2.2. Công nhân cao su với “Mặt trận cao su chiến”

II.2 Công nhân cao su với “Mặt trận cao su chiến”:

          Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, phong trào công nhân ở các đồn điền cao su tỉnh Biên Hòa phát triển khá mạnh.

          Khi thực dân Pháp mở rộng lấn chiếm các tỉnh miền Đông (từ cuối tháng 10 năm 1945), các đồn điền An Lộc, Dầu Giây, Bình Sơn… ở Biên Hòa đều tổ chức được trung đội tự vệ chiến đấu do cán bộ Việt Minh huấn luyện sẵn sàng chặn địch. Công nhân đồn điền Túc Trưng đốn cây lăn ra mặt đường trên đoạn đường dài từ Dầu Giây lên cầu La Ngà (quốc lộ 20), tự vệ Kinh, Thượng chuẩn bị chai xăng, cung ná, tên tẩm thuốc độc phục sẵn bên đường để chặn giặc. Công nhân các sở khuân vác, tháo gỡ các thiết bị máy tiện, khoan, máy cán mũ, sắt, thép, hóa chất… ra rừng, làm cơ sở để xây dựng các binh công xưởng.

          Tại Biên Hòa, cuối năm 1945, hướng quốc lộ 1 và 20, tự vệ công nhân các đồn điền Trảng Bom, Dầu Giây, Suối Tre, An Lộc, Bình Lộc, Túc Trưng liên tục chặn đánh địch mở rộng lấn chiếm. Khi tư bản thực dân trở lại, các đồn điền cao su ở Biên Hòa đều bị phá hoại nghiêm trọng. Hầu hết công nhân rút ra vùng căn cứ tham gia kháng chiến (như Định Quán, Võ Đắc, Bảo Chánh, Bàu Lâm, Phước An).

          Chiếm lại các đồn điền cao su, tại mỗi sở thực dân Pháp đóng một chi khu, lực lượng thường xuyên khoảng 2 đại đội để càn quét, gom công nhân, bảo vệ chủ đồn điền, vườn cây, hỗ trợ đắc lực cho việc khai thác. Giữa năm 1946, tư bản Pháp bắt đầu mở cửa đồn điền để khai thác cao su.

          Sau Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, Tổng công đoàn Nam bộ chỉ đạo xây dựng rộng rãi tổ chức công đoàn để vận động công nhân tham gia kháng chiến. Tại Biên Hòa, giữa năm 1946, công đoàn cơ sở vùng đồn điền được xây dựng với 4.000 hội viên. Hàng loạt công nhân thoát ly tham gia Vệ Quốc đoàn ([1][10]).

          Một trung đội dân quân được liên đoàn giao nhiệm vụ phá hoại cao su, đánh vào kinh tế của thực dân Pháp ở Biên Hòa, mở đợt hoạt động “biến đồn điền thành chiến trường diệt địch” và “phá hoại kinh tế địch”. Hàng loạt cuộc đấu tranh của công nhân cao su Biên Hòa nổ ra vào các dịp lễ 1 – 5, 19 – 5, 14 – 7 – 1947 ở Suối Tre, Cốc Rang, Dầu Giây bằng hình thức đình công, lãn công, giấu dụng cụ cạo mủ, đòi nghỉ ngày Quốc tế lao động, đòi tăng lương. Ngày 14 – 7- 1947 (quốc khánh nước Pháp), thợ chuyên môn ở các xưởng, phòng giấy đồn điền Bình Lộc, An Lộc, Dầu Giây gài chất nổ ở các nhà máy đèn, máy nước, kho dầu, kho mủ, phá hủy một lượng thiết bị, sản phẩm, bỏ sở ra khu kháng chiến.

          Thực dân đàn áp, bắn giết công nhân rất dã man, nhưng không ngăn được lòng yêu nước, phong trào nam nữ thanh niên theo cách mạng tòng quân giết giặc và phá hoại cao su của công nhân. Ngoài hoạt động của đội chuyên trách Liên đoàn, công nhân ở các đồn điền tham gia phá hoại bằng nhiều hình thức như vạt vỏ, chặt cây, đổ mủ nước, chôn mủ bèo, đập chén, tháo kiềng, đốt mủ thành phẩm, đốt lò xông… Chỉ riêng ngày 19 – 5 – 1947, công nhân cao su Biên Hòa chặt phá 300.000 cây cao su ([2][11]).

          Hoạt động của công nhân cao su Biên Hòa góp phần thu hẹp diện tích khai thác cao su và sản lượng mủ của tư bản đồn điền như lời thú nhận của giới chủ đồn điền Nam bộ với tướng Revers khi y sang Đông Dương: “sức sản xuất cao su của chúng tôi hiện giờ đã mất hẳn 2/3 do công nhân phá phách và bỏ đồn điền trốn đi. Mối nguy cơ này còn có thể to hơn nữa”.

          Sau thất bại ở Việt Bắc (1947, từ năm 1948, thực dân Pháp chuyển sang chiếm đóng và bình định Nam bộ, trong đó vùng đồn điền cao su là một trọng điểm. Viên đại tá Si – mon chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở miền Đông Nam bộ phát biểu trong hội nghị các nhà trồng tỉa ở Long Thành (năm 1949): “Tăng cường chiến xa, quân số và đồn bót khắp các đồn điền cao su để bố trí càng thêm vững chắc hầu ngăn chặn công nhân bỏ trốn, đàn áp phong trào đấu tranh của công nhân để tăng cường sản xuất cao su nhiều hơn nữa”.

          Pháp điều sư đoàn Lê dương thứ 2 về Xuân Lộc, càn quét ác liệt vùng cao su và vùng rẫy với phương châm “đốt sạch, phá sạch” hoa màu, cây trái, nhà cửa công nhân ở ngoài khu chúng kiểm soát để triệt phá kinh tế kháng chiến. Đại tá Si – mon ra lệnh cho binh lính bên dưới: “tụi thợ mủ không đứa nào là không dính với Việt Minh, vì vậy, cứ bắn càng nhiều càng tốt”. Chỉ riêng đồn điền cao su An Lộc khoảng 2.400 công nhân, địch bố trí đến một tiểu đoàn bảo đảm an ninh, một trung đội cơ giới để kìm kẹp. Làng công nhân cao su trở thành nhà tù, có đồn binh và những lớp rào tre nhọn bao bọc, công nhân ra vào bị kiểm soát nghiêm ngặt. Địch càng khủng bố, phong trào công nhân cao su ở Biên Hòa vẫn không giảm sút, mà chuyển thành những hình thức đấu tranh chính trị khéo léo hơn. Từ giữa năm 1948, ngoài đội dân quân chuyên phá cao su của Liên đoàn cao su, tất cả các lực lượng vũ trang, chiến đấu trên địa bàn tỉnh đều tổ chức đội đặc nhiệm phá cao su để đẩy mạnh công tác phá hoại kinh tế của địch.

          Công nhân cao su tỉnh Biên Hòa còn là lực lượng tích cực xây dựng các vùng căn cứ kháng chiến. 2.000 công nhân cao su huyện Xuân Lộc được đưa về chiến khu Đ ở khu vực Hàng Dài, lập thành xã Cộng hòa. 2.000 công nhân khác về xã Long An, Long Thành; 800 công nhân về Bàu Lâm xây dựng căn cứ Xuyên Phước Cơ Bà Rịa). Hàng trăm công nhân Bình Lộc về Võ Đắc lập xã Tứ Hiệp, việc xây dựng làng xã và cuộc sống mới của công nhân cao su ở các vùng căn cứ kháng chiến vừa góp phần xây dựng hậu phương cách mạng, vừa cỗ vũ phong trào công nhân các đồn điền do địch kiểm soát.

          Cuối năm 1949, trên cơ sở xác định cao su là tài nguyên đất nước, Lê Duẩn – bí thư Xứ ủy Nam bộ chỉ thị các Liên đoàn cao su thay đổi phương thức phá hoại cây cao su. Từ nay trọng tâm phá hoại cây cao su là nhằm làm giảm tốc độ sản xuất, giảm mức thu hoạch thành phẩm và lợi nhuận thu được của tư bản Pháp. Theo phương hướng này, trong 6 tháng đầu năm 1950, công nhân đồn điền An Lộc, Bình Lộc đốt cháy 2.100 tấn mủ trong nhà kho, phá hủy 6 xe cam nhông, gây thiệt hại trên 2.000 đồng. Trong ngày 19 – 5 – 1950, công nhân đồn điền Trảng Bom thiêu hủy nhà xông mủ lớn nhất của công ty cao su Đồng Nai (LCD) đốt 34.200 kg mủ, 28 xe, giá trị tổng cộng trên 600.000 đồng.

          Tháng 5 năm 1951, tỉnh Biên Hòa, tỉnh Thủ Dầu Một sáp nhập thành tỉnh Thủ Biên. Nhằm đẩy mạnh công tác xây dựng, khôi phục phát triển cơ sở trong công nhân và vùng đồng bào dân tộc, tỉnh thành lập hai đội vũ trang tuyên truyền Xuân Lộc và Trảng Bom. Thành phần đội gồm có bộ đội, công an, cán bộ mặt trận, đoàn thể cứu quốc. Cả hai đội tổ chức nhiều đoàn xâm nhập vào các đồn điền móc nối cơ sở cũ, khôi phục cơ sở, tạo địa bàn để lực lượng vũ trang tiến công địch; phát triển phong trào chống bắt lính trong công nhân; phục vụ các trận tấn công địch.

          Cuối năm 1953, đầu năm 1954, tổ chức công đoàn, tổ chức Đảng ở các đồn điền Biên Hòa, Xuân Lộc được khôi phục, làm cơ sở quan trọng cho cuộc chiến đấu chống Mỹ, ngụy sau khi có Hiệp định Genève tháng 7 – 1954.



([1][10]) Báo cáo Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam tại hội nghị công đoàn toàn quốc lần I (1 – 1950), trong số 55.000 công nhân cao su Nam bộ, có 34 ngàn người tham gia kháng chiến, trong đó có 10.000 thanh niên công nhân gia nhập bộ đội miền Đông Nam bộ - dẫn trong lịch sử phong trào công nhân cao su Việt Nam – Nhà xuất bản trẻ 1992, trang 155.

([2][11]) Bảng thành tích phá hoại kinh tế địch của công nhân cao su Biên Hòa cho thấy:

 

Đồn điền

Chặt vát vỏ cây (tính ha)

Phá hoại các tài sản khác

An Lộc

54

- một phần nhà máy, 1 máy bơm, một kho chứa hàng trị giá 25.000 đồng, thu 5 súng, 299 đạn, 20 bao gạo, 100 kg cá khô.

Cuộctơnay

30 (bôi axit) và vạt vỏ 28

- 12.000 chén, máng hứng mủ cao su, lấy 1 súng 50 đạn.

Guy Giơ – nê

180

- 92.248 chén máng hứng mủ cao cu.

Bình Lộc

 

- 19.700 chén máng hứng mủ, 1 máy đèn, 1 máng nước, 1 xe traction, 1 cân khoan, một kho chứa hàng trị giá 60.000 đồng, lấy 2 máy đánh chữ.

Ông Quế

 

- nhiều dụng cụ nhà máy

Xuân Lộc

70

- 28.000 chén máng hứng mủ.

Phú Hội

992

- 122.000 chén máng hứng mủ.

Toàn tỉnh

117

- 47.000 chén máng hứng mủ, 5 máy đèn, 2 kho hàng, 20 kho gỗ, 1 máy cán mủ, 4 nhà lầu, 7 máy bơm, 1 kho dầu, 6 nhà xây, 12 xe cam nhông, 3 wagon, 329 tấn mủ.

Trảng Bom

 

- 2 nhà xây.

Sở P.B.C

936

- 440.000 chén máng hứng mủ.

 

Comments