2.2.6. Văn hóa, xã hội,y tế, giáo dục

II.2.6. Văn hóa, xã hội,y tế, giáo dục:

          Với chủ trương chiến lược phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, trong 5 năm 1986-1990, tỉnh đã giải quyết việc làm cho 113.631 lao động. Trong 5 năm 1991-1995, bình quân hàng năm tỉnh giải quyết từ 40.000-50.000 lao động có việc làm, nhờ sự phát triển của công nghiệp có vốn nước ngoài, việc phát triển các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. Tuy nhiên trước tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa, việc cung ứng và đào tạo lao động ở Đồng Nai còn nhiều hạn chế cả về số lượng và chất lượng tay nghề, trình độ chuyên môn. Mặt khác đô thị hóa làm tăng lượng nhân khẩu ở đô thị đặt ra nhiều vấn đề phức tạp về ăn, ở, đi lại, sinh hoạt và cả các tệ nạn xã hội cần phải nghiên cứu và giải quyết.

          Chương trình kế hoạch hóa gia đình có nguồn tài trợ nước ngoài đạt những kết quả khá, công tác kế hoạch hóa đi liền với công tác vận động quần chúng xây dựng nếp sống văn hóa từ các cơ quan nhà nước ra toàn dân được đẩy mạnh. Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên từ 2,4% trong 5 năm 1986-1990, giám xuống 2,3% (năm 1991), 1,97% (năm 1995).

          Về chính sách xã hội, do hậu quả chiến tranh kéo dài, đến năm 1995, tỉnh quản lý 7.426 gia đình liệt sĩ, 798 gia đình có công với cách mạng, 4.239 thương bệnh binh, 264 bà mẹ Việt Nam anh hùng (trong đó có 103 bà mẹ còn sống). Những phong trào quần chúng như “xóa đói giảm nghèo”, “xã hội hóa”, việc thực hiện chính sách xã hội như đền ơn đáp nghĩa, sổ vàng tình nghĩa, nhà tình nghĩa, giúp nhau làm kinh tế gia đình… đã góp phần cùng nhà nước thực hiện tốt hơn chính sách xã hội.

          Đến nay, tỉnh xây dựng được 906 (1990-1995) nhà tình nghĩa (1986-1990) xây được 371 nhà), 913 sổ tiết kiệm với 1,45 tỷ đồng, 103 bà mẹ Việt Nam Anh hùng của tỉnh được phụng dưỡng suốt đời. Phong trào xóa đói giảm nghèo phát triển từ 1993 đã huy động được 18,9 tỷ đã cho 12.175 hộ vay 17,7 tỷ đồng. Ngân hàng nông nghiệp đã cho hộ nông dân nghèo vay vốn 6,3 tỷ với lãi suất ưu đãi 1,2%/ tháng để giúp họ có điều kiện sản xuất phát triển đời sống.

          Trong 10 năm, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện. Mức tiêu dùng trong dân hàng năm tăng 8,3%.

          Ngành y tế có nhiều tiến bộ trong công tác phòng chống, điều trị và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. Trong 5 năm 1990-1995, tỉnh xây dựng thêm 2 bệnh viện, 35 trạm xá với 512 giường. Như vậy đến nay, 163 xã phường có trạm xá y tế, 200 tổ y học dân tộc.

          Tính đến 1995, toàn tỉnh có 15 bệnh viện đa khoa, chuyên khoa, bệnh viện huyện, 11 phòng khám khu vực, 1 trạm vệ sinh phòng dịch, 163 trạm y tế xã phường, 16 phòng chuẩn trị y học dân tộc (200 tổ), với tổng số 3.225 giường bệnh, 2.991 y bác sĩ, dược sĩ, y tá, cán bộ y tế.

          Công tác văn hóa – thông tin, thể thao phát triển rộng trong quần chúng. Phong trào xây dựng nếp sống văn hóa mới phát triển từ cơ quan, nhà nước xuống đến xã phường. Về thiết chế văn hóa, năm 1995 có 9 thư viện với số đầu sách 245.000. Số sách xuất bản tăng lên 490.000 bản năm 1995. Báo, tạp chí xuất bản tăng lên 4.200.000 bản các loại. Tuy nhiên về chiếu bóng ở các rạp, số buổi chiếu từ 16.856 buổi năm 1990, liên tục giảm xuống đến 1995 chỉ còn 300 buổi. Đến năm 1995, tỉnh chỉ còn 2 đơn vị văn nghệ chuyên nghiệp, số buổi biểu diễn 227 buổi/1995 so với 2.250 buổi/1990. Tuy nhiên, phong trào văn nghệ quần chúng từ 1990 đến 1995 vẫn duy trì và giành nhiều giải trong phong trào văn nghệ quần chúng trong khu vực. Hàng năm trong các ngày lễ tết đều có tổ chức triển lãm mỹ thuật, ảnh, hội hoa xuân… Phong trào thể dục thể thao quần chúng, từ 1990 phát triển rộng trong lớp thanh thiếu niên và người cao tuổi. Ngành thể dục thể thao được nguồn tài trợ từ các doanh nghiệp hàng năm tổ chức các cuộc thi chạy việt dã, xe đạp tay cầm ngang, đua thuyền truyền thống trên sông Đồng Nai, đua mô tô… thu hút khá đông quần chúng tham gia. Với thể thao chuyên nghiệp, Đồng Nai đóng góp nhiều vận động viên có bằng cấp quốc gia như cờ vua (Hoàng Thanh Trang), Đỗ Thu Thảo (taewondo), Trần Xuân Hải (thể hình)…

          Từ năm 1986, tỉnh bắt đầu thực hiện chương trình xã hội hóa giáo dục. Từ năm 1990, với tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa, dân số Đồng Nai tăng nhanh, số lượng học sinh các cấp mỗi năm một tăng gây nhiều khó khăn cho ngành trong việc tăng cường cơ sở vật chất, đào tạo giáo viên… Dựa vào ngân sách nhà nước (chiếm 30%/ hàng năm) và vốn xã hội hóa, từ 1986-1995, ngành đã duy trì được chất lượng dạy và học. Học sinh bỏ học giảm 1,35%. Tính đến đầu 1995 toàn tỉnh có 159/163 xã phường được công nhận xóa mù và phổ cập tiểu học. Toàn tỉnh hiện nay có 16.387 giáo viên các cấp, so định mức của Bộ còn thiếu 2.500 giáo viên.

 

BẢNG TỔNG HỢP VỀ GIÁO DỤC TOÀN TỈNH (1990-1995)

(CẢ 3 CẤP I, II, III)      

 

Năm

Trường

Lớp

Phòng học

Học sinh

Giáo viên

1990

1991

1995

438

426

541

8.387

8.564

11.301

4.870

4.687

6.501

311.613

328.291

411.212

9.859

9.528

10.705

Comments