2.1. Thống nhất lực lượng vũ trang, bước đầu hình thành ba hình thức tổ chức vũ trang

II.1. Thống nhất lực lượng vũ trang, bước đầu hình thành ba hình thức tổ chức vũ trang:

          Sau Cách mạng tháng Tám 1945, đặc biệt sau hội nghị Bình Trước, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Biên Hòa đặt vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang thành nhiệm vụ trung tâm của tỉnh.

          Trên địa bàn Biên Hòa có nhiều tổ chức vũ trang yêu nước gồm:

          - Vệ Quốc đoàn quận Châu Thành: Lực lượng gồm 5 tiểu đội, trang bị 30 khẩu súng. Đơn vị đứng chân huấn luyện tại Thường Lang hữu ngạn sông Đồng Nai.

          - Vệ Quốc đoàn quận Long Thành: Thành lập tháng 9 năm 1945, quân số 120 người, tổ chức thành 3 phân đội (mỗi phân đội tương đương trung đội), vũ khí chỉ có 8 khẩu súng trường, còn lại là giáo mác, gậy tầm vông… Đến tháng 10 năm 1945, lực lượng phát triển thành 4 phân đội ([1][4]).

          - Vệ Quốc đoàn Biên Hòa:

          Khi mặt trận Sài Gòn diễn ra quyết liệt, Ủy ban kháng chiến miền Đông rút về Biên Hòa, đóng tại ngã ba Dốc Sỏi. Ngày 22 tháng 10 năm 1945, Lương Văn Tương - người chỉ huy Ủy ban kháng chiến miền Đông rút chạy. Huỳnh Văn Nghệ cùng khoảng 40 tay súng ([2][5]) đã rút về Tân Hòa, Tân Tịch, Mỹ Lộc, Đất Cuốc huyện Tân Uyên để xây dựng căn cứ kháng chiến lâu dài, thu hút nhiều thanh niên địa phương, công nhân cao su Phước Hòa và các lực lượng du kích trước đây đến gia nhập. Đơn vị tổ chức thành 4 phân đội ([3][6]) do Huỳnh Văn Nghệ chỉ huy.

          Vệ Quốc đoàn Biên Hòa, Vệ Quốc đoàn quận Châu Thành, Vệ Quốc đoàn Long Thành là 3 lực lượng mạnh, chủ yếu ở tỉnh Biên Hòa. Quá trình vận động thống nhất các lực lượng vũ trang này diễn ra từ tháng 12 năm 1945 nhưng không thành công vì thiếu sự lãnh đạo thống nhất.

          Cuối tháng 4 năm 1946, đồng chí Nguyễn Đức Thuận thay mặt Khu ủy khu 7 triệu tập hội nghị cán bộ toàn tỉnh Biên Hòa tại cù lao Vịt (Bình Hòa). Tỉnh ủy Biên Hòa được chỉ định thành lập do Nguyễn Văn Ký bí thư, công tác Đảng lãnh đạo võ trang được đặt ra. Huỳnh Văn Nghệ, chỉ huy Vệ Quốc đoàn Biên Hòa, được cử làm Ủy viên Ủy ban phụ trách quân sự tỉnh. Đây là cơ sở thuận lợi cho việc thống nhất lực lượng vũ trang tỉnh Biên Hòa.

          Tháng 5 năm 1946, Hội nghị quân sự tỉnh Biên Hòa được tổ chức tại chiến khu Đ. Hội nghị quyết định thống nhất lực lượng vũ trang tỉnh, Vệ Quốc đoàn quận Châu Thành sát nhập với Vệ Quốc đoàn Biên Hòa do Huỳnh Văn Nghệ làm chỉ huy trưởng. Vệ Quốc đoàn Biên Hòa có sáng kiến tổ chức các “quận quân sự”. Mỗi “quận quân sự” phụ trách một số xã có từ 1 đến 2 tiểu đội vũ trang làm nòng cốt phát triển du kích xã, tiếp tế, chuẩn bị địa bàn cho Vệ Quốc đoàn Biên Hòa hoạt động. Cùng lúc ban chỉ huy thành lập 9 quận quân sự ([4][7]).

          Các quận quân sự ra đời góp phần đẩy mạnh hoạt động vũ trang trên địa bàn tỉnh. Trong lúc đó, do thiếu liên lạc, Vệ Quốc đoàn quận Long Thành vẫn còn hoạt động riêng lẻ.

          Tháng 6 năm 1946, Khu 7 mở hội nghị quân sự toàn Khu tại Đông Thành bàn vấn đề thống nhất tổ chức vũ trang toàn khu - Nghị quyết hội nghị có hai điểm chính:

          - Ở mỗi tỉnh, lực lượng vũ trang thống nhất lại và tổ chức thành chi đội.

          Chi đội ở tỉnh nào làm nhiệm vụ địa phương quân bảo vệ chính quyền và nhân dân tỉnh đó.

          Thực hiện Nghị quyết quân sự khu, Vệ Quốc đoàn Biên Hòa sáp nhập thêm Vệ Quốc đoàn Long Thành tổ chức thành Chi đội 10. Ban chỉ huy chi đội gồm: Huỳnh Văn Nghệ chi đội trưởng; Nguyễn Văn Lung chi đội phó, Phan Đình Công chính trị viên.

          Ban chỉ huy thành lập các tiểu ban: quân nhu, quân trang, quân y, tiểu ban sản xuất tự túc, binh công xưởng, kho vũ khí chi quân báo để phục vụ các yêu cầu chiến đấu, sinh hoạt của chi đội.

          Quân số chi đội 10 trên 2.000 người tổ chức thành 3 đại đội ([5][8]).

          Khi chính quyền cơ sở trong tỉnh đã phát triển tương đối mạnh, Ban chỉ huy chi đội quyết định chuyển các quận quân sự thành các ban công tác liên thôn (tức Ban chỉ huy quân sự liên thôn) chỉ hoạt động quân sự. Ngoài 9 ban công tác liên thôn từ 9 quận quân sự chuyển sang ban chỉ huy thành lập thêm một số ban mới ([6][9]).

          Chi đội xây dựng một quân y viện, các đại đội đều có trạm xá, trung đội có y tá, phân đội có cứu thương vừa làm nhiệm vụ cứu chữa cho bộ đội, điều trị bệnh cho nhân dân khu vực đóng quân.

          Việc thành lập chi đội 10 Biên Hòa đánh dấu sự thống nhất lãnh đạo, chỉ huy lực lượng vũ trang trong tỉnh. Đồng thời, với việc thành lập các ban công tác liên thôn (có du kích tập trung), các đội du lích xã, đến cuối năm 1946, Biên Hòa là địa phương sớm hình thành 3 loại hình tổ chức lực lượng vũ trang, đảm bảo đứng chân chiến đấu trên các địa bàn đạt kết quả cao.



([1][4]) Phân đội 1 do Nguyễn Văn Toàn – phân đội trưởng.

Phân đội 2 do Võ Minh Như – phân đội trưởng.

Phân đội 3 do Nguyễn Văn Mỹ - phân đội trưởng.

Phân đội 4 do Dương Ngọc Thạch – phân đội trưởng.

([2][5]) Trong đó các anh Đỗ Ngọc Lạn, Đào Văn Quang, Nguyễn Văn Phúc, Nguyễn Hy Vọng… sau là cán bộ nòng cốt của chi đội 10 Biên Hòa.

([3][6]) Phân đội 1: Trần Ngọc Ngộ - Phân đội trưởng, hoạt động ở các xã Lạc An, Tân Tịch, Mỹ Lộc, Tân Hóa.

Phân đội 2: Nguyễn Văn Lắm – Phân đội trưởng, hoạt động ở các xã Tân Ba, Bình Chánh, Thái Hòa, Phước Thành.

Phân đội 3: Trần Quang Khải – Phân đội trưởng, hoạt động ở các xã Tân Dân, Bình Hòa, Tân Mỹ.

Phân đội 4: Nguyễn Chức Sắc – Phân đội trưởng, hoạt động ở Đồng Lách, các xã Đại An, Tân Định…

Sau này có thêm phân đội 5 còn gọi là phân đội “Quốc tế” do Lê Thoa chỉ huy gồm 20 lính Nhật, 6 lính Đức, 10 lính Việt.

([4][7]) 1- Quận quân sự 1 do Trừ Sùng Thới phụ trách gồm các xã Tân Hòa, Tân Tịch, Mỹ Lộc, Lạc An, Thường Lang quận Tân Uyên.

2- Quận quân sự 2 do Phan Văn Anh phụ trách gồm các xã Bình Hòa, Bình Chánh, Tân Dân, Mỹ Quới, Tân Ba, Phước Thành, Bình Mỹ quận Tân Uyên.

3- Quận quân sự 3 do Lê Ngọc Có phụ trách gồm các xã Bình Long, Lợi Hòa, Cây Đào quận Tân Uyên.

4- Quận quân sự 4 do Trần Văn Xã phụ trách gồm các xã Bình Hòa, Tân Mai, Tân Phong, quận Châu Thành.

5- Quận quân sự 5 do Châu Ngọc Đức phụ trách gồm các xã Tân Hạnh, Hóa An, Tân Vạn, Bình Trị quận Châu Thành.

6- Quận quân sự 6 do Hòang Tam Kỳ phụ trách gồm các ấp Bình Đa, ấp Vĩnh Cửu xã Tam Hiệp, xã Hiệp Hòa quận Châu Thành.

7- Quận quân sự 7 do Đỗ Bồng Long phụ trách gồm các xã Phước Hòa, Phước Vĩnh, Phước Sang, An Linh quận Tân Uyên.

8- Quận quân sự 8 do Đỗ Thanh Tùng phụ trách hoạt động từ đồn điền cao su Cây Gáo lên đường 20 từ ngã ba Dầu Giây đến Định Quán thuộc quận Xuân Lộc.

9- Quận quân sự 9 do Nguyễn Ước phụ trách, hoạt động từ bắc đường 20 xuống liên tỉnh lộ 2 quận Xuân Lộc.

([5][8]) - Đại đội A do Võ Tinh Quân đại đội trưởng gồm 3 trung đội 1, 2, 3 địa bàn tác chiến quận Tân Uyên và bảo vệ chiến khu Đ (hữu ngạn sông Đồng Nai).

- Đại đội B do Lê Văn Ngọc đại đội trưởng gồm 3 trung đội 4, 5, 6, hoạt động ở tả ngạn sông Đồng Nai thuộc quận Xuân Lộc và Châu Thành.

- Đại đội C do Lương Văn Nho đại đội trưởng gồm hai trung đội 7 và 8 hoạt động ở quận Long Thành.

Chi đội đã chi viện trung đội đủ vũ khí để góp phần xây dựng lực lượng vũ trang Sài Gòn - Chợ Lớn và 1 trung đội để xây dựng liên quân 17 của khu.

Vũ khí trang bị của chi đội gồm: 800 súng trường, 40 tiểu liên, 16 trung liên, 6 đại liên, 2 súng cối 60 ly, 1 cối 81 ly, 1 súng chống tăng Piát.

([6][9]) – Ban công tác liên thôn 10 do Đỗ Duy Trí trưởng ban phụ trách các xã vùng đất đỏ thuộc quận Long Thành và khu vực Trảng Bom, Bàu Cá quận Xuân Lộc.

- Ban công tác liên thôn 11 do Nguyễn Văn Xuất trưởng ban phụ trách các xã An Lợi, Tam An, Tam Phước Phước Tân, Phước Nguyên thuộc quận Long Thành.

- Ban công tác liên thôn 12 do Phạm Tự Do trưởng ban phụ trách các xã Long Tân, Phú Hội, Phước Thiền… thuộc quận Long Thành.

- Ban công tác liên thôn 13 do Nguyễn Văn Lịch trưởng ban phụ trách các xã Phước Lý, Phước Khánh, Phú Hữu thuộc quận Long Thành.

- Ban công tác liên thôn 14 do Nguyễn Trọng Tưởng trưởng ban phụ trách các xã Phước Kiểng, Phước Long, Phước Lai, Phước Thọ, Phước An thuộc quận Long Thành.

Comments