3.2. Vượt qua thiên tai

III.2. Vượt qua thiên tai:

          Tháng 10 năm 1952, một trận bão lụt đổ ập vào miền Đông gây thiệt hại lớn, nhất là tỉnh Thủ Biên. Nước sông Đồng Nai, sông Bé dâng tràn hai bờ, tạo thành bể nước mênh mông. Toàn bộ nhà của nhân dân, các cơ quan, đơn vị trong chiến khu Đ, Vĩnh Cửu đều bị ngập, trôi, cây rừng ngã đỗ, đè sập thiệt hại hoàn toàn. Phía hạ lưu sông Đồng Nai, nước tràn hai bờ, ngập cả chợ Biên Hòa. Trong chiến khu Đ, toàn bộ các kho quân nhu, quân giới, kho gạo, lương thực đều bị ngập nước, hư hại. Hàng ngàn héc-ta hoa màu của các đơn vị, cơ quan và của nhân dân ở các huyện đều bị nước tàn phá.

          Theo báo cáo của Tỉnh ủy Thủ Biên, thiệt hại của các cơ quan như sau:

          - Cơ quan của tỉnh:

          * Khu vực Tỉnh ủy, Ủy ban, tất cả các kho dự trữ lương thực để dành ăn đến giáp hạt đều bị nước cuốn trôi, thiệt hại đến 96%.

          * Khu vực tỉnh đội bộ, kho lúa bị thiệt hại đến 70% (trên tổng số dự trữ 23.336 giạ lúa), mì 77% (1.211.277 gốc), lang 80% (24.946 thước). Khu vực sản xuất và dự trữ của huyện Vĩnh Cửu và liên xưởng Thủ Biên thiệt hại 100%.

          * Khu vực dân chính tuyên huấn, văn hóa… thiệt hại 70%.

          * Khu vực tổ chức thiệt hại 98%.

          * Khu vực công an thiệt hại 92%.

          Tính chung mùa màng bị thiệt hại đến 70%, vườn tược bị phá hủy, thiệt hại đến 90%.

          Tình hình thiếu đói trong vùng căn cứ diễn ra rất nguy ngập.

          Ủy ban tỉnh huy động ghe thuyền cứu giúp đồng bào thoát bão lụt, mặt khác báo cáo về Trung ương Cục miền Nam, Phân liên Khu ủy xin viện trợ, nhất là về gạo và lương thực; kêu gọi đồng bào trong tỉnh “nhường cơm sẻ áo”, “lá lành đùm lá rách”. Huyện Long Thành, dù bị thiệt hại do bão lụt, đã quyên góp được 2.500 giạ lúa chuyển về căn cứ để giúp đỡ quân dân vùng chiến khu. Ủy ban kháng chiến – hành chánh tỉnh Thủ Biên xuất quỹ tín dụng để giúp đỡ nhân dân có vốn để sản xuất ngay khi nước rút. Nước vừa rút, tỉnh cử các đoàn cán bộ đi Vĩnh Lợi, Trảng Bom, mua hom mì về trồng cứu đói. Đến tháng 12 năm 1952, toàn tỉnh trồng được 17.100 héc-ta.

          Hơn 4.000 ngàn đồng bào, chiến sĩ ở hai huyện Đồng Nai – Vĩnh Cửu bị nạn đói đe dọa nghiêm trọng. Nhân dân, cán bộ vùng căn cứ phải ăn cháo khoai và củ rừng. Bệnh tật phát sinh và đe dọa đến sinh mạng của đồng bào, chiến sĩ ở chiến khu Đ.

          Thực dân Pháp lợi dụng khó khăn do bão lụt gây ra không ngớt đẩy mạnh chiến tranh tâm lý nhằm gom dân ra vùng tạm chiếm. Tỉnh phải dùng “biện pháp tình thế”, đồng ý cho gần 300 nhân dân tạm về vùng tạm chiếm, đi các huyện khác tìm kế sinh nhai, cử một cán bộ theo nhân dân để nắm tình hình, hướng dẫn quần chúng. Cán bộ, chiến sĩ, các cơ quan và lực lượng vũ trang ở chiến khu tuy khó khăn, nhưng tinh thần vẫn vững vàng. Đại đội Lam Sơn của Vĩnh Cửu phối hợp cùng huyện đội Đồng Nai tiến công phá sạch bót Rạch Đông và toàn bộ hệ thống tháp canh của địch từ Rạch Đông (Tân Định) đến Cây Đào (Bình Thạnh). Nước  vừa rút, cán bộ, chiến sĩ căn cứ tổ chức từng đoàn, gặt lúa còn sót lại, đồng thời trồng mì lấy lương thực chống đói.

          Tháng 1 năm 1953, quân Pháp mở cuộc càn quét quy mô lớn có không quân, cơ giới, pháo yểm trợ đánh vào chiên khu Đ liên tục 52 ngày đêm. Các vùng căn cứ du kích ở Bình Đa, Hố Cạn, Đại An, Tân Định, địch sử dụng biệt kích (Commandos) đột kích, kết hợp bộ binh từ một đại đội đến một tiểu đoàn liên tục càn quét, gom dân nhằm tạo vành đai cô lập chiến khu Đ.

          Bốn tháng đầu năm 1953, 6.000 đồng bào huyện căn cứ Đồng Nai và trên 4.000 dân các huyện Bến Cát, Hớn Quản, Vĩnh Cửu bị địch gom ra các vùng tạm chiếm xung quanh các đồn bót, các trục lộ giao thông và thực hiện phong tỏa giao thông chuyển vận của ta, bắt 2.000 thanh niên đi lính.

          Tháng 8 năm 1953, Phân liên khu ủy miền Đông kiểm điểm tình hình và quyết định đẩy mạnh hoạt động vũ trang chống càn, đẩy mạnh công tác binh vận, thu thuế nông nghiệp, đưa dân trở về ruộng đất cũ… nhằm phối hợp chiến dịch thu đông 1953 của cả nước.

          Bộ đội địa phương, dân quân du kích, các cơ quan dân quân chính Đảng tỉnh vừa sản xuất vừa chiến đấu. Với nỗ lực không ngừng, đến tháng 9 – 1953, toàn tỉnh đã đạt được một số thắng lợi ([1][18]).

          Trong năm 1952, lực lượng kháng chiến Thủ Biên vừa đối phó với thiên tai bão lụt, vừa nổ lực không ngừng chống địch càn quét và lấn chiếm, giữ được vùng căn cứ, bước đầu gây dựng lại được phong trào và cơ sở vùng tạm chiếm, giành một số thắng lợi có ý nghĩa quan trọng; khôi phục lại phong trào sản xuất tự túc, tạo ra dự trữ cần thiết để có thế và lực phối hợp với toàn miền trong chiến dịch Đông Xuân 1953 – 1954.



([1][18]) Tác chiến 450 trận (trong đó có 150 trận chống càn, 150 trận vũ trang tuyên truyền ở vùng du kích và tạm chiếm).

- Diệt và làm bị thương 2.142 tên (chết 1.527, bị thương 467, bắt sống 94 tên).

- Diệt một đại đội ở Bến Thanh và thu phục được 1 đại đội lính Hòa Hảo ở Gò Lũy (tháng 6 – 1953)

- Thu 12 trung liên, 333 súng trường, 36 tiểu liên, 5 súng ngắn, 5 phóng lựu…

- Phá hủy 11 xe cơ giới, 4 xe Jeep, 4 xe GMC, 60 cam nhông, 2 đầu máy xe lửa, 12 wa gông, 1 tàu đổ bộ LCT.

Thiệt hại của lực lượng kháng chiến: chết 171, bị thương 99, bị bắt 69, mất 204 súng các loại.

Comments