3.3. Phối hợp chiến trường cả nước, giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Pháp

III.3. Phối hợp chiến trường cả nước, giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Pháp:

          Tháng 5 – 1954, tướng Navar Tổng tham mưu trưởng khối Bắc Đại tây dương, được chính phủ Pháp cử làm tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, đề ra kế hoạch Na – va chia làm hai bước:

          Bước 1: Giữ vững thế phòng ngự chiến lược phía Bắc, tránh đương đầu với chủ lực quân kháng chiến, thực hiện lấn chiếm đồng bằng liên khu 5 và Nam bộ; ra sức xây dựng ngụy binh, xây dựng lực lượng cơ động mạnh.

          Bước 2: Mùa thu 1954 sẽ chuyển lực lượng ra phía Bắc, mở cuộc tiến công chiến lược giành thắng lợi lớn về quân sự buộc ta phải nhận đàm phán theo điều kiện của chúng.

          Đối phó với âm mưu của Pháp, tháng 9 – 1953, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc tiến công chiến lược đông xuân 1953 – 1954 theo phương hướng chiến lược: Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, đánh chắc thắng.

          Chiến trường Nam bộ, Bộ Chính trị chủ trương lợi dụng địch tập trung trên chiến trường miền Bắc, đẩy mạnh du kích chiến tranh, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, đẩy mạnh công tác địch ngụy vận, mở rộng vùng căn cứ.

          Tại Thủ Biên, đến cuối năm 1953, thực dân Pháp rút 3 tiểu đoàn tinh nhuệ tăng cường ra chiến trường miền Bắc. Tổng số quân địch toàn tỉnh cuối năm 1953 còn 26.000 (bằng 3/5 năm 1952). Để bổ sung quân số, địch tăng cường bắt lính. Tính đến tháng 4 năm 1953, toàn tỉnh địch bắt 573 thanh niên đi lính ([1][19]). Do số quân giảm và bị ta tấn công, địch rút bỏ 4 bót, 17 tháp canh để tổ chức những đơn vị cơ động và phòng thủ trên các trục giao thông chính. Mức độ càn quét của địch vào vùng căn cứ giảm.

          Tỉnh ủy Thủ Biên đề ra các nhiệm vụ chính là đẩy mạnh du kích chiến tranh, mở rộng công tác địch ngụy vận, mở rộng căn cứ kháng chiến.

          Đến  tháng 4 – 1954, toàn tỉnh xây dựng thêm 32 đội du kích xã, đưa số lượng du kích từ 140 lên 513, dân quân tự vệ từ 453 lên 1862, du kích mật từ 219 lên 517. Phong trào quân dân xây dựng làng xã chiến đấu được đẩy mạnh. Nhân dân chiến khu Đ dọc sông Đồng rào trên 1.000 mét dây thép gai kết hợp hầm chông hố đinh, lựu đạn gài góp phần hạn chế hoạt động địch.

          Bộ đội Lam Sơn huyện Vĩnh Cửu, đưa một trung đội về hoạt động sâu vùng địch tạm chiếm (Bình Long, Lợi Hòa, Tân Triều, Bình Phước…), một trung đội hoạt động hướng đường số 1 vừa áp sát địch ở Bắc thị xã Biên Hòa, 1 trung đội đứng chân ở Đại An, Tân Định chống càn bảo vệ vùng căn cứ du kích. Trong tháng 4 – 1954, đại đội tiến công đánh địch ở bót Cẩm Vinh, Rạch Đông… phục kích giao thông… đánh diệt 183 tên, bị thương 15 tên, kêu hàng 5 tên, bắn cháy 3 xe tăng thiết giáp, 1 xe GMC, 1 xe cam nhông, 2 xe jeep, thu nhiều vũ khí.

          Tỉnh chỉ đạo các huyện Vĩnh Cửu, Long Thành, thị xã Biên Hòa đưa cấp ủy về các xã lãnh đạo công tác vũ trang tuyên truyền, đẩy mạnh công tác địch ngụy vận, tuyên truyền, vận động nhân dân chống bắt lính, trở về vùng căn cứ sản xuất. Toàn tỉnh móc nối, xây dựng được 600 cơ sở bên trong vùng địch tạm chiến.

          Lực lượng vũ trang tỉnh đẩy mạnh hoạt động tiến công, áp sát địch. Tại Vĩnh Cửu, bộ đội bao vây bót Cây Đào, Rạch Đông, áp sát bót Bà Miêu (Bình Long, Lợi Hòa), đánh địch tuần ruồng. Tại Xuân lộc, đội vũ trang tuyên truyền khôi phục được cơ sở trong các sở cao su, tiến công các tháp canh, bót, tua của địch trên quốc lộ 20. Tháng 4 năm 1954, tiểu đoàn 300 phục kích diệt đội biệt kích do tên ác ôn Suacot chỉ huy tại Phú Mỹ (Long Thành). Các căn cứ Phước An, Bình Đa, Hố Cạn, Đại An được khôi phục lại.

          Phối hợp chiến trường chung trong Đông xuân 1953 – 1954, lực lượng vũ trang toàn tỉnh thực hiện 137 trận đánh lớn nhỏ, loại 1.148 tên, làm bị thương 194 tên, bắt sống 11, thu 183 súng các loại, phá hủy 19 xe, đánh sập 3 bót, 5 tháp canh, bức rút 25 tháp canh khác. Các đội vũ trang tuyên truyền tổ chức 147 cuộc đột nhập tuyên truyền, diệt tề trừ gian vùng tạm bị chiếm. Căn cứ chiến khu Đ hoàn toàn do ta làm chủ, mở ra giáp sông Đồng Nai về phái Nam, phía Bắc đã mở vượt qua sông Bé, phía tây giáp lộ 16.

          Ngày 7 – 5 – 1954, chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, cứ điểm kiên cố của địch bị đập tan, buộc thực dân Pháp phải vào đàm phán. Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Genève được ký kết. Để tạo thuận lợi cho việc thi hành hiệp định, Tỉnh ủy Thủ Biên chỉ đạo đình chỉ mọi hoạt động vũ trang trên địa bàn tỉnh.

          Công tác tổ chức, sắp xếp cán bộ, chiến sĩ được triển khai. Toàn tỉnh Thủ Biên được tổ chức một trung đoàn quân dân chính Đảng lên đường tập kết ra Bắc. Tháng 8 – 1954, tại Nhà Nai (chiến khu Đ), hàng ngàn người tham dự cuộc mít – tinh tuyển đưa đoàn quân của địa phương lên đường hành quân về Xuyên Mộc (điểm tập kết xuống tàu ra Bắc).

          Quân dân Biên Hòa - Đồng Nai, qua chín năm kháng chiến với bao gian khổ hy sinh, mất mát, đau thương, vượt bao thử thách góp phần vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, làm rạng danh đất “Miền Đông gian lao mà anh dũng” của Nam bộ thành đồng Tổ quốc mà Bác Hồ đã phong tặng từ những ngày đầu kháng chiến.



([1][19]) Báo cáo Tỉnh ủy Thủ Biên số 52/TB ngày 9 – 5 – 1954, lưu Phòng nghiên cứu lịch sử Đảng Đồng Nai. 

Comments