4.4. Biên Hòa chuẩn bị Tổng khởi nghĩa giành chính quyền

IV.4. Biên Hòa chuẩn bị Tổng khởi nghĩa giành chính quyền:

Ngày 1 tháng 9 năm 1939, chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ, thực dân Pháp khủng bố phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa đồng thời ban bố lệnh tổng động viên, tăng cường vơ vét sức người, sức của để phục vụ chiến tranh đế quốc. Ngày 28 tháng 9 năm 1939, phủ Toàn quyền Đông Dương ra nghị định giải tán và tịch thu tài sản các Hội Ái hữu, các nghiệp đoàn... mở đầu cho cuộc khủng bố quyết liệt trên toàn quốc.

Trước tình hình đó, Trung ương Đảng đã kịp thời chỉ đạo cho các cơ quan, cán bộ hoạt động hợp pháp và bán hợp pháp phải mau lẹ rút vào bí mật, chuyển trọng tâm công tác về nông thôn.

Đầu tháng 11 năm 1939, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ VI tại Bà Điểm - Gia Định. Hội nghị nhận định hình thức “Mặt trận dân chủ thích hợp với hoàn cảnh trước đây, nay không còn thích hợp nữa”. Hội nghị quyết định chuyển Mặt trận Dân chủ Đông Dương thành Mặt trận dân tộc phản đế Đông Dương để tiến hành chống đế quốc chiến tranh, đánh đuổi đế quốc Pháp và bọn phong kiến giải phóng các dân tộc Đông Dương, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập” (1). Hội nghị nhấn mạnh giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Đông Dương và chủ trương tạm gác khẩu hiệu cải cách ruộng đất, chỉ đề ra khẩu hiệu giảm tô cao, chống cho vay nặng lãi, tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ chia cho nông dân, nhằm tập trung lực lượng chống đế quốc và bè lũ tay sai. Ở Biên Hòa, bọn cầm quyền thực dân Pháp cũng ra hàng loạt nghị định, cấm mọi hoạt động có tính chất chính trị mà chúng cho có liên hệ với cộng sản.

Cuối năm 1939, thực dân Pháp tiến hành khủng bố trắng, lần lượt bắt nhiều cán bộ của Đảng giam giữ ở các nhà tù trong đất liền hoặc đày đi Côn Đảo. Chúng đàn áp, bắt bớ những quần chúng tiến bộ, những người phụ trách quản trị của các Hội, đoàn tịch thu tài sản của Hội và gia đình họ, gây hoang mang chia rẽ trong nhân dân. Thực dân còn lập thêm các nhà tù ở Bà Rá, Tà Lài... là những vùng “ma thiêng nước độc”. Chúng gọi đây là những “Căng của những người lao động đặc biệt” để giam giữ những cán bộ, đảng viên cộng sản, những chiến sĩ yêu nước chống phát xít ở Nam bộ, trong số này có các đồng chí Trần Văn Giàu, Tô Ký, Dương Quang Đông, Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Văn Nghĩa...

Ở Biên Hòa, thực dân Pháp và bọn tay sai tập trung lực lượng đánh phá khốc liệt các xã Bình Ý, Tân Triều, Bình Phước. Các cơ sở nhà máy cưa BIF, Ga Biên Hòa, các đồn điền cao su An Lộc, Cuộctơnay .v.v... được chúng coi là những “Làng đỏ”, những “Cơ sở đỏ”, cần phải xóa tận gốc rễ. Riêng xã Bình Ý có hơn 200 người bị chúng bắt đưa về giam giữ ở nhà lao Biên Hòa.

Phục vụ cho việc phòng thủ, vơ vét sức người sức của cung ứng cho chiến tranh đế quốc, thực dân Pháp thực hiện lệnh tổng động viên tuyển mộ lính, kéo dài thời hạn tại ngũ, đồng thời tăng cường bắt đi xâu, xây dựng thêm đường sá, cầu cống, mở rộng sân bay Tân Phong, trường bắn Bình Ý, lập xưởng sửa chữa máy bay v.v... Địch tăng cường vơ vét bóc lột bằng nhiều hình thức dã man nhất, tất cả các sắc thuế đều tăng, đặt ra nhiều loại thuế mới như “đảm phụ quốc phòng”, “quốc trái”... ra lệnh sung công, trưng thu, trưng dụng các phương tiện vận tải hàng hóa của tư nhân nhằm thực hiện chính sách “kinh tế thời chiến”. Đời sống nhân dân Biên Hòa bị bần cùng hóa.

Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Xứ ủy Nam kỳ, từ cuối năm 1939, Tỉnh ủy Biên Hòa có kế hoạch đưa các tổ chức, cán bộ hoạt động công khai vào hoạt động bí mật, chuyển cán bộ về nông thôn, đồn điền cao su. Các cán bộ chủ chốt của tỉnh như đồng chí Phạm Văn Khoai, Phạm Văn Thuận, Hồ Văn Đại, Lê Văn Tôn, Huỳnh Văn Phan, Huỳnh Văn Lũy, Nguyễn Hồng Kỳ, Trần Minh Triết... tránh được sự truy lùng của giặc, đổi vùng tiếp tục hoạt động và chuyển về rừng Tân Uyên xây dựng căn cứ.

Tháng 7 năm 1940, Xứ ủy Nam kỳ triệu tập Hội nghị mở rộng tại xã Tân Lương, tỉnh Mỹ Tho. Hội nghị thông qua chủ trương kế hoạch khởi nghĩa và thành lập Ban quân sự các cấp. Hội nghị bầu ra Xứ ủy mới do đồng chí Tạ Uyên làm bí thư, cử đồng chí Phan Đăng Lưu ra Bắc dự Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (tháng 11 năm 1940) và xin chỉ thị của Trung ương về chủ trương khởi nghĩa. Tháng 9 năm 1940, Xứ ủy tiếp tục mở Hội nghị tại xã Tân Xuân, Hốc Môn, Gia Định để giải quyết một số vấn đề trọng yếu, trao cho Thường vụ Xứ ủy quyền ban bố lệnh khởi nghĩa, quyết định mẫu cờ là nền đỏ, ở giữa ngôi sao vàng 5 cánh. Ngày 23 tháng 11 năm 1940, lệnh khởi nghĩa được phát đi các nơi, quyết định thời gian khởi nghĩa đồng loạt trong toàn Xứ là đêm 22 tháng 11 năm 1940. Đồng chí Phan Đăng Lưu sau khi dự Hội nghị lần thứ 7 mang chỉ thị của Trung ương hoãn cuộc khởi nghĩa vừa về đến Sài Gòn thì lệnh khởi nghĩa của Thường vụ Xứ ủy đã xuống tận cơ sở không thể hoãn được nữa. Ở Biên Hòa, công tác chuẩn bị khởi nghĩa được tiến hành khẩn trương, sôi nổi nhất là ở một số xã thuộc quận Tân Uyên và Châu Thành. Đội võ trang tập trung của tỉnh được tổ chức khoảng 35 người do đồng chí Huỳnh Văn Liểng chỉ huy. Các đồng chí trong Tỉnh ủy và một số đảng viên khác len lỏi vào các quận, các xã chỉ đạo các chi bộ, các cơ sở cốt cán chuẩn bị lực lượng, sẵn sàng phát động quần chúng nổi dậy. Nhưng kế hoạch khởi nghĩa bị lộ ngay từ bên trên.

Sáng 21 tháng 11 năm 1940, địch tập trung lực lượng bao vây các địa điểm chuẩn bị khởi nghĩa, nhiều đồng chí trong Tỉnh ủy hy sinh và bị giặc bắt đày đi Côn Đảo, Tà Lài, Bà Rá. Đội vũ trang của tỉnh do đồng chí Trần Văn Quỳ chỉ huy rút vào rừng sâu hoạt động và trụ lại cho đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Cuộc khởi nghĩa không thành, giặc thẳng tay chém giết, bắt bớ, tra tấn dã man không kể là đảng viên hay quần chúng. Bọn mật thám rình rập ở khắp nơi, chỗ nào tình nghi có cộng sản hoạt động là lập tức ập đến khủng bố. Một số làng thuộc quận Tân Uyên, giặc càn bố liên tục, đồng bào luôn sống trong tâm trạng căng thẳng lo âu.

Giữa năm 1941, phát xít Nhật đổ bộ lên một số tỉnh Nam bộ. Nhân dân Biên Hòa lâm vào cảnh “một cổ hai tròng”. Cùng với thực dân Pháp, phát xít Nhật ra sức đàn áp, vơ vét bóc lột. Đời sống nhân dân Biên Hòa vốn đã khổ cực nay càng thêm điêu đứng. Pháp và Nhật tuy có nhiều mâu thuẫn nhưng thống nhất một âm mưu thâm hiểm là tập trung đánh phá phong trào cách mạng Việt Nam.

Sau Nam kỳ khởi nghĩa, lực lượng các tỉnh Nam kỳ và Biên Hòa bị tổn thất nặng. Phong trào cách mạng tạm thời lắng xuống.

Từ cuối năm 1940, một số cán bộ, đảng viên về hoạt động trong phong trào công nhân cao su. Đồng chí Hồ Văn Đại (Sáu Đại) về Cốc Rang (đồn diền An Lộc), đồng chí Nguyễn Văn Long hoạt động ở Dầu Giây, Bình Lộc, đồng chí Trần Văn Trà về sở Cuộctơnay (Cẩm Mỹ). Các đồng chí trong chi bộ Xuân Lộc cũng rút vào hoạt động bí mật ở các sở cao su An Lộc, Hàng Gòn, Túc Trưng. Phong trào đấu tranh của công nhân cao su ở các đồn điền trong tỉnh vẫn tiếp tục phát triển.

Ngày 29 tháng 12 năm 1940, hơn 2.000 công nhân cao su ở các sở Cam Tiêm (Ông Quế), Cuộc tơ nay (Cẩm Mỹ) tiến hành bãi công. Giữa năm 1941, ở sở Cuộc tơ nay, nhân vụ tên xu Lu đánh chết anh công nhân cạo mủ số 70 ở Láng Lớn, đã xuất hiện bài vè kêu gọi công nhân đoàn kết đứng lên đấu tranh

“Ớ  này anh em ta ơi! này anh em ta ơi!

Cớ sao ta phải buồn lo. Anh 70 chết không phải do xu Lu đánh, mà chẳng phải do ông trời.

Anh em ta cần suy xét ở đời... ở đời.         

Ớ  này anh em ta ơi! này anh em ta ơi!

Cớ sao ta phải buồn lo. Anh 70 chết không phải do xu Lu đánh, mà chẳng phải do ông trời. Xu Lu cũng chỉ nghe theo lời cái lũ, cái lũ chủ Tây. Anh em ơi hãy lẳng lặng mà nghe đây.

Vậy anh em chúng ta muốn hết lầm than.

Hãy đứng lên đoàn kết đập tan gông xiềng một phen xem nào”.

Bài hát nhanh chóng lan truyền khắp các phân sở của đồn điền. Tên chủ sở Bu Zu ra lệnh cấm không cho hát bài hát này. Nếu ai hát sẽ bị tù. Tàn nhẫn hơn, chúng còn cho bọn tay chân san bằng nấm mộ anh 70 và cấm công nhân không được hương khói. Quá căm tức, đêm rằm tháng 7 (tháng 9 - 1941), anh công nhân số 3388 vận động công nhân ở phân sở Láng Lớn tập trung ra ở nơi mộ anh 70 để tuyên truyền, vạch trần tội ác của bọn tư bản, thực dân và kêu gọi công nhân đứng lên đấu tranh.

Sáng ngày 10 tháng 9 năm 1941, hơn 500 công nhân sở Cuộctơnay đình công kéo xuống tỉnh Bà Rịa yêu cầu tỉnh trưởng người Pháp phải can thiệp buộc chủ sở chấm dứt đánh đập, hành hạ công nhân như súc vật trong khi chúng bắt trồng lại mấy lô cao su ở Nha Trào Láng Lớn. Khi đoàn công nhân vừa về đến Xà Bang thì bị lính Bà Rịa lên chặn lại theo yêu cầu của tên chủ sở Bu Zu, năm công nhân đi đầu bị lính đánh gục. Đoàn người quyết tiến tiếp tục khiêng 5 người bị thương đến dinh tỉnh trưởng Bà Rịa. Bọn lính dùng gậy gộc, bắng súng đánh thật tàn nhẫn, họ vẫn không lùi bước. Từng nhóm nhỏ công nhân lao tới đám lính hai tay đưa thẳng lên trời và thét lớn: “Đây các bạn cứ giết chúng tôi đi, các bạn hãy hãy giết những người chỉ đòi hỏi sự công bằng và yêu cầu chấm dứt đánh đập tàn nhẫn...”, “Đây các bạn lính người Việt Nam, các bạn cứ bắn chúng tôi đi, bắn những người lao động khổ sở nhất đời, những kẻ ruột thịt của các bạn...”.

Đoàn biểu tình càng khép chặt đội hình, đám lính cũng dịu dần, nhiều tên đã dạt qua một bên đường cho đoàn công nhân tiến tới. Dọc đường đến thị xã Bà Rịa, họ được công nhân các đồn điền cao su, nông dân các địa phương dọc hai bên đường mang cơm nước ủng hộ, tiếp sức.

Trước ý chí quyết tâm của công nhân, tỉnh trưởng Bà Rịa buộc phải đứng ra tiếp đại biểu công nhân và hứa can thiệp với chủ sở bồi thường thiệt hại cho công nhân, chấm dứt tình trạng đánh đập, cúp phạt, cấp đủ lương thực, thực phẩm, thuốc men cho số công nhân đang trồng các lô cao su mới.

Giữa tháng 11 năm 1941, hơn 600 công nhân tại hai phân sở A và B của đồn điền cao su Bình Lộc dưới sự lãnh đạo của các đảng viên đã bãi công đấu tranh với chủ sở đòi không được bắt công nhân ra sân điểm quá sớm, không được đánh đập, cúp phạt công nhân, đòi được phát gạo trắng, đòi tống cổ bọn cai, xu ác ôn, đòi trả công nhân mãn hạn về xứ. Chủ sở vờ hứa hẹn chấp nhận các yêu sách nhưng sau đó chúng cho mật thám điều tra lập danh sách những người vận động tổ chức và một tháng sau đích thân tên tỉnh trưởng Biên Hòa dẫn 20 lính Tây và lính khố đỏ vào sở Bình Lộc bắt 30 công nhân đưa đi tù.

Báo cáo của tên tỉnh trưởng Biên Hòa Rivierre (Ri - vi - e) ngày 4 tháng 2 năm 1942 về hai cuộc đấu tranh lớn của sở Cam Tiêm và Bình Lộc có ghi: “Tôi đã đến nơi xem xét và cho lính đàn áp”. Hắn xác nhận: "Những sự kiện này mang tính chính trị”. Và hắn đã bắt giam hàng trăm cu - li (1).

Phong trào đấu tranh của công nhân cao su nổ ra liên tục. Các cuộc đấu tranh không chỉ ở phạm vi trong một đồn điền mà có sự liên kết diễn ra cùng một lúc ở nhiều đồn điền với quy mô ngày càng lớn.

Từ năm 1941 đến năm 1943, là thời kỳ khó khăn cho hoạt động của Đảng ở Nam kỳ. Xứ ủy và cả Liên Tỉnh ủy bị phá vỡ và lập đi lập lại nhiều lần. Phần lớn cán bộ đảng viên bị địch giết hại hoặc bị bắt cầm tù. Số còn lại phải chuyển vùng, lánh về các vùng nông thôn, các đồn điền cao su để ẩn náu, tạo dựng cơ sở, tạo bàn đạp đứng chân để khôi phục phong trào cách mạng. Tháng 3 năm 1941, được sự giúp đỡ của đồng bào Ch’ro, Mạ ở Biên Hòa, các đồng chí Trần Văn Giàu, Dương Quang Đông, Tô Ký, Châu Văn Giác, Trương Văn Nhâm, Nguyễn Công Trung, kỹ sư Văn... tổ chức vượt ngục Tà Lài về lại Sài Gòn hoạt động. Do địch bố ráp căng thẳng nên mối liên lạc từ bên trên xuống các tỉnh và giữa các địa phương hầu như bị cắt đứt. Tuy vậy, số cán bộ, đảng viên còn lại vẫn chủ động công tác, kiên trì vận động cách mạng, củng cố tổ chức và từng bước khôi phục phong trào.

Cuối năm 1942, cuộc chiến tranh thế giới chuyển sang cục diện mới, quân đội Liên Xô giành nhiều thắng lợi và tiến hành phản công trên khắp các mặt trận. Ở Đông Dương, phát xít Nhật ngày càng lấn tới, nắm quyền kiểm soát hầu hết các đầu mối quân sự, kinh tế quan trọng từ tay thực dân Pháp. Bọn thực dân Pháp ở thuộc địa phân thành hai phái: phái Pétain (Pê - Tanh) và phái De Gaull (Đờ - Gôn) (1) ngấm ngầm chống đối lẫn nhau. Tình hình đó đã tác động đến phong trào cách mạng ở Việt Nam nói chung và Biên Hòa nói riêng.

Ở Biên Hòa một số đảng viên từ các nơi lần lượt trở về hoạt động. Một số đồng chí ở các tỉnh khác mãn hạn tù được thực dân Pháp đưa về đây quản thúc. Mặc dù bị địch quản thúc, khủng bố gắt gao nhưng các đồng chí vẫn tìm mọi cách liên lạc với tổ chức, vận động cách mạng.

Đầu năm 1943, từ đề - pô xe lửa Dĩ An, đồng chí Đặng Nguyên về Tân Mai sinh sống. Đồng chí Hồ Hòa cũng từ đồn điền cao su Xuân Lộc về làm thợ máy ở xưởng cưa BIF, cùng với một số đảng viên ở đây thành lập chi bộ Đảng nhà máy cưa gồm 5 đồng chí do dồng chí Đặng Nguyên làm bí thư. Chi bộ Đảng liên ấp Tân Mai, Lân Thành, Vĩnh Thị (xã Bình Trước quận Châu Thành, Biên Hòa) cũng được tổ chức do đồng chí Nguyễn Văn Ký (Ba Ký phụ trách). Tại ga xe lửa Biên Hòa, cơ sở Đảng cũng được tổ chức trở lại, do đồng chí Ngô Văn Tư làm bí thư. Ở sở củi Trảng Bom, đồng chí Lê Nguyên Đạt dưới danh nghĩa là đốc công sở, tuyên truyền vận động kết nạp được một số công nhân tích cực, giác ngộ vào Đảng và hình thành được một chi bộ do đồng chí trực tiếp làm bí thư.

Năm 1943, Ban cán sự Đảng Liên tỉnh miền Đông đã cử một số cán bộ về hoạt động, phát triển mạng lưới cơ sở Đảng ở vùng cao su huyện Long Thành trong đó có đồng chí Trịnh Văn Dục. Cuối năm 1944, đồng chí tổ chức quận bộ Việt Minh đầu tiên ở quận Long Thành, xây dựng được cơ sở Việt Minh ở nhiều xã trong huyện, lập được cơ sở Đảng ở đồn điền cao su Bình Sơn do đồng chí Vũ Hồng Phô (Vũ Khánh) làm bí thư. Từ giữa năm 1943, các đồng chí Phạm Văn Búng, Nguyễn Văn Nghĩa, Phạm Văn Khoai, Lê Thái, Hồ Văn Giàu, Nguyễn Văn Ký, Phạm Văn Thuận, Huỳnh Văn Lũy, Hồ Văn Đại, Quách Sanh, Ngô Hà Thành... móc nối liên lạc với nhau, bước đầu hình thành các nhóm, các tổ chức Việt Minh ở một số địa phương trong tỉnh đặc biệt tập trung là khu vực xã Bình Trước (quận Châu Thành, Biên Hòa).

Xứ ủy cử đồng chí Hoàng Minh Châu về lại Biên Hòa hoạt động. Đồng chí vào làm việc ở sở Trường Tiền (Ty kiều lộ Biên Hòa) kết nạp được 5 đảng viên thành lập chi bộ, lấy tên là chi bộ Trường Tiền.

Năm 1944, phong trào cách mạng ở Biên Hòa từng bước phục hồi và phát triển, khí thế cách mạng của quần chúng nhân dân được khơi dậy ngày càng mạnh mẽ. Thực lực cách mạng lớn mạnh nhanh chóng, tạo được cơ sở vững chắc để nhân dân Biên Hòa cùng với cả nước nhất tề đứng dậy khởi nghĩa giành chính quyền.

p p p

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, phát xít Nhật đảo chánh thực dân Pháp để độc chiếm Đông Dương. Ở Biên Hòa ngay ngày 10 tháng 3 năm 1945, bộ máy thống trị của thực dân Pháp từ tỉnh đến quận lọt vào tay phát xít Nhật. Chúng đưa đốc phủ xứ Nguyễn Văn Quý thay tên Ri - vi - e làm tỉnh trưởng, đưa tên cò Phước làm chỉ huy trưởng cảnh sát tỉnh Biên Hòa. Các tổ chức, đảng phái thân Nhật như Thanh niên Ái quốc đoàn, Thanh niên Bảo quốc đoàn... đẩy mạnh các hoạt động nhằm lừa bịp nhân dân, đề cao nền độc lập giả hiệu.

Tuy nhiên, thực tế đã minh chứng cho bộ mặt thật tàn bạo của bè lũ phát xít Nhật. Chúng tiếp tục vơ vét sức người sức của với những thủ đoạn và hành động tàn bạo gấp hàng chục lần trước đó. Chúng mổ bụng moi gan giết hại hàng trăm người yêu nước. Cuộc sống của người dân Biên Hòa ngày càng khốn đốn. Các tầng lớp nhân dân đều kinh tởm và căm hờn chúng cực độ. Họ bị dồn vào bước đường cùng và nóng lòng muốn đứng lên đánh đổ bọn đế quốc phát xít xâm lược, giành lấy độc lập tự do cho dân tộc, giành quyền sống cho chính bản thân mình.

Ngay trong đêm Nhật đảo chính Pháp, 9 tháng 3 năm 1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị mở rộng tại Đình Bảng tỉnh Bắc Ninh. Hội nghị quyết định nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng, toàn dân lúc này là phát động phong trào chống Nhật cứu nước, đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc.

Ở Biên Hòa, sau ngày Nhật đảo chính Pháp, nhiều đảng viên cộng sản tiếp tục về đây móc nối hoạt động. Số lượng cán bộ đảng viên tăng nhanh. Phần lớn là các đồng chí có năng lực lãnh đạo và tổ chức thực hiện, có uy tín với quần chúng nhân dân. Các nhóm cộng sản, các chi bộ Đảng ở Biên Hòa liên lạc, kết hợp với nhau ra sức phát triển tổ chức, mở rộng cơ sở ráo riết chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Tháng 5 năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Nam kỳ, tổ chức Thanh niên Tiền phong được thành lập tại Sài Gòn do bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, đảng viên Đảng Cộng sản làm thủ lĩnh. Trong vòng hai tháng vận động và tổ chức, lực lượng Thanh niên Tiền phong đã phát triển nhanh chóng hầu hết các tỉnh Nam kỳ, thu hút hàng triệu người yêu nước tham gia.

Thanh niên Tiền phong Biên Hòa được thành lập do Huỳnh Thiện Nghệ - một thầy giáo dạy môn thể dục thể thao làm thủ lĩnh. Chỉ sau một thời gian ngắn, phong trào phát triển và lan rộng ra các quận, các nhà máy, các đồn điền cao su trong tỉnh. Xứ ủy chỉ đạo kịp thời nắm tổ chức này, lãnh đạo các đội đoàn Thanh niên Tiền phong, biến thành đội quân chính trị của cách mạng. Khắp nơi trong tỉnh khí thế cách mạng sục sôi. Đoàn viên Thanh niên Tiền phong với gậy tầm vông vót nhọn và cuộn dây thừng ngang lưng hăng hái luyện tập đội ngũ bảo vệ, tuần tra canh gác nhà máy, xóm ấp. Đêm đêm, ở các đình làng, nhà hội trở thành nơi tập trung của hàng chục, hàng trăm nam nữ thanh niên với đủ các loại đèn đuốc sáng trưng. Tiếng hô một, hai nhịp nhàng hòa với tiếng hát, lời ca cách mạng vang động khắp nơi.

Tháng 5 năm 1945, Liên Tỉnh ủy miền Đông tổ chức họp tại ấp Vĩnh Cửu xã Tam Hiệp - quận Châu Thành, Biên Hòa, phổ biến chủ trương của Trung ương Đảng về tình hình và nhiệm vụ mới, trọng tâm là vấn đề chuẩn bị lực lượng để tham gia cuộc tổng khởi nghĩa trên phạm vi toàn quốc. Tiếp đó, tháng 7 năm 1945, tại chùa Tân Mai, đồng chí Hà Huy Giáp, đại diện Xứ ủy Nam kỳ họp với các đồng chí Hoàng Minh Châu, Huỳnh Văn Hớn, Phạm Văn Búng, Đặng Nguyên, Lê Nguyên Đạt... phổ biến chủ trương của Xứ ủy là gấp rút xây dựng, phát triển lực lượng cách mạng cả lực lượng chính trị và võ trang, tích cực chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Đây là cuộc họp quan trọng, là cơ sở để đoàn kết các đồng chí đảng viên cộng sản trong các nhóm khác nhau, tạo ra sự thống nhất hành động trước thời cơ mới. Hội nghị nhấn mạnh việc khẩn trương phát triển các tổ chức đoàn thể Việt Minh, nắm chắc lực lượng Thanh niên Tiền phong trong tỉnh, xây dựng lực lượng vũ trang, mua sắm vũ khí trang bị cho số cán bộ cốt cán, tập trung vận động nhân dân chống phát xít Nhật và bọn phản động, vạch trần bộ mặt giả hiệu của chính phủ Trần Trọng Kim và bè lũ tay sai.        

Sau hội nghị, các đảng viên ở Biên Hòa nhanh chóng kiện toàn các tổ chức đoàn thể cứu quốc, nắm và lãnh đạo chặt chẽ lực lượng Thanh niên Tiền phong thông qua các đoàn trưởng, tráng trưởng, đội trưởng và toán trưởng ở các cơ sở địa phương trong tỉnh đặc biệt là trung tâm quận Châu Thành, Biên Hòa.

Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng quân Đồng minh vô điều kiện. Tin Nhật đầu hàng đồng minh lan truyền nhanh chóng. Bọn sĩ quan và binh lính Nhật ở Biên Hòa hoang mang rệu rã. Chúng án binh bất động ở các địa điểm đóng quân. Chính quyền bù nhìn của giặc Nhật ở Biên Hòa cũng hoàn toàn tê liệt. Một số tên tay sai có nợ máu với nhân dân tìm đường bỏ trốn. Một số viên chức nhỏ nằm im hoặc ngã theo cách mạng tham gia lực lượng Thanh niên Tiền phong.

Ngọn lửa cách mạng bùng lên mạnh mẽ. Bầu không khí tiền khởi nghĩa sôi động khắp thành thị và nông thôn trong cả nước. Ngày cũng như đêm trên khắp các nẻo đường, xóm ấp ở Biên Hòa rộn rã tiếng hát, lời ca cách mạng giục giã lòng người bừng bừng khí thế vùng dậy đấu tranh để cởi bỏ gông xiềng nô lệ. Giữa lúc đó, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã ra lời kêu gọi đồng bào toàn quốc: “... hiện nay quân đội Nhật đã tan rã, phong trào cứu quốc lan tràn khắp nơi... Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy dứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta...”.

Ngày 19 tháng 8 năm 1945, cuộc khởi nghĩa giành được thắng lợi rực rỡ ở thủ đô Hà Nội. Từ ngày 16 tháng 8 năm 1945, Xứ ủy Nam kỳ họp Hội nghị tại Chợ Đệm do đồng chí Trần Văn Giàu chủ trì phổ biến kế hoạch tổng khởi nghĩa ở Nam bộ. Hội nghị quyết định đưa Việt Minh ra công khai, tổ chức khởi nghĩa thí điểm tại Tân An vào ngày 23 tháng 8 năm 1945 và bàn những công việc cấp bách sau khi giành chính quyền. Ngày 21 tháng 8 năm 1945, lần đầu tiên cờ đỏ sao vàng phất phới tung bay giữa lòng thành phố Sài Gòn và ngày 23 tháng 8 năm 1945, cuộc khởi nghĩa ở Tân An thắng lợi trước sự bất lực hoàn toàn của quân Nhật.



(1) Văn kiện Đảng, tập 3, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương xuất bản - Hà Nội 1977, trang 26

(1) Tài liệu lưu trữ tại nhà truyền thống Công ty cao su Đồng Nai.

(1) Phái Pétain: Phái đầu hàng, làm tay sai cho phát xít.

Phái De Gaull: Phái kháng chiến chống phát xít.

Comments