3.4. Sự phân hóa xã hội và quá trình hình thành đội ngũ công nhân ở Biên Hòa

III.4. Sự phân hóa xã hội và quá trình hình thành đội ngũ công nhân ở Biên Hòa:

Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp làm cho xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi so với trước đây. Tỉnh Biên Hòa nằm trong quỹ đạo của sự thay đổi này. Về mặt hành chánh tổ chức, Biên Hòa dưới thời thuộc Pháp đã nhiều lần được sắp xếp, phân chia (xem thêm phần Địa lý Lịch sử - Tập Địa lý). Dân số ngày càng tăng lên do các nguồn nhập cư từ nơi khác đến, đặc biệt là từ miền Bắc, miền Trung qua công việc mộ phu “công tra” làm việc tại các đồn điền cao su. Nông thôn Biên Hòa có nhiều biến chuyển so với trước đây. Vì là tỉnh phụ cận Sài Gòn, một trung tâm thương mại mà thực dân Pháp ra sức xây dựng để phục vụ cho công cuộc khai thác tối đa hiệu quả ở Nam kỳ, Biên Hòa chịu những ảnh hưởng lớn. Nền kinh tế nông thôn tự cung cấp của người dân trước đây dần dần chuyển sang sản xuất cung cấp hàng hóa, phục vụ cho kinh tế thị trường, phụ thuộc vào chính sách khai thác kinh tế của Pháp. Hàng hóa sản xuất ra như lúa, gạo, cao su... được đưa về Sài Gòn để xuất khẩu, xã hội Biên Hòa có sự phân hóa cao. Ngoài thực dân tư bản phương Tây, nay xuất hiện tầng lớn tư bản người bản xứ và đóng một vai trò khá quan trọng trong nền kinh tế của giai đoạn này. Đó là các điền chủ với những trang trại, đồn điền, nhà máy, công ty... chiếm hữu phần lớn số đất đai canh tác, phát triển khá nhiều trên vùng đất Biên Hòa. Tầng lớp nhân dân bị bần cùng hóa nghiêm trọng qua chính sách cướp đoạt ruộng đất và khai thác nông nghiệp của thực dân Pháp. Họ chiếm số lượng đông đảo, là lực lượng tham gia sản xuất lớn nhưng ruộng đất thì không có. Họ trở thành những tá điền, làm thuê ngay trên đất của mình trước đây nay đã bị chiếm đoạt. Cuộc sống của nhân dân chịu nhiều khổ cực, chịu hàng trăm thứ thuế, tô, nợ, đói ăn, đói mặc, mặc dù làm quần quật suốt năm vì chính quyền thuộc địa Pháp cùng với bọn tay sai cấu kết, ra sức đàn áp, bóc lột.

Đặc biệt trong thời kỳ thực dân Pháp đẩy mạnh công cuộc khai thác thuộc địa với công việc mở mang đường giao thông: đường sắt, đường bộ cùng với việc hình thành các đồn điền cao su ở Biên Hòa đã manh nha hình thành một giai tầng mới trong xã hội. Đó là tầng lớp công nhân làm việc tại các nhà máy: Đề pô Dĩ An, Hãng cưa BIF, các đồn điền... có tính chất tập trung và ngày càng tăng lên. Cuộc sống của tầng lớp công nhân bị ba tầng áp bức, bóc lột: thực dân, tư bản và phong kiến. Những nơi họ làm việc được ví như chốn địa ngục trần gian. Họ bị cưỡng bức lao động quá sức, bị đối xử thậm tệ, bị vô sản hóa. Vì vậy, tầng lớp công nhân này đã sớm đoàn kết lại và đấu tranh với những thế lực bóc lột, áp bức mình bằng nhiều hình thức.

Có thể nói chính sách cai trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam nói chung, Nam kỳ nói riêng đã tạo nên những thay đổi trong tình hình xã hội của nước ta. Ở Biên Hòa từ ngày thực dân Pháp chiếm đóng cho đến những năm đầu thập niên 30 của thế kỷ 20 bộ mặt xã hội có nhiều biến chuyển so với trước. Hệ thống giao thông được đầu tư xây dựng, môi trường giáo dục y tế có phát triển, đô thị với việc xây dựng các công sở phát triển, diện tích canh tác nông nghiệp, công nghiệp đẩy mạnh song những điều đó không phải là “thực tâm” của công việc khai hóa của thực dân Pháp mà chỉ nhằm phục vụ cho mục đích khai thác thuộc địa triệt để của chúng. Chính sách cai trị, áp bức gay gắt và bóc lột tàn bạo về kinh tế, chính trị của thực dân Pháp và bọn tay sai làm cho xã hội Việt Nam ngày càng khủng hoảng nghiêm trọng, phần lớn tầng lớp nhân dân khổ cực, thất học, trong kiếp lầm than nô lệ. Điều đó, tất yếu đưa tới những mâu thuẫn xã hội, đặc biệt của lớp người bị trị đối với xâm lăng và thế lực tay sai bán nước và buộc họ phải đứng lên đấu tranh để đòi quyền sống, quyền tự do. Nhân dân Biên Hòa đứng lên đấu tranh với kẻ thù, mà quan trọng là sự tham gia của giai cấp công nhân.

Comments