3.2. Chính sách kinh tế

III.2. Chính sách kinh tế:

Vào năm cuối thập niên 50 thế kỷ XIX, việc "các đô đốc" xâm chiếm đất Nam kỳ xa xôi không được chính giới nước Pháp mặn mà, đôi khi họ gặp sự lạnh nhạt hoặc phản đối. Nguyên nhân: chính quốc sợ rằng chưa thu được lợi lộc gì mà phải chi tiêu tốn kém quá khả năng cho phép. Để tranh thủ thời gian và nhằm tạo ngân sách riêng "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh", ngày 22 - 2 - 1860 soái phủ Nam kỳ ra nghị định mở cửa cho tàu bè các nước tự do ra vào buôn bán ở cảng Sài Gòn.

Hàng xuất khẩu chủ yếu là gạo, đường và một số lâm thổ sản. Hàng nhập khẩu là hàng công nghiệp và thuốc phiện. Ngay trong năm 1860 xuất nhập khẩu của cảng Sài Gòn đạt 7,7 triệu france. Gạo bán ra 53.939 ton - nô; hàng mua vào: hơn 1 triệu fr hàng hóa mà một nửa là thuốc phiện.

Do trận đánh đại đồn Chí Hòa, mức xuất khẩu gạo năm 1861 sụt giảm, quý I chỉ còn 8.000 ton - nô. Năm 1862 xuất khẩu gạo tăng lên 42.470 ton - nô. Năm 1864 mùa màng bình thường, mức bán ra tăng đến 72.000 ton - nô. Năm 1865 do hạn hán, ba tỉnh miền Đông bị thất mùa nhưng vẫn bán sang Trung Quốc được 30.000 ton - nô gạo... Mở cảng Sài Gòn, thực dân Pháp đã thu nguồn lợi lớn có thể bù đắp phần lớn ngân sách chiến tranh tại đây (1).

Dĩ nhiên tỉnh Biên Hòa thuở đó đã góp một phần nông lâm sản xuất khẩu của thực dân Pháp, kể cả gạo - dù không dồi dào như tỉnh Định Tường.

Sau khi chiếm xong ba tỉnh miền Đông Nam kỳ, Thống đốc Pháp ra nghị định ngày 20 - 2 - 1862 tịch thu vào quyền sở hữu của nhà nước "toàn bộ ruộng đất vô chủ hoặc đang còn nằm trong tay dân bản xứ chiếm giữ" mà không có bằng khoán. Như vậy tất cả ruộng đất hoang - do chủ nhân bỏ đi, chạy loạn - cùng với ruộng đất mà người chủ không đủ giấy tờ hợp lệ thì đều bị sung công. Với nội dung nghị định này, chính quyền thực dân cho phép một số colon (2) chiếm đoạt ruộng đất tại những vùng từng có chiến sự dân chúng bỏ đi, hoặc đất đai vườn tược của những người kháng chiến tị địa.

Để tạo nên tầng lớp colon làm chỗ dựa lâu dài, soái phủ Nam kỳ ra quyết định ngày 3 - 3 - 1865 nhượng bán tất cả các loại ruộng đất thuộc nhà nước quản lý với giá trung bình 10 fr/ha, việc trả tiền chia làm hai kỳ: cuối năm thứ nhất và cuối năm thứ hai. Các chủ điền mới được nhượng phải nộp lệ phí 5fr/ha. Các colon có dưới 50 ha chỉ nộp thuế từ năm thứ tư trở lại. Các ruộng đất nhượng trên 50 ha thì sau ba năm, chủ điền chỉ đóng nửa mức thuế. Với nhượng địa lớn hơn nữa thì sau 6 năm, chủ điền mới phải đóng thuế... Việc bán đất đai này mang lại cho chính quyền thuộc địa khoản thu đáng kể, tuy giá rẻ gần như cho không.

Năm 1865, Le faucheur - xuất thân là lính - xin khai thác hầm đá, hầm sỏi ở Biên Hòa để dùng trong xây dựng và làm đường giao thông.

Năm 1866 Michelet xin khai khẩn 716 ha ở Lạc An. Những năm đầu ông ta khai thác 53 ha ruộng lúa, 4 ha mía, 43 ha cà phê, ca cao, va ni, tiêu, quế, chuối. Dân phu sở đất đồn điền có 53 người, 16 con ngựa, 22 con trâu. Rút cục đồn điền này phá sản.

Năm 1870, Kresser nhân lúc bên Pháp khan hiếm đường mía, đã lập nhà máy đường ở Biên Hòa nhưng không đủ mía để hoạt động. Diện tích trồng mía vùng Biên Hòa không hơn 1.500 ha, chỉ đủ cho hơn 1.000 lò đường thủ công có sẵn. Nhà máy không hoạt động được, các cổ phần đều rút ra, máy móc tháo gỡ mang đi. Nhưng Kresser lại xin trưng khẩn 25.000 ha để trồng mía. Ông ta nhờ hương chức hội tề làm trung gian để cho giới trồng mía vay vốn, lại phá sản vì đường và mía thu được quá ít.

Năm 1876 viên luật sư Vinson lập sở mía ở Biên Hòa cũng thất bại.

Năm 1880 Lancelot lập nhà máy đường ở Lạc An, liên tiếp bốn năm bị lỗ rồi bị cháy (Sơn Nam: Bến Nghé xưa, tr.81; Đất Gia Định xưa, tr.166, 168).

Theo Địa phương chí tỉnh Biên Hòa năm 1901, số colon Pháp ở Biên Hòa có:

- Michelet ở làng Lạc An trồng mía, lúa.

- Công ty Paris Phước Tân ở làng Phước Tân có 25.000 cây cà phê.

- Nativel ở làng Bình Trước có 10.000 cây cà phê và trồng lúa.

- Nicolas trồng mía, lúa.

- Torrebilla trồng cà phê.

- Botton trồng ở Bình Thạnh 6.000 gốc cà phê.

- Jurgensen trồng ở làng Tân Lợi tổng Chánh Mỹ hạ 60.000 gốc tiêu.

- Crestien trồng ở làng Chánh Hưng 30.000 gốc cà phê.

- Bérenguier trồng lúa.

- Romans trồng ở làng Bình Dương tổng Long Vĩnh thượng 2.260 gốc cà phê.

- Lorenzo trồng ở làng Xuân Lộc 3.800 gốc cà phê.

- Mougeot.

- Cognacq.

Diện tích do từng colon khai khẩn so với mức sở hữu ruộng đất của nông dân địa phương chắc cũng không nhỏ.

Năm 1880, chính quyền thuộc địa ra nghị định đánh thuế ruộng và thuế thân ở Nam kỳ. Cách đánh thuế theo từng làng của phong kiến nhà Nguyễn trước đây bị bãi bỏ; đồng thời những người trong tuổi lao động phải nộp mỗi năm một đồng bạc Đông Dương. Năm 1882, Thống đốc Nam kỳ thừa hành sắc lệnh của Tổng thống Pháp thu ở mỗi làng xã thêm khoản tiền về việc giữ gìn trật tự, trị an và những khoản tiền phạt nếu làng xã nào có người tham gia chống lại chính quyền. Năm 1891, trên toàn cõi Nam kỳ, chính quyền thuộc địa lại tiến hành cuộc điều tra, đo đạc phân loại ruộng đất. Tỉnh Biên Hòa nằm trong quỹ đạo cai quản chung của chính quyền thuộc địa. Hai thập niên cuối của thế kỷ XIX, thực dân Pháp đã thực hiện nhiều chủ trương, chính sách kinh tế đối với Nam kỳ, thu vào khoản thu ngân sách thuộc địa không nhỏ và chuẩn bị cho một kế hoạch khai thác thuộc địa quy mô lớn.

Năm 1897, Toàn quyền Đông Dương là Paul Doumer (với nhiệm kỳ 1897 - 1902) nêu rõ ý đồ khai thác nước ta trong dự án chương trình hành động gồm 7 điểm sau:

“Tổ chức một chính phủ chung cho toàn Đông Dương và tổ chức bộ máy cai trị hành chánh riêng cho từng “xứ” thuộc Liên bang.

Sửa đổi lại chế độ tài chánh, thiết lập một hệ thống thuế khóa mới sao cho phù hợp với nhu cầu của ngân sách, nhưng phải dựa trên cơ sở xã hội cụ thể và phải chú ý khai thác những phong tục tập quán của dân Đông Dương.

Chú ý xây dựng thiết bị to lớn cho Đông Dương, như xây dựng hệ thống đường sắt, đường bộ, kinh đào, bến cảng... là những thứ cần thiết cho công cuộc khai thác.

Đẩy mạnh nền sản xuất và thương mại bằng việc phát triển công cuộc thực dân của người Pháp và lao động của người bản xứ.

Bảo đảm phòng thủ Đông Dương bằng việc thiết lập những căn cứ của hải quân và phải tổ chức quân đội và hạm đội cho thật vững mạnh.

Hoàn thành công cuộc bình định xứ Bắc kỳ, bảo đảm an ninh vùng biên giới Bắc kỳ.

Khuếch trương ảnh hưởng của nước Pháp, mở rộng quyền lợi của nước Pháp ở vùng Viễn Đông, nhất là ở các nước lân cận”(1).

Biên Hòa là tỉnh có nhiều tiềm năng về kinh tế ở miền Đông Nam bộ. Nhằm khai thác có hiệu quả, thực dân Pháp xúc tiến ngay việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng.

p p p

Trước khi thực dân Pháp tới, đường thủy là phương tiện giao thông chính ở tỉnh Biên Hòa. Đường bộ hồi đó kém phát triển, chỉ có thiên lý cù băng qua tỉnh, nối Sài Gòn với kinh đô Huế là quan trọng nhất.

Thời các chúa Nguyễn, xuất phát từ Sài Gòn có ba thiên lý cù quan trọng: một đi về phía Bắc, một đi về phía Nam, một đi về phía Tây.

Thiên lý cù phía Bắc: "xưa khi khai thác, từ phía Bắc cầu Tắt đến sông Bình Đồng, ruộng chằm lầy lội, chưa có đường bộ, người muốn đi Biên Hòa hoặc lên sông Băng Bột đều phải đi đò dọc. Năm Mậu Thìn (1748) Thế tông (tức Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát) nhân có biến loạn ở Cao Miên, viên điều khiển Nguyễn Doãn Thủy kinh lý đất này, mới sai chăng dây cắm đường cho thẳng, chỗ nào gặp khe ngòi thì bắc cầu, chỗ nào gặp bùn lầy thì đắp cây và đất, từ cửa Cấn Chỉ (phía Đông, NV chú) thành cũ đến bến đò Bình Đồng dài 17 dặm, ở phía Bắc là địa giới tỉnh Biên Hòa đặt trạm Bình Đồng, đi về phía Bắc là núi Châu Thới, đến đò Bình Tiên (chợ Đồn), qua bến sông Cát, do đường sứ Đồng Phủ xuống cửa Đồng Môn đến Đồng Môn đến Hưng Phúc, chỗ nào gặp sông lớn thì đặt thuyền đò...” (1).

Năm 1808 quan lộ này được sửa sang từ Quảng Nam tới Biên Hòa do Lê Văn Chất đứng trông nom dưới quyền thống lĩnh của Nguyễn Huỳnh Đức. Thiên lý cù phía Bắc từ Sài Gòn qua Biên Hòa , Long Thành, Bà Rịa, Xuyên Mộc, Hàm Tân... ngược ra phía Bắc. Từng phủ, huyện chịu trách nhiệm huy động dân đinh đi xâu sửa sang đường sá. Đường làm xong, đặt nhiều trạm, mỗi trạm có 20 đến 30 phu trạm chịu trách nhiệm chuyển tiếp công văn, sắc chỉ của triều đình. Lệnh hỏa tốc do ngựa trạm chuyển tiếp chỉ mất 4 ngày từ kinh đô Huế vào tới Sài Gòn".

Khi mới đánh chiếm xong tỉnh Biên Hòa, phương tiện đi lại bảo đảm an ninh là pháo hạm chạy đường sông. Công báo Nam kỳ đăng thông cáo ngày 10 - 10 - 1864 về giá cả:

Sài Gòn đi Biên Hòa hay ngược lại: 2 đồng/người/lượt.

Sài Gòn đi Bà Rịa hay ngược lại: 4 đồng/ người/lượt.

(để so sánh: giá 100 kg gạo lúc ấy khoảng 2 đồng). Dĩ nhiên khách đi tàu là các quan chức nhà nước, chứ dân thường không được dùng phương tiện đi lại này, mà cũng chẳng ai đủ tiền đi pháo hạm.

Khi tình hình an ninh trật tự đã vãn hồi vào mấy năm cuối thế kỷ XIX, nhà cầm quyền thực dân bắt đầu cho mở mang đường sắt, đường bộ phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất.

Năm 1901 đường quốc lộ I (route coloniale N0 I: đường thuộc địa số I) và đường sắt Sài Gòn - Nha Trang bắt đầu khởi công. Năm 1902, quốc lộ 15 (RC N0 15) nay đổi là quốc lộ 51,00 mở rộng đoạn Biên Hòa - Vũng Tàu trên cơ sở thiên lý cù phía Bắc. Năm 1903 cầu rạch Cát và cầu Gành bắc qua sông Đồng Nai làm xong. Ngày 14 - 1 - 1904 đoạn đường sắt Sài Gòn - Biên Hòa thông xe, tàu chợ bắt đầu chạy hàng ngày. Năm 1905 đường sắt vươn ra tới Xuân Lộc (nay là huyện lỵ Long Khánh) dài 71 km. Năm 1910 đường sắt thông tới Mương Mán (Phan Thiết). Ngày 16 - 7 - 1913 đường sắt Sài Gòn - Nha Trang dài 411 km đưa vào khai thác...

Trong phạm vi tỉnh Biên Hòa, đường sắt và quốc lộ I chạy gần song song nhau. Từ tỉnh lỵ Biên Hòa, chúng đâm sâu vào rừng rậm, cắt qua Bàu Cá, núi Chứa Chan, căn cứ Giao Loan cũ - là những căn cứ kháng chiến của nghĩa quân Kinh - Thượng vào thập niên 60 thế kỷ XIX. Hai con đường huyết mạch này có ý nghĩa chiến lược: phục vụ việc đàn áp các phong trào kháng chiến của nhân dân các dân tộc tỉnh Biên Hòa và phục vụ khai thác tài nguyên...

Do việc mở mang đường sắt, đội ngũ công nhân đường sắt Biên Hòa bắt đầu ra đời.

p p p

Địa phương chí tỉnh Biên Hòa năm 1901 cho biết trong giai đoạn đầu tiên, thực dân Pháp chưa chú ý đến công nghiệp. Vào thời điểm đó có ba người Pháp kinh doanh gỗ ở hai làng Đại An và Cẩm Ngôn là Chagnoux, Pasquez và Epardaud song không nói rõ qui mô làm ăn của họ.

Ở làng Tân Lại, ngay sát tỉnh lỵ, Pelleau mở xuởng chế biến sơn và vẹcni làm ra các sản phẩm từ dầu và mủ cây rừng, được tiêu thụ rộng rãi. Người ta không rõ số lượng công nhân và sản lượng làm ra.

Năm 1898, hãng cưa xẻ gỗ (thủ công) Blondel thành lập ở làng Tân Mai (quận Châu Thành), đến năm 1907 trở thành Công ty Biên Hòa kỹ nghệ và khai thác lâm nghiệp (Exploitation forestière de la Bien Hoa industrielle et forestitère), bắt đầu trang bị máy móc cưa xẻ gỗ các loại. Năm 1912 công ty này đổi tên là Công ty Biên Hòa kỹ nghệ và lâm sản (gọi tắt là BIF) hoàn thành xây dựng cơ bản, lắp đặt xong máy móc, đi vào sản xuất mặt hàng chính: gỗ xẻ, đồ mộc (bàn ghế, giường tủ...). Mặt hàng kinh doanh thêm là nấu rượu (và sau đó là mở đồn điền cao su). Nhà máy cưa Tân Mai là một trong những cơ sở công nghiệp quan trọng của Pháp không chỉ đối với tỉnh Biên Hòa mà cả ở Đông Dương.

Lúc đầu, nhà máy cưa BIF có 300 thợ. (Năm 1934 nhà máy tăng thêm máy móc thiết bị, số thợ lên đến 500 người. Hãng đổi tên là hãng Lâm nghiệp và cưa xẻ Biên Hòa (Forêts et scieries de Biên Hoa) song mọi người vẫn quen gọi là hãng BIF, cơ sở công nghiệp lớn nhất tỉnh Biên Hòa cho tới Cách mạng tháng Tám 1945). Đây là nơi có phong trào công nhân mạnh ngay từ khi hãng ra đời, phối hợp với các nơi: Dĩ An, Sài Gòn... về sau này.

Ngoài ra tỉnh Biên Hòa còn có Công ty điện và nước CEE của tư bản Pháp với số lượng vài chục công nhân.

Sân bay Biên Hòa có xưởng sửa chữa máy bay lập từ thập niên 20 thế kỷ XX phục vụ cho không quân Pháp ở miền Nam Đông Dương.

p p p

Tỉnh Biên Hòa (cũ) có vùng cao nguyên đất đỏ bazsalt màu mỡ, rộng lớn và loại đất xám rất lý tưởng cho việc trồng cao su - loại cây công nghiệp chiến lược thời hiện đại.

Vào năm đầu thế kỷ XX, nhà cầm quyền Đông Dương cấp lô đất nhượng 3.500 ha ở làng Dầu Giây cho một số tư bản Pháp. Lúc đó, nơi đây là địa điểm picnic của một số nhà kỹ thuật và nhân viên đường sắt người Pháp từ Sài Gòn tới nghỉ ngơi, vui chơi giải trí vào các ngày lễ và chủ nhật. Vài năm sau, họ lập tại đây một trang trại trồng thí điểm: vài giống cà phê, ca cao, hồ tiêu, cam quýt, quế, sả, trà, đu đủ, cola, măng cụt... và chăn nuôi một số gia súc bản địa. Các thử nghiệm phần lớn không sinh lợi.

Năm 1897, dược sĩ Belland trồng thử vài trăm gốc cao su mà giống nhập từ Singapore, trên một miếng đất thuộc Phú Nhuận tỉnh Gia Định. Năm 1905 vườn cao su này cho mủ, bán đợt đầu 100 ngàn fr.

Do tác động của Pierre - Giám đốc Thảo cầm viên Sài Gòn, trang trại Dầu Giây bắt đầu trồng thử 1.000 gốc cao su. Cùng thời gian này, giá cao su lên đột ngột tới 25 fr/kg do ngành công nghiệp ô - tô phát triển. Từ năm 1907 nhiều đồn điền nhỏ trồng cao su bắt đầu thành lập, chủ yếu trên đất xám ở vùng ven Sài Gòn, chủ đồn điền phần lớn là công chức Pháp, chỉ có số ít là thương nhân. Trang trại Dầu Giây trở thành đồn điền Suzannah (tên thánh con gái chủ tịch hội đồng quản trị) được hội Thừa sai Paris đầu tư vốn chủ yếu (do linh mục RP. Artif làm đại diện) vào việc trồng cao su.

Năm 1908 phủ Toàn quyền Đông Dương và nhóm tư bản Paris chủ hãng máy cưa BIF thỏa thuận cùng nhau: phủ Toàn quyền cấp cho họ vùng đất nhượng 28.000 ha rừng liền khoảnh ở ngay phía Đông Bắc tỉnh Biên Hòa có sông Đồng Nai và sông La Ngà bao bọc làm mút ranh giới, để đổi lấy điều đó các nhà tư bản cam kết cho đặt một đường sắt Decauville khổ hẹp từ Trảng Bom tới Cây Gáo để khai thác gỗ rừng. Vùng đất nhượng này mở ra Công ty cao su Đồng Nai (LCD: Les caoutchousd Donnai) gồm ba tiểu khu (secteur) sau trở thành ba đồn điền cao su: Trảng Bom, Cây Gáo, Túc Trưng (vào năm 1926).

Năm 1910, Công ty đồn điền Đất đỏ (Société des plantations des terres rouges, viết tắt là SPTR) lập hai đồn điền Courtenay và Long Thành (và một số đồn điền ở các nơi khác).

Năm 1911, Ascoli cùng Công ty thuơng mại và hàng hải Viễn Đông (CCNEO: Compagnie de commerce et navigation d'Extrême - Orient) hùn hạp với Suzannah lập Công ty đồn điền An Lộc có diện tích 3.700 ha với số vốn 3 triệu fr bắt đầu công cuộc khai hoang và trồng cao su.

Cũng năm 1911 Công ty đồn điền cao su Xuân Lộc (Société des plantations d'hévéas Xuân Lộc, viết tắt SPH - XL) mở đồn điền Hàng Gòn.

Octave Dupuy là nhà tư bản Paris do ăn chơi mà phá tán tài sản. Nhờ những mối quan hệ với chính giới chính trị và quản trị, ông ta xin được một vùng đất nhượng ở miền Đông Nam kỳ, trên vùng đất đỏ màu mỡ gọi là Đồng Háp rộng 800 ha ở phía Đông đồn điền An Lộc. Nhưng nhà colon này chỉ có thể trồng vài ha ở khu đất ven đường sắt và ở lỳ Sài Gòn, chẳng ngó ngàng gì đến cơ ngơi của mình. Chẳng bao lâu doanh nghiệp Đồng Háp bị bán rẻ cho đồn điền An Lộc, khiến diện tích của nó tăng lên tới 4.500 ha.

Biétry là một trong các thủ lĩnh sáng lập "công đoàn vàng" - tay sai của giới tư sản Pháp vào đầu những năm 1910. Y chống phá ráo riết các cuộc đấu tranh của thợ mỏ, thợ dệt, thợ luyện kim (trong Tổ liên đoàn lao động Pháp CGT) đòi cải thiện đời sống quá khổ cực. "Công đoàn vàng" thất bại, giới chủ quyết định Biétry phải "biến" khỏi sân khấu chính trị nước Pháp. Chính phủ Pháp cấp cho hắn 20.000 ha đất vùng Cam Tiêm và các chủ cũ thêm vào đó món tiền cho hắn khai thác đất đai. Hắn đến đây trước khi nổ ra cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất (1914). Hắn trồng vài chục ha cao su chẳng gặp khó khăn gì. Do cỏ tranh không được dọn sạch, một trận cháy tàn phá đồng cỏ tranh và số cao su đã mọc. Chán nản, bệnh tật, hết nơi trông cậy nương nhờ, mộng làm giàu tan vỡ, tên phiêu lưu này trở về Pháp khi chiến tranh kết thúc (1918) và chết sau đó ít lâu. Vùng đất Cam Tiêm rơi vào tay tập đoàn Suzannah và An Lộc, sau này trở thành đồn điền Ông Quế, với giá rẻ mạt gần như cho không.

Cho đến năm 1945 trên địa bàn tỉnh Biên Hòa có 61 đồn điền của tư bản Pháp và tư bản Việt (1).

Người ta nhận thấy số chủ đồn điền Việt Nam thật ít ỏi so với số chủ đồn điền Pháp. Diện tích một số đồn điền của người Việt cũng nhỏ so với đồn điền An Lộc chẳng hạn, chỉ bằng một khu (secteur) mà thôi.

Diện tích trồng cao su tăng rất nhanh vì mủ cao su là thứ nguyên liệu chiến lược cần thiết cho nhiều ngành công nghiệp châu Âu và Mỹ. Năm 1906 mới có 8,28 ha cao su mà đến năm 1929 diện tích cao su ở tỉnh Biên Hòa lên tới 21.300 ha.

Đồn điền càng mở nhiều thì càng cần nhân công, số cu li đồn điền - theo lối gọi thời đó, nay ta gọi là công nhân - càng đông. Vào buổi đầu, thực dân Pháp thuê người tại chỗ vào làm cho chúng, có cả một số đồng bào dân tộc ít người. Khi các đồn điền bành trướng, cần có thêm lao động nơi khác đến. Khoảng năm 1911, nhân công địa phương không đủ, do linh mục Artif kêu gọi mà một cộng đồng giáo dân Nam Trung kỳ đầu tiên gồm 30 gia đình đến đây làm phu đồn điền.

Rồi thực dân Pháp mộ phu contrat (giao kèo) là nông dân và người nghèo khổ miền Bắc, miền Trung. Chúng có hẳn chính sách bần cùng hóa nhân dân ta để dễ dàng mộ phu cho các đồn điền và các hầm mỏ. Báo Ý Chí Đông Dương (Volonté indochinoise) ngày 10 - 8 - 1927 viết: "Đó là sự tái bản trong giữa thế kỷ XX này của cái chợ buôn nô lệ".

Khi mộ phu, chúng lừa gạt người nông dân bằng bao lời hứa hẹn mỹ miều về thiên đường đất đỏ Nam kỳ. Nhưng khi họ tới nơi, thực tế khắc nghiệt bày ra: khí hậu khắc nghiệt của rừng rậm Đông Nam bộ, bệnh sốt rét ngã nước, nhưng tệ hại nhất là sự bóc lột tàn bạo và nạn đánh đập dã man. Cảnh sống cơ cực của những phu cao su được miêu tả trong một số tài liệu sau:

"Giờ lao động là như sau: ba giờ sáng thức dậy, bốn giờ tập hợp. Nhưng vì có hàng ngàn phu phải đếm nên chắc là giờ khởi hành không thể trước bốn rưỡi. Giữa buổi, được nghỉ một tiếng rưỡi, nhưng tất cả những người phu đều đoán chắc rằng chỉ đến tối mịt thì họ mới trở về nhà"(1).

" Trước khi ở miền Bắc ra đi, người ta hứa phát gạo miễn phí cho phu, nhưng khi tới đồn điền người ta phát gạo trừ lương. Vợ chồng cai hay giám thị đã bán chịu gạo với giá 2 đồng một tạ, gạo này rất xấu, người phu tự nấu ăn. Phu phải uống nước suối hay nước nguồn, thay vì trà, vài người đã lấy lá rừng nấu uống" - Paul monet, Entre deux feux - (2).

"Chủ Tây không làm nhà, chỉ cho dựng mấy lều tranh, trời mưa thì nước dột tứ bề, nhiều khi culi phải ngồi suốt đêm, đèn lửa không có, lạnh run cầm cập". (3).

Do sống khổ cực đọa đày nên tỷ lệ công nhân cao su chết và bệnh tật khá cao. Báo Humanité của Đảng Cộng sản Pháp ra ngày 7 - - 1929 viết: "... Ở Công ty đất đỏ, người ta đã ghi nhận trong vòng 11 tháng có 123 người chết và 242 người phải đi nhà thương, trong số 639 lao động. Tại đồn điền An Viễn (Biên Hòa) khi mới thành lập năm 1927, trong số 502 công nhân thì tỷ lệ bị bệnh và chết thật khủng khiếp, 27,4% đau ốm và 26,7% bị chết". Trở lại Công ty đất đỏ với các số liệu đã nêu, chúng ta được con số: 19,24% chết và 37,87% bị đau ốm, một tỷ lệ chẳng kém địa ngục An Viễn là bao.

Theo một thống kê của Công ty cao su đất đỏ SPTR, từ năm 1927 đến năm 1945, chúng mộ 197,809 phu thì số bị chết là 21.485 người (tỷ lệ 10,86%).

Bọn tư bản chủ đồn điền Pháp ngày càng thu lãi ghê gớm. Công ty cao su Xuân Lộc có vốn ban đầu 360 ngàn fr, năm 1937 lãi 4.193.000 fr (gấp 11,6 lần), năm 1939 lãi 8.830.000 fr (gấp 24,5 lần). Công ty cao su Đất đỏ có vốn ban đầu là 2,3 triệu fr, năm 1937 lãi 75.670.000 fr (gấp 23,9 lần), năm 1939 lãi 1.071.000.000 fr (gấp 465,6 lần). Bọn thực dân làm giàu bằng sự bóc lột công sức trên mồ hôi, nước mắt, xương máu phu đồn điền.



(1) Sơn Nam: Bến Nghé xưa, Nxb Văn Nghệ, Tp. HCM, 1981, tr.62 và Đất Gia Định xưa, Nxb Tp.HCM, 1984, tr.119

(2) Thực dân, tư bản

(1) Paul Doumer: L'Indochine francaise (souvenir), p.312, Vuibert et Nony, p,1905 (Dẫn theo Lịch sử Việt Nam, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, 1985)

(1) Đại Nam nhất thống chí, t.5, Nxb Thuận Hóa, 1992, tr.27.

(1) Xem chi tiết trong tập II Kinh tế, Địa chí Đồng Nai.

(1) De Lamarre, Báo Phục sinh (La résurrection).

(2) Dẫn theo Lịch sử phong trào công nhân cao su Việt Nam (1906 - 1990), Nxb Trẻ, Tp.HCM, 1993, tr.24

(3) Báo Tiếng vang An Nam (Echo annamite) ngày 19 - 9 - 1928.

Comments