1.4.1. Lĩnh vực nông nghiệp

I.4.1. Lĩnh vực nông nghiệp:

          * Xây dựng cơ sở vật chất:

          Ngay từ năm 1976, việc xây dựng cơ sở vật chất trong nông nghiệp đã được chú trọng với phong trào làm thủy lợi. Trong 10 năm (1976-1985) tỉnh đầu tư 600 triệu (30% đầu tư xây dựng cơ bản toàn tỉnh) để xây dựng cơ sở vật chất trong nông nghiệp. Riêng năm 1985, tỉnh xây dựng 27 trạm thí nghiệm kỹ thuật trồng trọt, trại chuyên giống, trạm khí tượng thủy văn, trại chăn nuôi heo, bò sữa… Đến năm 1985, đã xây dựng được 36 công trình thủy nông, 11 trạm bơm điện với năng lực tưới 12.335 ha và 113 công trình tiểu thủy nông đảm bảo tưới tiêu 9.561 ha. Việc xây dựng cơ sở vật chất cho ngành nông nghiệp góp phần quan trọng để phát triển nông nghiệp.

          * Xây dựng quan hệ sản xuất mới trong nông nghiệp và hợp tác hóa nông nghiệp:

          Từ năm 1976, tỉnh thực hiện việc xây dựng quan hệ sản xuất mới trong nông nghiệp. Trong năm 1977, tỉnh đã tịch thu, trưng thu và vận động hiến 28.600 ha ruộng đất của 1.811 đối tượng; đã chia lại 15.000 ha cho 16.771 hộ nông dân nghèo.

          Về hợp tác hóa nông nghiệp, thông qua các đoàn thể, nhất là Hội Nông dân tỉnh đẩy mạnh công tác tuyên truyền về làm ăn tập thể trong nông dân. Đến 1979, tỉnh xây dựng được 2.747 tổ vần đổi công, 174 tổ hợp sản xuất, 18 tập đoàn sản xuất và 2 hợp tác xã nông nghiệp. Trong phong trào làm ăn tập thể, xuất hiện mô hình Hưng Lộc (huyện Thống Nhất), hợp tác xã đầu tiên thực hiện “khoán” (chui) đã kích thích tinh thần sản xuất của nông dân. Khi có chỉ thị 100 về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp phát triển mạnh hơn.

          Đến năm 1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị 100 về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp có điều kiện phát triển hơn. Cuối năm 1985, Đồng Nai xây dựng được 30 nông trường quốc doanh. Toàn tỉnh có 22 hợp tác xã, 1.793 tập đoàn sản xuất với 103.281 hộ và 70.802 ha đất canh tác (với hơn 60% hộ và 56 % diện tich canh tác vào làm ăn tập thể). Diện tích gieo trồng của các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất chiếm tỷ trọng 22%; sản lượng từ 36.806 tấn lên 145.992 tấn. Nhiều điển hình tiên tiến xuất hiện trong phong trào hợp tác hóa nông nghiệp như: hợp tác xã Gò Me (phường Thống Nhất, Biên Hòa), hợp tác xã Đức Long (huyện Thống Nhất), hợp tác xã Hiệp Hòa (Biên Hòa), tập đoàn sản xuất Quyết Thắng (Châu Thành)…

          * Tăng sản lượng lương thực và diện tích cây công nghiệp:

          Ngoại trừ năm 1978 do thiên tai, mất mùa, những năm còn lại, nông nghiệp chiếm tỉ trọng khá lớn trong cơ cấu kinh tế (70-72%), cây lương thực được xác định là chủ lực. Diện tích, sản lượng hàng năm đều tăng (sản lượng năm 1985 tăng hơn 2 lần năm 1976, năng suất lúa năm 1985 tăng gần 2 lần năm 1976). Từ năm 1981 với chỉ thị 100 của Ban bí thư về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động, chỉ thị 10 Ban bí thư (thường gọi khoán 10) năm 1983, có chú trọng đến kinh tế hộ gia đình đã góp phần thúc đẩy công tác cải tạo, xây dựng và phát triển sản xuất nông nghiệp. Cơ cấu trong nông nghiệp thay đổi theo hướng chuyên canh.

          Nhiều giống lúa ngắn ngày được đưa vào sản xuất có hiệu quả như giống 3A, 8A-32, MTL, L9, 3B, 4B, 6B… hệ số sử dụng đất tăng lên. Từ năm 1981 tỉnh đã hình thành được vùng lúa cao sản. Từ một tỉnh phải xin chi viện lương thực, đến 1983, Đồng Nai đã đủ khả năng tự túc và có đóng góp cho Trung ương.

          Cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày là thế mạnh của Đồng Nai. Tỉnh đã xây dựng được vùng chuyên canh phát triển diện tích, sản lượng, có tỉ suất hàng hóa lớn (như thuốc lá, đậu nành ở Định Quán, cà phê ở Xuân Lộc, lúa ở Long Thành, Nhơn Trạch).

          Cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao là cao su và cà phê. Cây cao su từ 31.914 ha/năm 1976 phát triển lên 57.622 ha/năm 1985. Sản lượng mủ cao su từ 19.152 tấn/năm 1976 lên 21.243 tấn/năm 1985.

          Với cây cà phê, từ năm 1980, tỉnh đã xấy dựng một số nông trường nhưng hiệu quả thấp. Diện tích cây cà phê cá thể vẫn chiếm từ 80-90% tổng diện tích.

          Trong cơ cấu nông nghiệp, chăn nuôi được chú trọng. Số lượng heo, bò trâu tăng từ 1,5 lần đến hai lần so với năm 1976.

Comments