2.4. Căn cứ địa cách mạng

II.4. Căn cứ địa cách mạng:

          Ngày 22 tháng 10 năm 1945, trước khi thực dân Pháp đánh chiếm tỉnh lỵ Biên Hòa, Ủy ban kháng chiến miền Đông cùng đại bộ phận lực lượng vũ trang rút về Xuân lộc rồi Phan Thiết. Riêng ông Huỳnh Văn Nghệ bấy giờ là Ủy viên Ủy ban kháng chiến miền Đông đã lãnh đạo khoảng 40 người rút về Tân Tịch, Đất Cuốc – xây dựng căn cứ và lực lượng kháng chiến chống thực dân.

           Tân Uyên - một quận của tỉnh Biên Hòa (xưa), ngoài thị trấn ra, địa bàn còn lại ở các xã hầu hết là rừng rậm, hướng bắc, đông bắc, đông nam và nam có sông Bé và sông Đồng Nai bao bọc, cách tỉnh lỵ Biên Hòa chỉ hơn 8 km đường chim  bay. Đó là khu vực có địa hình lý tưởng để cơ quan đầu não Khu ủy miền Đông, Tỉnh ủy Biên Hòa đứng chân lãnh đạo cuộc kháng chiến và lực lượng vũ trang hoạt động. Chính dựa vào địa hình này, tháng 7 – 1940, Tỉnh ủy Biên Hòa đã xây dựng đội vũ trang (35 người) để chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa Nam kỳ. Cuộc khởi nghĩa thất bại, nhiều người lãnh đạo, chỉ huy đơn vị bị giết, bị bắt đày đi Côn Đảo. Ông Trần Văn Quỳ (thường gọi Chín Quỳ) cùng với hơn một tiểu đội có vũ trang đã rút vào rừng Tân Uyên để giữ gìn lực lượng đợi thời cơ.

          Tháng Tám 1945, lực lượng vũ trang của Chín Quỳ về tham gia cướp chính quyền ở Tân Uyên. Khi hay tin “bộ đội Tám Nghệ” rút về Tân Tịch, lực lượng vũ trang Chín Quỳ, lực lượng vũ trang của Ủy ban khánh chiến quận Tân Uyên kéo đến gia nhập. Đông đảo thanh niên, công nhân trí thức từ Sài Gòn cũng tìm đến đầu quân. Vệ Quốc đoàn Biên Hòa là tên gọi của đơn vị đứng chân ở Tân Uyên do Huỳnh Văn Nghệ chỉ huy, gồm 4 phân đội.

          Từ tháng 11 – 1945, Trung tướng Nguyễn Bình được Trung ương cử vào phụ trách công tác quân sự ở Nam bộ. Ông quyết định chọn Tân Uyên làm căn cứ địa cho toàn khu.

          Sau hội nghị quân sự Nam bộ ở Đức Hòa (Long An), ngày 10 – 12 – 1945, chiến khu 7 được thành lập ([1][12]). Ngày 17 – 2 -1945, cơ quan Khu bộ Khu 7 về đóng quân ở thị trấn Tân Uyên, tổ chức lực lượng bảo vệ căn cứ gồm 4 đại đội ở Tân Long, Tân Nhuận, Cây Đào, Tân Tịch, thị trấn. Cuối tháng 12 – 1945, một bộ phận của chi đội Thủ Dầu Một cũng về đứng chân ở Tân Uyên. Như vậy, chỉ sau hai tháng khi thực dân chiếm Biên Hòa, Tân Uyên đã trở thành căn cứ địa kháng chiến.

          Ngày 25 – 1 - 1946, sau hai đợt hành quân thăm dò ( ngày 20 và 22 – 1 – 1946), thực dân Pháp huy động 4.000 quân bao gồm cả thủy, lục, không quân tiến công vào căn cứ Tân Uyên.

          Nhân dân Tân Uyên đã thực hiện “tiêu thổ kháng chiến”, sơ tán vào rừng: Bộ đội Khu 7 và Vệ Quốc đoàn Biên Hòa đã triển khai lực lượng chống cản trên nhiều hướng, tổ chức tập kích bất ngờ gây cho địch nhiều thiệt hại ([2][13]).

          Ngày 20 – 2 – 1946, Khu bộ Khu 7 tổ chức cuộc họp tại Lạc An. Hội nghị đặt vấn đề cải tổ bộ máy lãnh đạo Khu, thảo luận những biện pháp nhằm xây dựng địa bàn đứng chân, các khu vực doanh trại, bố trí hệ thống phòng thủ đảm bảo chiến đấu, ngăn chặn tiêu diệt địch và bảo vệ an toàn căn cứ. Hội nghị Khu bộ khu 7 ở Lạc An, đánh dấu một bước quan trọng cho sự ra đời của chiến khu Đ.

          Sau hội nghị, công tác quy hoạch, xây dựng căn cứ được triển khai một cách hệ thống. Các cơ quan, đơn vị, công xưởng được bố trí từng khu vực, mỗi khu vực đều có phương án di chuyển và mang một mật danh là A, B, C, D. A là căn cứ giao thông liên lạc đóng ở Giáp Lạc, B là căn cứ hậu cần đóng ở Thường Lan, C là khu vực bộ đội đóng thường trực ở sở Ông Đội; D là khu vực tổng hành dinh Khu 7 đóng ở hố Ngãi Hoang.

          Từ cuối tháng 2 – 1946, căn cứ tổng hành dinh Khu 7 thường được gọi là “chiến khu Đ”.

          Liên tiếp sau trận càn quét mở rộng địa bàn Tân Uyên từ ngày 15 – 3 – 1946 đến ngày 18 – 4 – 1946, tướng Leclerc chỉ huy 8.000 quân Pháp với máy bay, xe tăng, tàu chiến tiến công vào chiến khu Đ, nhằm bao vây tiêu diệt cơ quan chỉ huy và lực lượng kháng chiến miền Đông Nam bộ. Ngày 19 – 4 – 1946, quân Pháp chia làm nhiều mũi bắt đầu tiến công. Lực lượng bảo vệ Khu bộ cùng Vệ Quốc đoàn Biên Hòa tổ chức bố trí lực lượng cả các khu trọng yếu như Lạc An, Giáp Lạc; xóm Xình, mỹ lộc, Tân Lợi, Tân Tịch. Trận chống càn diễn ra hết sức ác liệt. Dựa vào ưu thế tại chỗ, thông thuộc địa hình, bộ đội ta linh hoạt phân tán, chia cắt đội hình địch, tập kích đánh địch. Trận phục kích Giáp Lạc diệt 60 tên; tập kích ở Đất Cuốc diệt 100 tên. Ngày 21 – 4, giặc chiếm được xưởng quân giới ở Bưng Tre, đóng quân tại xóm Voi. Bộ đội ta tập kích diệt 80 tên. Do tương quan lực lượng, Khu bộ Khu 7 và Vệ Quốc đoàn Biên Hòa quyết định rút lui khỏi vòng vây của địch để bảo toàn lực lượng.

          21 giờ ngày 22 – 4 – 1946, sau khi đánh lừa địch bằng một lệnh điều động quân giả, toàn bộ các cơ quan đơn vị bộ đội, hậu cần ở chiến khu gần 2.000 người bí mật rời xóm Sình và các điểm khác tiến lên xóm Ông Lình, từ đó thoát an toàn ra khỏi vòng vây của kẻ thù.

          Tháng 5 – 1946, tại xóm Đèn xã Tân Hòa, hội nghị quân sự tỉnh Biên Hòa tổ chức, thông qua hai vấn đề chính: thống nhất các đơn vị vũ trang trong tỉnh thành Vệ Quốc đoàn Biên Hòa và xây dựng chiến khu Đ thành căn cứ chính thức của tỉnh Biên Hòa.

          Cơ quan Khu bộ Khu 7 rút về Vườn Thơm, sau về Đức Hòa, lập căn cứ mới gọi là Quân khu Đông Thành, để lại tỉnh Biên Hòa một số phân đội quốc tế (do Lê Thoa chỉ huy sau là trung đội 5), xưởng quân giới, quân trang và quân y viện.

          Tháng 6 – 1946, chi đội 10 được thành lập. Sau bản tạm ước 14 – 9, thực dân Pháp rút bớt lực lượng chuyển quân ra Bắc bộ chuẩn bị mở rộng chiến tranh xâm lược. Tại khu vực căn cứ và ngoại vi chiến khu Đ, địch rút bớt một số đồn bót. Phạm vi kiểm soát của địch đối với chiến khu bị thu hẹp. Nắm cơ hội đó, tỉnh chỉ đạo xây dựng và phát triển căn cứ, các cơ quan kháng chiến của tỉnh, huyện từ rừng sâu chuyển ra ngoài xây dựng lán trại dọc Đất Cuốc, Tân Lợi, Mỹ lộc, Tân Tịch… Sở chỉ huy chi 10 từ Bình Chánh chuyển về Tân Tịch. Các đơn vị bước vào đợt huấn luyện và được đưa về cơ sở để xây dựng phong trào. Công tác xây dựng mạng lưới hậu cần cho căn cứ được mở rộng nhờ tạo được mối quan hệ chặt chẽ với cơ sở ở vùng tạm chiếm. Quân y viện mở các lớp huấn luyện y tá, cứu thương, bào chế nhiều loại thuốc thông dụng cung cấp phân đội.

          Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ (19 – 12 – 1946), lực lượng kháng chiến Biên Hòa đẩy mạnh hoạt động để kìm chân địch, mở rộng tiến công ra ngoài căn cứ, kết hợp chống càn bảo vệ căn cứ. Tại chiến khu Đ, đại đội A tiến công ở bót Tân Uyên, phục kích các đoàn giao thông trên lộ 16; đại đội B tiến công bót miễu Bà Cô (Thiện Tân), phục kích trên đoạn đường Cây Đào - Rạch Đông (lộ 24, lộ 8…); diệt bót Cây Gáo (2 – 1947), bót Bình Lộc, đồn Đất Cuốc (3 – 1947), bót cầu La Ngà (6 – 1947)… Nhân dân vùng căn cứ có sáng kiến nhận chìm các xà lan chất đầy đá làm đập chắn ngang sông Đồng Nai chặn tàu giặc khá hiệu quả. Trên cơ sở tổ chức được hệ thống phòng thủ, mở rộng căn cứ, xây dựng được ba thứ quân và phát triển phong trào du kích chiến tranh. Chi đội 10 Biên Hòa mở một loạt trận đánh giao thông đường sắt, đường bộ xa căn cứ như Bảo Chánh, Trảng Táo, Bàu Cá, Đồng Xoài, bẻ gãy các trận càn quét của thực dân vào chiến khu Đ trong năm 1948.

          Quân dân Biên Hòa xây dựng thành công chiến khu Đ - một căn cứ hậu phương của kháng chiến một bàn đạp tiến công kẻ thù.

          Từ tháng 5 – 1951, chiến khu Đ được Xứ ủy xác định là một trong những căn cứ lớn của Nam bộ. Tại chiến khu Đ, ban căn cứ địa Nam bộ do Đào Văn Quang phụ trách cùng ban căn cứ tỉnh Thủ Biên quy hoạch thành huyện căn cứ Đồng Nai, tổ chức bố trí đúng khu vực cho các đơn vị có hệ thống giao thông, liên lạc, trinh sát và bảo vệ. Các cơ quan đều tổ chức lực lượng du kích để bảo vệ căn cứ với hệ thống hầm hào khá hoàn chỉnh. Đến cuối 1953, phạm vị chiến khu Đ được mở rộng và hoàn chỉnh: phía tây giáp đường 16 và liên tỉnh IA, phía đông lên đến vùng Tà Lài, diện tích khoảng 4.000 km2.

          Thực dân Pháp trong quá trình xâm lược ở miền Đông Nam bộ, luôn xem chiến khu Đ là trọng điểm phải tiêu diệt. Chúng dùng đủ mọi thủ đoạn từ hành quân càn quét kết hợp cả bộ binh, hải quân, không quân, đến thủ đoạn tâm lý chiến, gián điệp, biệt kích để đánh phá nhưng đều thất bại. Đặc biệt lợi dụng bão lụt năm thìn tháng 10 – 1952, thực dân Pháp mở cuộc đánh phá vào chiến khu Đ liên tục 52 ngày đêm. Cán bộ, chiến sĩ, đồng bào chiến khu Đ bám trụ vừa khắc phục bão lụt, vừa chống địch để giữ vững căn cứ. Sau thất bại cuộc càn lớn này, hầu như quân Pháp không còn mở được một cuộc hành quân lớn vào chiến khu.

          Sự tồn tại một vùng căn cứ địa chiến khu Đ chỉ cách Biên Hòa 8 km, và cách Sài Gòn hơn 30 km đường chim bay là một thách thức và nỗi thất vọng cho thực dân, tay sai. Chính chúng đã phải tổng kết và rút ra kết luận “chiến khu Đ còn, Sài Gòn mất “ và “chiến khu Đ đi dễ khó về. Lính đi mất mạng, quan về mất lon”.



([1][12]) Trong hội nghị, ông Nguyễn Bình được chỉ định làm Khu trưởng Khu 7 và ông Trần Xuân Độ làm chính trị ủy viên Khu.

([2][13]) Theo báo cáo trong trận càn này, ta diệt 220 tên địch, thiêu hủy 6 xe cam nhông, bắn chìm 2 xuồng đổ bộ. 

Comments