4.1. Phong trào công nhân Biên Hòa dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin

IV.1. Phong trào công nhân Biên Hòa dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin:

Từ những năm 1925, 1926 trở đi, tỉnh Biên Hòa cũng như nhiều địa phương khác ở Nam bộ bắt đầu xuất hiện một phong trào yêu nước được soi sáng bởi đường lối cách mạng vô sản do Nguyễn Ái Quốc tiếp thu và truyền bá vào Việt Nam.

Tháng 10 năm 1926, các đồng chí Phan Trọng Bình và Nguyễn Văn Lợi của tổ chức Hội Thanh niên Cách mạng Việt Nam được cử về Sài Gòn gầy dựng cơ sở. Năm 1927, sau khi bắt liên lạc và thâu nhận tổ chức Công hội bí mật do đồng chí Tôn Đức Thắng lãnh đạo, Kỳ bộ Thanh niên Cách mạng Việt Nam ở Nam kỳ được thành lập. Năm 1928, thực hiện chủ trương "vô sản hóa" nhiều hội viên của Kỳ bộ đã len lỏi vào làm phu, làm thợ ở các nhà máy, đồn điền... tuyên truyền vận động và xây dựng tổ chức cách mạng đồng thời cũng để tự rèn luyện lập trường giai cấp công nhân.

Tại Biên Hòa, một số đồng chí đã về hoạt động và xây dựng cơ sở ở đồn điền cao su Phú Riềng, Cam Tiêm, Cuộc tơ nay (1), đề pô xe lửa Dĩ An, Nhà máy cưa BIF... . Đồng chí Nguyễn Văn Vĩnh (tức Nguyễn Xuân Cừ) là lớp hội viên đầu tiên của Hội Thanh niên Cách mạng Việt Nam. Khoảng đầu năm 1928, Cừ đi "vô sản hóa" ở đồn điền cao su Phú Riềng là một công nhân tự do, được quyền đi lại trong đồn điền và nhiều nơi khác, đồng chí tìm cách tuyên truyền giáo dục giác ngộ cách mạng công nhân. Tháng 4 năm 1928, Chi bộ Hội Thanh niên Cách mạng Việt Nam đồn điền Phú Riềng được thành lập có các hội viên gồm Trần Tử Bình, Tạ, Hồng, Hà do đồng chí Nguyễn Xuân Cừ làm bí thư. Đây là một trong 19 chi bộ Hội Thanh niên Cách mạng Việt Nam ở Nam kỳ lúc bấy giờ.

Từ những hạt giống đỏ này, đội ngũ cán bộ cơ sở cách mạng ngày càng tăng thêm, đông đảo quần chúng lao động bước vào một thời kỳ đấu tranh mới có sự lãnh đạo của tổ chức cách mạng. Phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh dấy lên ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt là phong trào đấu tranh của công nhân ở các đồn điền cao su.

Ngày 25 tháng 9 năm 1928, dưới sự lãnh đạo của tiểu tổ Hội Thanh niên Cách mạng Việt Nam, hơn 400 công nhân cao su ở Cam Tiêm đồng loạt bãi công. Từ sáng sớm công nhân kéo nhau ra sân điểm, đưa yêu sách đòi chủ sở phải thực hiện những điều khoản trong bản giao kèo đã ký trước khi đến đồn điền lao động. Cuộc bãi công kéo dài đến chiều tối. Công nhân dùng gậy gộc bao vây văn phòng sở. Bọn chủ, sếp hoảng sợ bỏ trốn sang đồn điền Dầu Giây, cho tay chân đến bót hiến binh Xuân Lộc cấp báo đồng thời điện về Tòa bố Biên Hòa yêu cầu tăng viện. Tỉnh trưởng Biên Hòa cấp tốc cử 20 lính và hiến binh lên Xuân Lộc phối hợp với binh lính ở đây kéo vào đồn điền Cam Tiêm đàn áp cuộc đấu tranh. Cuộc xô xát đẫm máu giữa công nhân cao su với binh lính và hiến binh Pháp diễn ra làm hàng chục người chết và bị thương. Nhiều gia đình công nhân bỏ trốn, tản mác ra rừng. Hơn một tháng sau, công việc sản xuất của đồn điền mới dần dần ổn định.

Cuộc đấu tranh này và sự đàn áp bằng bạo lực của thực dân Pháp đã làm xôn xao và gây xúc động dư luận quần chúng trong và ngoài nước. Tổng liên đoàn lao động Pháp đã lên tiếng phản đối sự đàn áp của bọn thực dân tư bản đối với công nhân đồn điền này và bày tỏ sự đồng tình ủng hộ cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam nói chung và công nhân Cam Tiêm nói riêng.

Nối tiếp cuộc đấu tranh của công nhân đồn điền cao su Cam Tiêm liên tiếp trong 2 tháng 8 và 10 năm 1929 dưới sự lãnh đạo của chi bộ Hội Thanh niên Cách mạng Việt Nam, công nhân đồn điền cao su Phú Riềng đã nổi dậy đấu tranh, tổ chức các cuộc bãi công và biểu tình với quy mô lớn chống sự bóc lột tàn bạo của bọn tư bản thực dân.

Những cuộc đấu tranh này không chỉ nhằm mục đích đòi các quyền lợi kinh tế mà bước đầu đã có yếu tố chính trị nhằm đánh đổ kẻ thù giai cấp và dân tộc.

Trước phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và quần chúng lao động đang dấy lên mạnh mẽ khắp toàn quốc, tổ chức Hội Thanh niên Cách mạng Việt Nam không đáp ứng được khả năng lãnh đạo cách mạng. Đã đến lúc phải có một chính Đảng thực sự của giai cấp công nhân lãnh đạo để trực tiếp đưa cách mạng tiến lên. Chính yêu cầu ấy đã dẫn tới sự ra đời của các tổ chức cộng sản vào nửa cuối năm 1929 và đầu năm 1930.

Cùng với sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng ở Bắc kỳ, Đông Dương Cộng sản liên đoàn ở Trung kỳ, tại Sài Gòn, đồng chí Châu Văn Liêm và một số đồng chí khác đứng ra tổ chức An Nam Cộng sản Đảng vào tháng 8 năm 1929.

Tháng 8 năm 1929, Trung ương lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng cử các đồng chí Ngô Gia Tự, Hạ Bá Cang (tức Hoàng Quốc Việt), Lê Văn Lương... vào Sài Gòn hoạt động, tổ chức cơ sở cho Đông Dương Cộng sản Đảng tại Nam kỳ. Đồng chí Nguyễn Đức Văn (tự Tam) được cử về Biên Hòa xây dựng cơ sở Đảng. Đồng chí đã móc nối liên lạc với chi bộ Hội Thanh niên Cách mạng Việt Nam ở Phú Riềng và thống nhất chủ trương chuyển hóa tổ chức này thành chi bộ cộng sản. Đêm 28 tháng 10 năm 1929, tại khu rừng sau lưng làng 3 của đồn điền Phú Riềng các đồng chí đã tập trung làm lễ thành lập chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng. Chi bộ gồm có 6 đồng chí (1) do đồng chí Nguyễn Xuân Cừ làm bí thư. Cùng với Phú Riềng, trong những tháng cuối năm 1929 đầu năm 1930, một số cơ sở Đảng cũng được tổ chức xây dựng ở đề pô xe lửa Dĩ An, nhà máy cưa BIF, đồn điền cao su Cam Tiêm, đồn điền cao su Cuộctơnay...

Giai cấp công nhân Biên Hòa đứng lên đấu tranh bằng nhiều hình thức, từ hình thức bỏ trốn cá nhân, tập thể, công khai bỏ việc, phối hợp với các phong trào yêu nước, đốt phá cơ sở làm việc, mít - tinh, đình công, bãi công... đã làm sôi nổi phong trào trong một giai đoạn lịch sử. Từ tự phát lẻ tẻ, giai cấp công nhân đã biết đoàn kết lại, tự giác đấu tranh cho quyền lợi giai cấp và quyền lợi dân tộc. Phong trào cách mạng của tỉnh Biên Hòa có sự thay đổi về chất và ngày càng phát triển mạnh mẽ kể từ khi Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời.

p p p

Trong bối cảnh chung của đất nước năm 1930, Việt Nam cùng một lúc tồn tại 3 tổ chức cộng sản đã hạn chế sự phát triển của phong trào cách mạng, thậm chí có sự mâu thuẫn, tranh giành ảnh hưởng đối với quần chúng nhân dân. Trước tình hình đó, ngày 3 tháng 2 năm 1930, đồng chí Nguyễn Ái Quốc với tư cách là đại diện Quốc tế cộng sản triệu tập đại biểu các tổ chức cộng sản họp tại Cửu Long (Trung Quốc) để thống nhất 3 tổ chức thành Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, mở đầu một thời kỳ mới, thời kỳ cách mạng do giai cấp công nhân và đội tiền phong của nó là Đảng Mác - Lênin lãnh đạo. Việc thống nhất các tổ chức Đảng ở Nam bộ cũng được tiến hành sau đó một thời gian ngắn. Cấp ủy lâm thời của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Nam kỳ được thành lập do đồng chí Ngô Gia Tự làm bí thư.

Ở Biên Hòa nhiều thanh niên tiến bộ đã nhanh chóng tiếp thu tư tưởng mới, ánh sáng cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Một số sớm giác ngộ đã đứng vào hàng ngũ của Đảng, làm người chiến sĩ tiên phong đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc như các đồng chí Nguyễn Văn Nghĩa (Xược), Lưu Văn Viết (Tư Chà), Quách Tỷ, Quách Sanh...

Đặc biệt ở 2 cơ sở công nghiệp lớn lúc bấy giờ là nhà máy cưa BIF ở nội ô thị xã Biên Hòa và đề pô xe lửa Dĩ An, cách thị xã Biên Hòa khoảng 4 km mạng lưới cơ sở Đảng và phong trào đấu tranh cách mạng của công nhân phát triển mạnh. Các đồng chí Châu Văn Liêm, Phạm Hữu Lầu, Nguyễn Trọng Nhã được Đảng bố trí vào làm công nhân ở các nơi này để xây dựng tổ chức cơ sở Đảng, lãnh đạo công nhân đấu tranh. Tại nhà máy cưa BIF, tổ chức Công hội đỏ được thành lập kết nạp được hàng chục công nhân cốt cán. Các đồng chí Nguyễn Trọng Nhã, Nguyễn Văn Hợp... bằng nhiều hình thức đã bí mật tuyên truyền giác ngộ cho anh em nhà máy cũng như một số thanh niên lao động nông dân ở các xóm ấp lân cận như Tân Mai, Lân Thành, Vĩnh Thị...

Xuất phát từ các đồn điền cao su, các cơ sở công nghiệp này mà một số cuộc đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động ở Biên Hòa diễn ra sôi động trong những tháng đầu năm 1930.

Trước và sau ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (từ 30 tháng 1 năm 1930 và 6 tháng 2 năm 1930) dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng, 5.000 công nhân đồn điền cao su Phú Riềng đã nổi dậy đấu tranh với các yêu sách: Đòi thực hiện đúng giao kèo giữa chủ với công nhân; ngày làm việc 8 giờ kể cả thời gian đi và về; bồi thường cho công nhân bị tai nạn lao động; ốm đau phải được trị bệnh và được hưởng lương cùng một số kiến nghị khác... Trước khí thế đấu tranh mạnh mẽ và áp lực của đông đảo quần chúng công nhân, chủ đồn điền buộc phải chấp nhận các yêu sách của công nhân. Biên bản được ký tại chỗ giữa đại biểu công nhân và chủ đồn điền. Việc chủ tư bản đồn điền buộc phải hạ bút ký "cam kết" thực hiện những điều yêu sách của công nhân là một thắng lợi vô cùng to lớn ở đồn điền cao su Phú Riềng.

Thế nhưng do chưa có kinh nghiệm đấu tranh, quá say sưa với thắng lợi bước đầu, một số cán bộ nghiệp đoàn tư tưởng thừa thắng xông lên thiếu cảnh giác, tiếp tục tổ chức bạo động đấu tranh. Chi bộ Đảng bỏ qua nguyên tắc, phương châm bí mật, công khai, bán công khai. Do hoạt động lộ liễu, các đồng chí đảng viên trong chi bộ và cơ sở cốt cán đều bị địch phát hiện, chúng lần lượt lùng bắt hơn 100 người đưa về Biên Hòa giam giữ.

Ở nhà lao Biên Hòa, số đảng viên cốt cán, công nhân đã bị địch bắt giam cầm khắc nghiệt, đã tuyệt thực nhiều ngày, đấu tranh phản đối nhà cầm quyền thực dân Pháp đánh đập tra tấn dã man công nhân, đòi cải thiện chế độ lao tù... Tên giám đốc đề lao - vốn khét tiếng gian ác - khiếp phục và giải quyết một số yêu sách của anh em. Ở tòa án Biên Hòa, các đồng chí đảng viên: Trần Tử Bình, Nguyễn Mạnh Hồng, đồng chí Tạ, Doanh hùng hồn vạch trần sự bóc lột dã man của tư bản thực dân làm cho bọn quan tòa tỏ ra lúng túng, bị động vội vàng tuyên án và chuyển vụ án về tòa đại hình ở Sài Gòn.

Mặc dù có một số tổn thất, cuộc đấu tranh của công nhân cao su Phú Riềng đã giành được thắng lợi. Đây là cuộc đấu tranh lớn nhất trong số các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam lúc bấy giờ, có tiếng vang trong cả nước.

Sự kiện "Phú Riềng đỏ" lan nhanh đến các nhà máy, xí nghiệp, đồn điền tác động đến phong trào đấu tranh của công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động ở Biên Hòa và miền Đông Nam bộ. Cùng với phong trào đấu tranh của công nhân cao su Phú Riềng, phong trào đấu tranh của công nhân và lao động ở các nhà máy, xí nghiệp khác ở Biên Hòa diễn ra mạnh mẽ.

Đêm 28 tháng 4 năm 1930, hàng trăm tờ truyền đơn được đánh máy và in thạch (xu xoa) với nội dung kêu gọi thợ thuyền và dân cày đoàn kết đứng dậy đấu tranh chống các chính sách bóc lột, đàn áp của thực dân Pháp và bè lũ tay sai như bãi bỏ chế độ bắt xâu, đòi giảm thuế... được rải ở nhiều khu vực trong thị xã Châu Thành, Biên Hòa, nhiều nhất là tuyến đường từ ấp Tân Mai đến cửa hãng cưa và ga xe lửa Biên Hòa. Các anh Nguyễn Văn Hợp, Nguyễn Văn Hạt (công nhân BIF), anh Tư Giáp (ấp Tân Mai) đã bí mật vận động quyên góp tiền bạc trong công nhân và nhân dân quanh vùng mua giấy mực in truyền đơn, đồng thời tổ chức thăm viếng, giúp đỡ những gia đình công nhân, nhân dân lao động gặp khó khăn hoạn nạn. Những nghĩa cử đó đã tạo được tình đoàn kết, hữu ái công nhân trong nhà máy cũng như nhân dân lao động các xóm ấp lân cận.

Nhân ngày Quốc tế lao động 01 - 05 - 1930, toàn bộ công nhân hãng cưa BIF và đề pô xe lửa Dĩ An nhất loạt đình công với các yêu sách: ngày làm 8 tiếng, không được cúp phạt, đánh đập công nhân, không được bắt công nhân làm việc ngày chủ nhật. Cuộc đấu tranh của công nhân tuy không đạt được kết quả hoàn toàn như nội dung yêu sách đã đề ra nhưng bọn chủ không dám đàn áp... Chúng hứa hẹn không để cho bọn tay chân đánh đập, hành hạ phụ nữ, đồng thời hạn chế việc bắt công nhân làm việc trong ngày chủ nhật.

Từ tháng 05 đến tháng 09 năm 1930, cơ sở Đảng ở nhà máy cưa BIF, ga xe lửa Biên Hòa tiếp tục tổ chức một số cuộc đình công, rải truyền đơn kêu gọi công nhân, nông dân đoàn kết đấu tranh, kêu gọi nhân dân ủng hộ phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Đêm 02 tháng 7 năm 1930, công nhân tổ chức rải truyền đơn và treo cờ đỏ búa liềm trên tháp nước nhà máy cưa BIF để chào mừng sự ra đời của Đảng Cộng Sản Việt Nam, đồng thời ủng hộ cuộc đấu tranh của công nhân cao su Phú Riềng, đòi trả tự do cho hơn 100 công nhân cao su bị giặc bắt đưa về giam giữ ở đề lao Biên Hòa. Cuộc đấu tranh tác động đến các tầng lớp nhân dân ở Biên Hòa nhất là công nhân xe lửa, công nhân cao su và nông dân ở các xã ấp vùng ven thị xã Biên Hòa. Quần chúng ngày càng nhận thức rõ hơn là không thể cam chịu cuộc đời nô lệ của người dân mất nước mà phải vùng dậy đấu tranh. Mặt khác họ cũng tận mắt chứng kiến cách mạng đã đến với nhân dân Biên Hòa, nó không còn là chuyện bên Nga, bên Tàu hoặc ở miền Bắc, miền Trung xa xôi nữa. Phong trào cách mạng ở Biên Hòa được nhen nhóm và phát triển.



(1) Đồn điền cao su Cam Tiêm, nay là nông trường Ông Quế thuộc Công ty cao su Đồng Nai. Đồn điền cao su Cuộctơnay nay là nông trường Cẩm Mỹ thuộc Công ty cao su Đồng Nai.

(1) 6 đồng chí trong chi bộ là: Nguyễn Xuân Cừ, Trần Tử Bình, Phạm Thư Hồng, Tạ, Hòa, Danh.

Comments