ Lục tỉnh chống Pháp, có ý kiến cho rằng: “Giá như triều đình lúc bấy giờ không phải ở trong tay bọn vua chúa đầu hàng và phản bội mà ở trong tay những người kế tục sự nghiệp yêu nước và anh dũng của Nguyễn Huệ thì phong trào kháng Pháp lúc bấy giờ ở Nam bộ chắc còn mạnh mẽ hơn nhiều, nhất là đã được lãnh đạo thống nhất và kiên trì đấu tranh cho đến thắng lợi, đồng thời phong trào ấy chắc được ủng hộ kiên quyết của cả nước, như vậy đất Đồng Nai anh dũng đã từ đó trở nên bức thành đồng ngăn chặn bọn cướp nước phương Tây xâm phạm đất nước chúng ta ở Nam bộ, và do đó, đã bảo vệ vẹn toàn độc lập và thống nhất của Tổ quốc" (2).



(1) Hiệp ước Hác măng gồm 27 khoản. Đất nước ta bị chia cắt làm 3 kỳ. Nam kỳ có ranh giới từ Bình Thuận vào Nam, gọi là Co Sanh Sin (Cochinchine) - thuộc địa của Pháp. Trung kỳ có ranh giới từ Khánh Hòa đến đèo Ngang gọi là An Nam, theo chế độ nửa bảo hộ của Pháp. Bắc kỳ có ranh giới từ đèo Ngang ra Bắc gọi là Tong Canh (Ton Kin) theo chế độ bảo hộ hoàn toàn. Như vậy, Pháp đặt quyền thống trị trên toàn bộ lãnh thổ nước Việt Nam

(1) BCH Đảng bộ huyện Long Thành, Long Thành những chặng đường đấu tranh, Nxb. Đồng Nai, 1998

(1) Nguyễn Đình Chiểu, Văn tế nghĩa sĩ  trận vong Lục tỉnh.

(2) Nguyễn Đình Chiểu, sđd.

(3) P.Vial, Les premieøres anneùes de la Cochinchine, Colonie francaise. T1 Paris Challamel Aineù 1874, trang 162.

(1) Phạm Văn Sơn, Việt sử Tân Biên, Q.V

(2) (Dẫn lại) Phạm Văn Đồng: Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc, Nxb, H.1964

Comments