1.1. Thời khai phá

I.1. Thời khai phá:

Cuối thế kỷ XVI, vùng đất Đồng Nai về cơ bản vẫn là vùng đất hoang hóa, các cộng đồng dân cư bản địa sống du canh, du cư  giữa rừng sâu, hoạt động nông nghiệp của họ thời kỳ này chủ yếu là hái lượm cây trái tự nhiên, việc trồng tỉa theo lối "chọc lỗ, bỏ hạt" mà không cần cày xới, chăm bón gì nhiều.

Đến khoảng đầu thế kỷ XVII và nhất là giữa thế kỷ này một bộ phận khá lớn dân cư miền Bắc và miền Trung tìm đất sống mới tại Đồng Nai, họ bắt đầu công cuộc khẩn hoang. Tiếp đó, năm 1679 chúa Nguyễn cử người dẫn đường cho nhóm 3000 quân binh di thần nhà Minh do Trần Thắng Tài và Dương Ngạn Địch cầm đầu vào làm ăn sinh sống ở Bàn Lân (Biên Hòa) và Mỹ Tho. Từ đó lưu dân Hoa, Chăm, Khmer cùng với người Việt và cư dân các dân tộc bản địa Chơro, Mạ, Xtiêng, Kơho phá rừng, lập làng, mở mang ruộng vườn lúc đầu theo kiểu “móc lõm” thành tập thể nhỏ gồm một số gia đình họ hàng thân thuộc hoặc cùng quê hương bản quán.

Trước năm 1698, công cuộc khẩn hoang diễn ra lẻ tẻ tự phát. Năm 1698 chúa Nguyễn phái Nguyễn Hữu Cảnh đi kinh lược phương Nam, đặt ra hai huyện Phước Long và Tân Bình thì công cuộc khẩn hoang được thúc đẩy với qui mô lớn hơn vì nhiều cái lợi:

- Mở rộng địa bàn cai trị, chính quyền thu thêm nhiều thuế (điền, đinh).

- Dân giàu thì nước mạnh, nơi này mất mùa đã có nơi kia bù đắp, nạn đói và nguy cơ bất ổn xã hội giảm bớt...

Các chúa Nguyễn cho phép những người dân “có vật lực” được tùy ý khai phá, tự do chiếm đất mở vườn ruộng, xây cất nhà cửa, tự mình kê khai ruộng đất (diện tích, hạng tốt, xấu) mà không ai đến tận nơi xác minh.

Sách Phủ biên tạp lục (1776) của Lê Quí Đôn cho biết, đến lúc đó huyện Phước Long (gồm các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu và một phần địa phận Thành phố Hồ Chí Minh ở bờ trái sông Sài Gòn ngày nay) có số ruộng thực trưng hơn 787 mẫu (khoảng gần 400 ha) chưa tính đất nương rẫy, đất trồng dâu, mía, cau...ngoài ra còn có trường Gian Thảo với hơn 6000 sở đất (không rõ diện tích bao nhiêu?). Do khai phá được nhiều ruộng vườn, đời sống lưu dân - nhất là những nhà có vật lực - mát mặt hơn ở quê hương cũ “...Có khách đến nhà, đầu tiên gia chủ dâng trầu cau, sau dâng cơm tiếp bánh, tiếp đãi trọng hậu, không kể người thân sơ, quen lạ, tông tích ở đâu, ắt đều thâu nạp khoản đãi, cho nên người đi chơi không cần đem theo tiền gạo, mà lại có nhiều người lậu xâu, trốn thuế đi đến xứ này ẩn núp, bởi vì có chỗ dung dưỡng vậy”. (Trịnh Hoài Đức: Gia Định Thành thông chí).

Ruộng đất vùng Đồng Nai có hai loại:

- Sơn điền là nương rẫy hay ruộng cao, chất lượng đất kém “bắt đầu khai phá thì đốn chặt cây cối, đợi cho khô đốt làm phân tro, khi mưa trồng lúa không cần cày bừa, dùng sức ít mà được bội lợi. Trong ba bốn năm thì đổi làm chỗ khác”.

- Thảo điền là ruộng lúa nước, đất đai tốt hơn sơn điền “ruộng này bùn lầy, lúc nắng khô nứt nẻ như vẽ mu rùa, có họng sâu hố lớn; đợi có nước mưa đầy đủ dầm thấm, nhiên hậu mới cấy xuống, mà trâu cày phải lựa con nào có sức mạnh, chân cao mới kéo cày được, nếu không thì ngã ngập trong bùn không đứng dậy nổi. Ruộng cày trâu ở Phiên An, Biên Hòa một hộc lúa giống thu hoạch được một trăm hộc”. (Trịnh Hoài Đức: sđd). Đó là năng suất cao hiếm có hồi đó. Vào vùng đất mới, lưu dân chỉ làm một vụ mùa. Không thấy sách nói lưu dân làm vụ chiêm như ở miền Bắc.

Ruộng sớm: tháng 5 âm lịch (âm lịch) gieo mạ, tháng 6 cấy, tháng 9 gặt.

Ruộng muộn: tháng 6 âm lịch gieo mạ, tháng 7 cấy, tháng 11 gặt.

Tập đoàn giống lúa thời đó có nhiều loại. Lúa tẻ có hai loại: Lúa canh hạt nhỏ không dẻo, cơm mềm mùi rất thơm; lúa thuật hạt tròn mà lớn, dẻo. Lúa tẻ có nhiều thứ: lúa tàu, lúa móng tay, lúa móng chim, lúa mô cải, lúa càn đông, lúa cà nhe. Lúa nếp có nếp hương, nếp sáp, nếp than.

Hoa màu có đậu (tỉa tháng 4 âm lịch, hái tháng 6), bắp (tỉa tháng 4 âm lịch cùng với đậu, thu hoạch tháng 7). Huyện Long Thành có dưa bí (tỉa tháng 1 âm lịch, hái tháng 3), dưa hấu (trồng tháng 10, thu hái dịp tết). Huyện Phước Chánh nổi tiếng trồng mía làm đường cát trắng, có hồi mỗi năm bán cho thuyền buôn nước ngoài 600 ngàn cân (khoảng 300 tấn). Cau trồng ở khắp nơi, nhưng nhiều nhất ở vùng Long Thành, người ta lấy hạt cau già phơi khô xuất khẩu. Cây ăn quả cũng nhiều loại: xoài, măng cụt, bưởi, chanh, cam, quít, dứa, lựu...nhưng chắc chưa phải là nông sản hàng hóa (vì giao thông chuyên chở khó khăn). Cho đến giữa thế kỷ XVIII, nông nghiệp xứ Đồng Nai phát triển khá dưới con mắt của Pierre Poivre. Ông ta viết nhật ký ngày 27 - 10 - 1749: “Hiện nay Đồng Nai là vựa lúa của cả xứ đàng Trong. Vùng này đã cung cấp cho toàn xứ một khối lượng lớn về thóc” (Huỳnh Lứa: sđd).

Cư dân người Việt - đội quân khai hoang chủ lực - mang vào đây kỹ thuật và công cụ trồng tỉa tiến bộ hơn lối đao canh hỏa nậu của cư dân bản địa. Song họ cũng tiếp thu, học tập các dân tộc anh em cách lên líp để trồng hoa màu và cây ăn quả ở nơi dễ ngập úng, học cách xổ phèn, ép phèn ở nơi đất phèn mặn, học dùng cây phảng để dọn cỏ ruộng bùn...

Thời Gia Long (1802-1820) công cuộc đo đạc ruộng đất lập ra địa bạ đã gần xong trong cả nước, trừ sáu tỉnh Nam Kỳ và tỉnh Bình Thuận. Năm 1836, Minh Mạng phái Trương Đăng Quế cầm đầu phái đoàn vào Nam Kỳ lập địa bạ. Từ suốt tháng hai âm lịch đến ngày 10 tháng 5 âm lịch năm 1836, địa bạ hai tỉnh Biên Hòa, Gia Định lập xong.

Theo địa bạ 1836, diện tích ruộng đất thực canh tỉnh Biên Hòa hồi đó là 13.427 mẫu 1 sào 6 thước 5 tấc (khoảng 2 mẫu bằng 1 ha), như vậy thực canh hồi đó khoảng 6.700 ha (so với số liệu của sách Phủ biên tạp lục đã tăng 17 lần). Ta thấy Đồng Nai ngay từ thời đó đã là vùng kinh tế phát triển sôi động với tốc độ cao.

Cũng theo sách đã dẫn, "ruộng đất tư chiếm tỷ lệ 89,16%, công điền công thổ chỉ có 10,84%. Ruộng đất tư không phân phối đồng đều cho nông dân. Khảo sát địa bạ thôn Bình Phú Trung, tổng An Thủy Thượng, huyện Bình An (là một trong 285 thôn xã đương thời), có 41/ 81 chủ điền sở hữu từ 10 mẫu trở xuống, 40/81 chủ điền sở hữu từ 10 mẫu trở lên”. Như vậy tỷ lệ khá giả là cao so với nhiều địa phương khác trong tỉnh và cả nước.     

Theo sách Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn (quyển Tỉnh Biên Hòa của Nguyễn Đình Đầu, Nxb. tp. HCM, 1994), cơ cấu ruộng đất thực canh tỉnh Biên Hòa chia làm hai loại:

- Ruộng thực canh: thảo điền 7.039 mẫu 2 sào 10 thước 6 tấc, sơn điền 3.994 mẫu 5 sào 1 thước 4 tấc.

- Đất thực canh: trồng dâu mía 2.258 mẫu 5 sào 1 thước 3 tấc, trồng trầu 11 mẫu 9 sào 6 thước 9 tấc, thổ trạch 28 mẫu 8 sào, đất vườn 27 mẫu 9 sào 13 thước 6 tấc.

Căn cứ vào địa bạ, nhà chức trách lập điền bạ (sổ bộ thuế ruộng đất) để thu thuế của dân, không sợ lầm lẫn. Người ta ước tính thuế ruộng thu được khoảng 275.000 thăng (550.000 giạ) và 33.045 tiền thuế thập vật...đó là khoản không nhỏ - chưa kể thuế đất.

Triều Nguyễn có một số biện pháp thúc đẩy khẩn hoang, phát triển nông nghiệp vùng Đồng Nai, Gia Định:

- Cho dân tự do lựa chọn nơi khai phá đất hoang hóa ở rừng núi, gò đống, ven đường, ven sông, ven suối...

- Cấp hay cho dân vay nông cụ, trâu bò, giống má có mức độ.

- Tổ chức các đồn điền. Tỉnh Biên Hòa có cơ Biên Dũng. Sau một thời gian, đồn điền trở thành làng xã thì các chỉ huy cơ, đội trở thành xã trưởng, thôn trưởng, cai tổng...

- Qui định cụ thể việc thưởng phạt đối với các chức sắc hội tề, tổng lý...nếu địa phương khai hoang thêm hoặc bỏ hoang ruộng đất.

Mặc dù vậy, việc lập địa bạ có lẽ làm dân mất hào hứng khẩn hoang. Diện tích bỏ hoang trở lại khá lớn. Năm 1840, diện tích phục hóa ở các tỉnh Nam Kỳ là 4.936 mẫu thì tỉnh Biên Hòa chỉ phục hóa 6 mẫu, con số không đáng kể. Có thể nói: tỉnh Biên Hòa không tăng diện tích mới khai phá.

Comments