3.1. Bộ máy cai trị

III.1. Bộ máy cai trị:

Ngay sau khi chiếm được ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, thực dân Pháp đặt bộ máy cai trị đứng đầu là viên thống đốc (Lieutenant - Gouverneur) do một sĩ quan cao cấp từ chuẩn đô đốc trở lên đảm nhận. Tỉnh Biên Hòa do một viên quan tham biện chủ tỉnh (Inspecteur - Chef de province) là sĩ quan cai quản.

Tên đơn vị hành chính có nhiều thay đổi.

Cuối năm 1861, chiếm được tỉnh Biên Hòa, chúng vẫn giữ y nguyên các đơn vị hành chính như cũ (hai phủ: Phước Long và Phước Tuy với 4 huyện: Phước Chánh, Bình An, Long Thành, Phước An).

Năm 1864 đô đốc La Grandière chia ba tỉnh miền Đông: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường thành 7 tiểu khu chỉ huy (cercles de commandement) thì tỉnh Biên Hòa chia thành hai tiểu khu: Biên Hòa và Bà Rịa. (5 tiểu khu khác là: Sài Gòn - Chợ Lớn, Cần Giuộc, Mỹ Tho, Tân An - Gò Công, Tây Ninh). Cách phân chia này nặng tính chất quân quản.

Năm 1865, để cho sự cai trị mang tính chất dân sự, Pháp chia ba tỉnh miền Đông thành 13 sở tham biện (inspections: sở thanh tra). Tỉnh Biên Hòa chia thành 5 sở tham biện: Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Long Thành, Bảo Chánh.

Năm 1866, tỉnh Biên Hòa được chia làm 6 địa hạt (arrondissements): Biên Hòa, Bà Rịa, Bình An, Thủ Đức, Long Thành, Bảo Chánh.

Năm 1867, tỉnh Biên Hòa được chia làm 5 sở tham biện:

             - Biên Hòa, tỉnh lỵ ở Châu Thành Biên Hòa, huyện Phước Chánh.

             - Bà Rịa, tỉnh lỵ ở Châu Thành Bà Rịa, huyện Phước An.

             - Long Thành, lỵ sở ở làng Long Thành, huyện Long Thành.

             - Bình An, tỉnh lỵ ở Châu Thành Thủ Dầu Một, huyện Bình An.

             - Nghĩa An, lỵ sở ở Thủ Đức, huyện Nghĩa An.

Năm 1871 cả Nam kỳ có 18 sở tham biện thì tỉnh Biên Hòa còn lại 3 sở tham biện: Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một.

Năm 1887 cả Nam kỳ có 22 sở tham biện thì từ Bà Rịa tách ra thêm sở tham biện Cap Saint Jacques (dân ta gọi là Ô Cấp).

Ngày 1 - 11 - 1899, Pháp lập sở tham biện Đồng Nai Thượng (Haut Donnai) gồm cả tỉnh Lâm Đồng hiện nay và phần lớn huyện Định Quán, huyện Tân Phú tỉnh Đồng Nai bây giờ, tỉnh lỵ đặt tại Djiring (Di Linh). Năm 1909 tỉnh Đồng Nai Thượng bị hủy bỏ, nhập vào tỉnh Bình Thuận. Năm 1920 tỉnh Đồng Nai Thượng được lập lại.

Ngày 20 - 12 - 1899 nhà cầm quyền Pháp ra nghị định đổi sở tham biện thành tỉnh (province), chức tham biện (inspecteur) thành quan cai trị chủ tỉnh (tỉnh trưởng: administrateur - chef de province).

Từ năm 1861 đến năm 1869 các tham biện Pháp phần lớn đều là sĩ quan:

             - đại tá Domenech Diego             từ 22 - 12 - 1861

             - thiếu tá Loubère                        26 - 05 - 1862     

             - thiếu tá Charlier                        01 - 09 - 1866

             - đại úy Garrido

             - thiếu tá hải quân Philastre                  09 - 11 - 1866

             - tham biện Labellevière                        27 - 05 - 1868

             - thiếu tá Chatellier                                từ 22 - 04 - 1869

             - tham biện Baulinier                                      05 - 11 - 1869     

             - trung úy Salicéti                                  30 - 12 - 1869

Đây là thời kỳ quân quản, cuốn sách lịch sử Nam kỳ thuộc Pháp (Histoire de la Cochinchine francaise) viết: "Trực trị là một nhu yếu để tự vệ. Không thể nào tổ chức bảo hộ trong một xứ bất khuất, nơi mà hạng người có khả năng cai trị thì hoặc là vắng mặt, hoặc là chống lại" (1). Quyền hạn của viên tham biện như một lãnh chúa, thống trị tùy ý, không cần luật lệ gì, mặc sức: thu thuế, xử án, bắt xâu, bổ nhiệm hương chức hội tề, càn quét, bắn giết, bắt bớ bừa bãi...

Từ ngày 12 - 1 - 1870 trở đi, các tham biện đều là viên chức dân sự cho tới ngày Nhật đảo chánh Pháp. Từ năm 1861 đến 9 - 3 - 1945 đã có 49 chánh, phó tham biện Pháp, không có người Việt nào.

Dưới cấp tỉnh, Pháp vẫn giữ các đơn vị hành chánh phủ, huyện (sau đổi ra quận), tổng, xã như cũ.

Nhìn chung, các sĩ phu yêu nước và người có học đều sôi nổi tham gia kháng chiến, chí ít cũng bất hợp tác với giặc tuy chúng dụ dỗ hứa hẹn đãi ngộ cao. Nếu kẻ có học cam tâm ra làm tay sai thì hắn hoàn toàn bị cô lập, khinh rẻ. Viên đại tá Bernard nhận xét: "Bị xua đuổi ra khỏi làng xóm vì đói kém hay tội lỗi, bọn du thủ du thực kéo nhau ra thành phố khúm núm, quỵ lụy van xin để tìm cách sinh sống, bất chấp cuộc chiến đấu của dân tộc và sẵn sàng phục vụ bất cứ chủ nào. Chính trong bọn này mà ta tuyển lựa số nhân viên cần thiết cho việc hành chính hay trong việc hầu hạ như culi, bồi bếp, thông ngôn, ký lục, sau khi cho học cấp tốc và qua loa ở trường dòng... Rất hãnh diện về cái vỏ học thức Tây phương mới thu nhận, bọn người trẻ tuổi này trở nên thư ký, thông ngôn, tụ thành một tầng lớp vong bản, và lợi dung chính quyền để bóp nặn dân chúng khi họ có việc bắt buộc phải tới cửa công"(1).                

Các quan chức người Việt trong bộ máy cai trị của thực dân Pháp được qui định phải biết tiếng Pháp, có hiểu biết về tổ chức hành chính, nhưng đó chỉ là chuyện của những năm sau này, còn buổi đầu thì chỉ là bọn tay sai ít học (hoặc vô học) như các tri huyện Long Thành: huyện Đường, huyện Thạch, huyện Ân, huyện Hựu... Lương của bọn này rất cao so với mức sống chung của nhân dân (chưa kể các khoản hối lộ, ăn cắp công quỹ...).

Lương hàng năm của đốc phủ sứ: 1.800 đồng tiền Đông Dương (1905).

                  của tri phủ hạng 1:                 1440 đồng

                  của tri phủ hạng 2:                 1080 đồng

                  của tri huyện hạng 1:              840 đồng

Lương hàng năm của tri huyện hạng 2:     720 đồng.

                 của thư ký kế toán hạng 1:      1440 đồng.

                 của thư ký kế toán hạng 2:      1200 đồng.

                 của chánh thư ký hạng 1:                  780 đồng.

                 của chánh thư ký hạng 2:                  720 đồng.

Để so sánh: giá gạo đương thời 100 kg loại        tốt là 3 đồng.

Chính sách "dùng người Việt đánh người Việt" là thủ đoạn được thực dân Pháp thực hiện ở nước ta. Ngay từ năm 1861, Bonard đặt ở mỗi huyện một đội lính ngụy gồm 50 lính mã tà (garde civile locale GCL) và 100 lính tập cầm thương (dáo), cứ mỗi toán 5 người thì trang bị 1 súng trường kiểu 1842. Tỉnh Biên Hòa - cũng như các tỉnh khác - có một tiểu đoàn gồm 6 đại đội lính tập, mỗi đại đội có một hạ sĩ quan và vài lính Pháp làm nòng cốt. Bonard ra nghị định bắt lính theo từng xã, đến khi Lagrandière thay, lại đặt một sắc thuế đặc biệt đài thọ mọi chi tiêu của đội lính thường trực khá đông.

Ở cấp xã, thực dân Pháp duy trì bộ máy hương chức cũ, chúng bổ nhiệm người làm hội tề. Phải mất thời gian khá lâu, sau khi chúng chiếm nốt ba tỉnh miền Tây Nam kỳ và triều đình Huế ký hòa ước Patenôtre 6 - 6 - 1884 thì bộ máy hành chính cơ sở ở làng xã mới ổn định. Ngày 27 - 8 - 1904 toàn quyền Đông Dương ra nghị định nêu rõ:

- Mỗi xã do một Hội đồng đại kỳ mục quản trị (thường gọi: ban hội tề).

- Kỳ mục phải là điền chủ hoặc người giàu có trong xã.

- Đẳng cấp của các hương chức hội tề theo thứ tự:

              * Hương cả (ông cả) làm chủ tịch hội đồng kỳ mục.

              * Hương chủ (ông chủ) làm phó chủ tịch hội đồng kỳ mục.

              * Hương sư.

              * Hương trưởng.

(Bốn chức sắc cao nhất này là người lãnh đạo hội đồng kỳ mục, quản lý tài sản xã, lập ngân sách xã, giám sát thu chi và giữ quỹ xã, giám sát công việc các hương chức khác).

* Hương chánh (ông chánh) trực tiếp theo dõi công việc của xã trưởng và hương thân, hương hào.

* Hương giáo dạy các kỳ mục trẻ hiểu nhiệm vụ chức trách của mình.

* Hương quản phụ trách trị an trật tự, hòa giải các xích mích nhỏ, kiện cáo nhỏ trong xã; trực tiếp chỉ đạo hương thân, cai tuần, cai thị (trông nom chợ).

* Hương bộ (thủ bạ) phụ trách sổ đinh, sổ điền, hồ sơ sổ sách thu chi của xã.

* Hương thân.

* Xã trưởng giữ mộc triện, làm trung gian giao tiếp giữa xã với chính quyền cấp trên.

* Hương hào đặc trách an ninh trật tự trong xã.

 Ngày 30 - 10 - 1927, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định bổ sung vào danh sách hội đồng làng thêm một ủy viên là Chánh lục bộ để phụ trách việc làm liên quan, tương tế. Nâng số lượng hội đồng lên 12 người.

(Trong nhóm kỳ mục cuối hạng này, hương thân là người đứng đầu phụ trách xã trưởng và hương hào. Ba hương chức này chịu trách nhiệm: lập danh sách người đóng thuế, đi xâu, và thu thuế của dân để nộp lên trên, thị thực tập thể mọi giấy tờ...).



(1) (Dẫn lại) Trần Văn Giàu: Lịch sử cận đại Việt Nam, Nxb. Giáo dục, H, 1962, t.1, trang 192.

(1) Dẫn theo Trần Văn Giàu: Lịch sử cận đại Việt Nam, t.3, Nxb Giáo dục, 1962, tr.191.

Comments