1.4.2. Thành tựu trên lĩnh vực công nghiệp

I.4.2. Thành tựu trên lĩnh vực công nghiệp:

          Đầu năm 1976, sau khi bàn giao khu kỹ nghệ Biên Hòa cho Trung ương, Đồng Nai được phân cấp quản lý 46 xí nghiệp, hầu hết thuộc dạng sửa chữa thiết bị, sản xuất vật liệu xây dựng (tấm lợp), hóa chất, chế biến gỗ… thiết bị lạc hậu, chỉ có một cơ sở công nghiệp đúng nghĩa duy nhất là nhà máy gỗ Tân Mai. Trong 10 năm (1976-1985), từng bước thực hiện cải tạo và khôi phục sản xuất, tỉnh tập trung cho ngành cơ khí chế biến nông – lâm sản; đầu tư thiết bị cho nhà máy cơ khí, nhà máy chế biến cao su, dệt Thống Nhất, xí nghiệp bao bì, phân bón Nhà nông, gốm Mỹ nghệ, Gạch 3-2. xi măng Bình Hòa.

          Từ 46 xí nghiệp năm 1976, đến 1982, Đồng Nai có 130 xí nghiệp, có 92 xí nghiệp quốc doanh và công tư hợp doanh, tăng gấp 2 lần năm 1976; 4.051 cơ sở tiểu thủ công nghiệp. Giá trị tổng sản lượng công nghiệp năm 1985 tăng gấp 6 lần năm 1976. Giá trị tổng sản lượng tiểu thủ công nghiệp tăng gấp 4 lần.

          Trong điều kiện cơ chế bao cấp, các xí nghiệp chưa tự chủ, chưa năng động. Từ khi có Nghị định 25/CP của Hội đồng Chính phủ giao quyền chủ động cho cơ sở sản xuất, phát triển các hình thức liên kết, liên doanh giữa các cơ sở. Các xí nghiệp bắt đầu năng nổ, tìm kiếm vật tư nguyên liệu để sản xuất và tìm thị trường tiêu thụ.

          Tính đến năm 1985, công nghiệp địa phương có 5 ngành sản xuất ([1][5]) với 56 loại sản phẩm:

 

BẢNG TỔNG GIÁ TRỊ SẢN LƯỢNG CÔNG NGHIỆP

TRÊN ĐỊA BÀN ĐỒNG NAI (Trung ương + địa phương)

          (Đơn vị tính ngàn đồng)

 

Tổng số

1976

1980

1981

1982

1983

1984

1985

729.790

2.839.188

3.165.154

3.404.578

3.468.917

3.947.963

4.324.963

Quốc doanh CTHD

527.422

2.262.042

2.612.200

2.718.057

2.809.849

3.237.587

 

Địa phương

460.289

1.063.028

1.042.711

1.255.486

1.293.030

1.577.956

1.797.049

TTCN

202.368

577.146

552.954

686.521

659.068

710.376

936.256

         

Nhìn chung trong 10 năm (1976-1980) sản xuất công nghiệp bước đầu đã phục vụ cho nông nghiệp, xuất khẩu và cho tiêu dùng; sản lượng hàng xuất khẩu năm 1984 là 344,9 triệu tăng gấp 2,4 lần năm 1976 (142,6 triệu), nhất là vật liệu xây dựng (hàng năm tăng 35%). Trình độ tay nghề của công nhân được nâng lên.



([1][5]) Như: sửa chữa máy móc thiết bị, sản xuất điện, điện tử, sản xuất sản phẩm kim loại, hóa chất, vật liệu xây dựng, chế biến lâm sản, xenlulô giấy , sành sứ thủy tinh, chế biến lương thực, khai thác thực phẩm, dệt, may mặc, da và sản phẩm từ da, in và các ngành khác.

Comments