3.3. Lập vành đai diệt Mỹ ở Biên Hòa

III.3. Lập vành đai diệt Mỹ ở Biên Hòa:

          Quân viễn chinh Mỹ và chư hầu vào Biên Hòa ngày càng đông. Tuy nhiên, với những chiến thắng ở Biên Hòa, Bình Giã, Đồng Xoài, chiến trường miền Đông có những bước chuyển động mới: “…Biên Hòa, Bà Rịa, Long Khánh đã tiêu diệt, tiêu hao sinh lực chủ yếu của địch, phá được ấp chiến lược, mở rộng và nối liền nhiều vùng căn cứ và kiểm soát của ta” ([1][16]). Phong trào chiến tranh du kích phát triển, lực lượng vũ trang sẵn sàng đánh địch, thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 20 tháng 7 năm 1965: “Dù đế quốc Mỹ có tăng thêm 10 vạn, 20 vạn quân Mỹ, thậm chí nhiều hơn nữa, dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng cương quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn” ([2][17]).

          Trung ương Cục miền Nam xác định: Không chế, tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ ở Biên Hòa sẽ có tác dụng to lớn, hỗ trợ tích cực cho chiến trường toàn miền.

          Tháng 9 – 1965, Trung ương Cục, Quân ủy Miền quyết định thành lập một đơn vị chiến trường tương đương cấp tỉnh lấy tên U1 bao gồm thị xã Biên Hòa, huyện Vĩnh Cửu. Khu ủy quyết định đồng chí Nguyễn Sơn Hà, Khu ủy viên làm Bí thư Tỉnh ủy U1. Đồng chí Trần Công An làm tỉnh đội trưởng. Trung ương Cục tăng cường 50 cán bộ, chiến sĩ đặc công kết hợp với bộ đội huyện Vĩnh Cửu thành lập đơn vị đặc công lấy phiên hiệu C238 do đồng chí Nguyễn Văn Bảo chỉ huy.

          Nhiệm vụ của đặc công U1 là nhanh chóng xây dựng phát triển lực lượng, huấn luyện nâng cao trình độ kỹ thuật chiến đấu, xây dựng bàn đạp tiến công các cơ quan chỉ huy đầu não địch đánh gây thiệt hại nặng hai mục tiêu sân bay Biên Hòa, Tổng kho hậu cần Long Bình và hỗ trợ phong trào quần chúng đánh phá bình định, phát triển chiến tranh nhân dân ở các địa phương.

          Tháng 12 – 1965, Hội nghị Trung ương lần thứ 12 (khóa III) đã ra nghị quyết khẳng định lại quyết tâm đánh Mỹ và khả năng thắng Mỹ. Thực hiện nghị quyết Trung ương 12, tháng 2 – 1966, Quân ủy trung ương đã đề ra 6 phương thức tác chiến chiến lược trong đó có 3 phương thức được bộ đội đặc công không ngừng hoàn thiện đạt hiệu suất cao là:

          - Phương thức 3: Đánh phá các căn cứ hậu cần, kho tàng, sân bay, hải cảng, cơ quan đầu não địch.

          - Phương thức 4: Triệt phá các đường giao thông thủy, bộ quan trọng, tạo ra thế bao vây chia cắt địch.

          - Phương thức 5: Đẩy mạnh hoạt động quân sự ở các đô thị, từ hình thức tác chiến nhỏ kết hợp đấu tranh chính trị đến tác chiến lớn, kết hợp tiến công và khởi nghĩa.

          Từ năm 1965, sông Lòng Tàu ngày càng trở thành đường vận chuyển chiến lược, Mỹ đưa khối lượng thiết bị phương tiện chiến tranh xâm lược quy mô lớn vào miền Nam Việt Nam. Trên sông Lòng Tàu, địch xây dựng nhiều quân cảng như Nhà Bè, Cát Lái, Rạch Dừa… cộng với quân cảng Sài Gòn thành một hệ thống cảng lớn, gắn liền với tổng kho hậu cần Long Bình, Thành Tuy Hạ… Năm 1964, Bộ Chỉ huy Miền đã đưa xuống rừng Sác một đơn vị công binh, đến 1965 tăng cường thêm một số đơn vị đặc công, pháo binh thành lập tiểu đoàn 125 triển khai đánh địch trên mặt trận sông nước này.

          Ngày 15 – 6 – 1966, Bộ chỉ huy Miền thành lập Đặc khu rừng Sác ([3][18]), đặt phiên hiệu T10, sau đổi là Đoàn 10 đặc công. Nhiệm vụ chủ yếu của Đoàn 10 là bám trụ địa bàn rừng Sác tiến công vào hướng Đông Nam Sài Gòn, chặn đánh tàu địch trên sông Lòng Tàu, các cảng quân sự, kho Nhà Bè, Cát Lái, Sài Gòn, Thành Tuy Hạ, đánh sâu vào nội đô Sài Gòn.

          Đặc công Biên Hòa (U1), Đoàn 10 rừng Sác có nhiệm vụ xây dựng vành đai diệt Mỹ ở Biên Hòa. Ngoài ra Biên Hòa còn có đoàn pháo binh 69 của Miền kết hợp chặt chẽ đặc công, pháo binh đánh địch trên chiến trường Biên Hòa.



([1][16]) Báo cáo phòng chính trị quân giải phóng miền Đông số TK21154, (lưu phòng nghiên cứu lịch sử  Đảng Đồng Nai).

Từ 7 đến 4 – 5 – 1965, trung đoàn 4 quân khu miền Đông đánh địch ở ba Sa, Tà Lài, Định Quán, cắt đứt và làm chủ một đoạn quốc lộ 20, địch phải lập cầu không vận Sài Gòn – Đà Lạt. Ngày 15 – 5 – 1965, trung đoàn 4 đánh trận phục kích giao thông trên quốc lộ 20, diệt một tiểu đoàn biệt động quân, một đại đội bảo an, bắn cháy 26 xe quân sự.

                + Bộ đội huyện Xuân Lộc cùng tiểu đoàn 445 tỉnh và chủ lực quân khu tiến công, giải phóng quốc lộ I từ Gia Ray đến Rừng Lá; lộ số 3 các ấp Trà Tân 1, Trà Tân 2.

                + Ngày 9 – 6 – 1965, trung đoàn 4, bộ đội huyện Xuân Lộc tiến công diệt yếu khu quân sự và trung tâm huấn luyện Gia Ray, diệt 3 đại đội hạ sĩ quan, một đại đội bảo an, một trung đội dân vệ, thu 150 súng, 5 tấn đạn, 3 toa xe hàng quân sự.

                + Ngày 1 – 7 – 1965, du kích xã Phước An (Nhơn Trạch) với chiến thuật ô ụ, đánh bại cuộc hành quân của 2 đại đội bảo an có cố vấn Mỹ chỉ huy, bức rút đồn Giồng Cát, giải phóng xã Phước An.

                + Đêm 23 – 8 – 1965, tiểu đoàn 34 pháo binh Miền và đội cối quân khu miền Đông tập kích sân bay Biên Hòa, phá hủy 68 máy bay, 8 dàn hỏa tiễn, 30 xe ô tô, 22 bồn dầu, tiêu diệt 300 Mỹ ngụy.

([2][17]) Hồ Chí Minh toàn tập, tập X. NXB Sự Thật Hà Nội 1989, trang 131.

([3][18]) Đây là đặc khu quân sự rộng 90.000 hecta, đông giáp lộ 15, tây giáp sông Soài Rạp, bắc giáp lộ 19, nam giáp biển bao gồm 10 xã của các huyện Nhơn Trạch (Biên Hòa), Bà Rịa, Vũng Tàu, huyện Nhà Bè, toàn bộ huyện Duyên Hải (Cần Giờ).

Cơ quan chỉ huy đầu tiên của đặc khu Rừng Sác gồm:

- Đồng chí Lương Văn Nho – nguyên tư lệnh pháo binh Miền làm đặc khu trưởng kiêm chính ủy.

- Đồng chí Nguyễn Văn Mây (Chín Mây) chỉ huy phó.

- Đồng chí Sáu Tâm chỉ huy phó,

- Đồng chí Nguyễn Việt Hoa (Mười Thà) chỉ huy phó.

- Đồng chí Trần Mân (Năm Mân) tham mưu trưởng.

- Đồng chí Nguyễn Văn Phòng (Năm Phòng) chủ nhiệm chính trị.

Đặc khu tổ chức làm 3 cơ quan, 6 đơn vị cấp đại đội (hai đại đội công binh nước, 1 đại đội cối 82 và DKZ 75, 1 đơn vị bộ binh, 1 đơn vị trinh sát, 1 đơn vị vận chuyển).

Comments