3.3. Chính sách giáo dục

III.3. Chính sách giáo dục:

Từ lâu, các nhà Nho nước ta sáng tạo chữ Nôm từ chữ Hán. Cả hai thứ chữ này có lúc được dùng trong học hành, thi cử và sáng tác thơ văn. Muốn biết chữ Nôm, phải rành chữ Hán, do đó số người biết chữ Nôm khá hạn chế.

Các giáo sĩ đạo Thiên Chúa từ phương Tây vào nước ta truyền đạo đã cố gắng học tiếng Việt để có thể giảng giáo lý. Nhiều lớp giáo sĩ đã phiên âm tiếng Việt bằng chữ La tinh, dần dần chữ quốc ngữ La tinh hóa hoàn thiện.

Từ thứ chữ quốc ngữ đầu tiên còn rất thô sơ đến chữ trong cuốn Từ điển Bồ - Việt của Amaral (1632) và Từ điển Bồ - Việt của Barbosa (ra đời sau ít lâu) có bước tiến lớn. Năm 1651, Alexandre de Rhodes xuất bản cuốn Từ điểnViệt - Bồ - La tinh thì chữ quốc ngữ đã gần với ngày nay khá nhiều (cuốn này vừa được tái bản năm 1993). Ông ta nói rõ mục đích làm tự điển để các giáo sĩ học tiếng Việt mà truyền đạo, mặt khác giúp người Việt học tiếng Bồ Đào Nha và chữ La tinh trong các trường dòng. Như vậy, lúc đầu chữ quốc ngữ chỉ dùng trong cộng đồng giáo hội Công giáo ở nước ta. Sau này, các nhà cách mạng nước ta dùng chữ quốc ngữ làm vũ khí sắc bén để lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc.

Thực dân Pháp đánh chiếm Nam kỳ, gặp sức kháng cự mạnh mẽ của nhân dân ta ở khắp nơi. Buổi đầu, tầng lớp sĩ phu hiệu triệu mọi tầng lớp đứng lên chống xâm lăng nên địch cho rằng nếu triệt được bộ phận lãnh đạo thì sẽ dẹp tan cuộc kháng chiến. Thực hiện chính sách quân quản trực trị và đồng hóa về văn hóa, chúng cho thay chữ nho bằng chữ quốc ngữ trong việc cai trị nhằm xóa bỏ ảnh hưởng của tầng lớp sĩ phu phong kiến. Nhà cầm quyền Pháp ở Nam kỳ mở trường dạy tiếng Pháp cho người Việt và mở trường dạy tiếng Việt cho viên chức Pháp, mở trường Hậu bổ, trường thông ngôn (phiên dịch)... Chúng lập tờ Gia Định báo bằng chữ quốc ngữ để đăng tải các thông tư, nghị định... của chính quyền. Từ năm 1862, mọi công văn đều bằng chữ quốc ngữ và chữ Pháp.

Không mấy người Việt chịu đi học chữ và tiếng Pháp, đến nỗi nhà cầm quyền bắt mỗi làng phải cử mấy người đi học như bắt lính. Nhiều nhà khá giả phải thuê tiền cho người nghèo đi học thay cho đủ số qui định. Cultru nhận xét: "Kết quả chẳng ra làm sao cả, phần đông trẻ em đi học chỉ học đọc hay viết chữ quốc ngữ, không mấy đứa học và nói tiếng Pháp, có nói được cũng kém quá. Sau một năm học, vài đứa bị bắt đi làm thông ngôn ở các đồn lính"(1)

Vào cuối thập niên 70 của thế kỷ XIX, Trường tiểu học Biên Hòa (nay là Trường tiểu học Nguyễn Du ở thành phố Biên Hòa) là một trong các trường được thành lập sớm nhất tỉnh. Sách Địa phương chí tỉnh Biên Hòa năm 1901 cho biết cả tỉnh có một trường tiểu học đặt ở tỉnh lỵ do một giáo viên Pháp đứng đầu với bốn thầy giáo bản xứ, có 182 học sinh các lớp. Bốn trường tổng đặt ở các xã Bình Trước, Bến Gỗ, Tân Uyên, Bình Mỹ đều do các thầy giáo Việt Nam phụ trách; các trường này là trường sơ học (học để thi lấy bằng sơ học yếu lược, như lớp ba bây giờ). Tổng số là 196 học sinh. Sáu trường dòng (của nhà thờ Công giáo) đặt ở các xã Bình Trước, Tân Triều Đông, Phước Vĩnh (xóm Bò Nứa), Long Bình (xóm Long Điềm), Mỹ Hội, Phước Thành; số học sinh nam: 150, số học sinh nữ: 19.

Như vậy, tổng số học sinh các trường học tiếng Pháp và chữ quốc ngữ là 507, so với số dân trong tỉnh Biên Hòa vào thời điểm đó 102.194 thì tỷ lệ thật quá nhỏ bé (0,49%).

Ngoài ra vào thời điểm này còn tồn tại những lớp học Nho mở tại các tư gia (có xin phép) với số 651 học sinh.

Số trường tiểu học và trường làng sẽ tăng vào các năm sau, nhưng học sinh tốt nghiệp bậc tiểu học muốn học lên trung học thì phải đi Sài Gòn. Tình trạng này kéo dài cho đến năm 1956, khi Trường trung học Ngô Quyền được thành lập.

Năm 1903, nhà chức trách tỉnh Biên Hòa mở Trường mỹ nghệ Biên Hòa theo sáng kiến của họa sĩ André Joyeux. Trường dạy nhiều môn học: đúc và gò đồng, làm đồ gốm, đồ mộc, rèn, đan lát.... Mục tiêu của trường là đào tạo các thợ thủ công có tay nghề vững vàng làm các sản phẩm thủ công có chất lượng để bán và xuất khẩu. Ngành đồng và gốm kế thừa truyền thống xưa, được nâng cao theo hướng hiện đại các sản phẩm được khách du lịch ưa thích. Từ năm 1923, R.Balick (tốt nghiệp mỹ thuật trang trí Paris) được cử làm hiệu trưởng Trường mỹ nghệ bản xứ Biên Hòa, đã cùng vợ là Mariette Balick (tốt nghiệp Trường mỹ thuật gốm Limoges) đưa việc dạy gốm theo cơ sở khoa học hiện đại thì các sản phẩm gốm Biên Hòa của trường có sự thay đổi về chất. Các sản phẩm gốm và đồng của trường kết hợp tính mỹ thuật Á - Âu tuy chuyên làm theo kiểu xưa, ít sáng tác kiểu mẫu tân thời. Hợp tác xã mỹ nghệ Biên Hòa do các học sinh đã tốt nghiệp lập ra, một thời phát triển sản xuất đủ cung ứng cho nhu cầu, sở thích của khách hàng trong và ngoài nước.

Tuy mỗi năm trường chỉ thu nhận vài chục học sinh, nhưng suốt thời gian dài, đã có nhiều người tốt nghiệp trở thành thợ thủ công, tạo nên trường phái gốm Biên Hòa đặc sắc. Georges Dibourg từng mở xưởng gốm Đồng Nai với tên gọi Cédo (Céramiques du Donnai) vào nửa thập niên 20 ở làng An Hảo (phường An Bình bây giờ) mướn thợ là học sinh mỹ thuật để làm các bộ đồ trà, cà phê, chén dĩa... xuất khẩu sang Pháp.

Sự nghiệp giáo dục đào tạo của Pháp ở tỉnh Biên Hòa suốt mấy chục năm đô hộ thật nhỏ bé. Hơn 90% nhân dân thất học, tình trạng này kéo dài cho đến Cách mạng tháng Tám 1945 ([1][2]).



(1) Trần Văn Giàu: sđd, tr.201.

([1][2]) Xin xem chi tiết hơn trong tập V Văn hoá - xã hội, Địa chí Đồng Nai

Comments