1. Lược sử nghề cá Đồng Nai

Với lượng mưa trung bình hàng năm vào khoảng 1700 mm, tỉnh Đồng Nai có mạng lưới thủy văn khá dày với tổng diện tích mặt nước tự nhiên trên 34.940 ha gồm nhiều sông, suối, rạch tắt, đầm, ao, hồ, ruộng trũng, bãi triều, bãi cạn (vùng Rừng Sác, Nhơn Trạch). Đó là thủy vực quan trọng, nơi sinh sống của nhiều loài thủy sản... nước ngọt, nước lợ.

Từ thế kỷ thứ XVII, cư dân người Việt vào khẩn hoang đất Đồng Nai - Gia Định, trong đó một số ít chuyên nghề chài lưới. Họ định cư ở các thôn xóm ven sông, ven biển: Long Hải (tổng Phước Hưng), Phước Thắng, Phước Tỉnh (tổng An Phước), An Hòa, Phước Tân, Long Điền (tổng Long Vĩnh), Phước Khánh (tổng Thành Tuy)..., với ghe thuyền nhỏ họ chỉ có thể đánh cá trong lộng (ven bờ) và trên các sông rạch. Sách Gia Định thành thông chí ghi: "vùng Cửa Lấp (nay là xã Phước Hải, huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) dân miền biển đến nhóm làm nghề chài lưới, là nơi làm cá mắm của trấn hạt Biên Hòa”.

Huyền thoại vùng đất phương Nam “lắm cá, nhiều cơm” là điều có thực, song chỉ có ở các tỉnh miền Tây lúc cư dân còn thưa thớt, môi trường tự nhiên còn nguyên vẹn. Tỉnh Biên Hòa không có huyền thoại này, song mỗi gia đình ở ven sông rạch kiếm con cá, con tôm cho bữa ăn không mấy khó khăn.

Sách Đại Nam nhất thống chí ghi: tỉnh Biên Hòa đời nhà Nguyễn có các loại cá: cá tống công, cá hanh, cá quả, cá rô, cá đao, cá sấu, cá thu, tôm, cua, sam.

Sách Gia Định thành thông chí có danh mục thủy sản dài hơn. Thủy sản biển gồm có: cá voi, cá đao, cá xà, cá chim trắng (ở cửa biển Đồng Tranh), cá bợt, cá hồng, cá thu, cá ngừ, mực, cá bài đàn, cá rựa, cá bẹ, cá cơm, cá bạc má, cá chùy, cá sòng, cá ngựa, cá lão ông, cá y đái, cá kê tỳ, cá thử đầu, sứa, cá nóc (loại cá độc), tôm hùm, tôm bạc, cua biển, rùa biển, đồi mồi, vích (baba biển), sò huyết, ốc linh, ốc dừa, nghêu, ốc xà cừ, sam. Cá sông gồm có: cá đao, cá hồ sa (ăn gỏi ngon đệ nhất), cá giang phạm, cá giang kê tỳ, cá gáy, cá vược, bào ngư, cá hanh, cá tra, cá dìa, cá úc, cá trê, cá bống, cá mè, cá ban tai, cá văn, cá phường, cá kiềm, cá chình, cá tiền, cá vuông, cá sấu, tôm càng xanh, tôm trắng, tôm thiết, hến (ngon thượng hạng), ốc tai tượng, baba (cua đinh). Ao hồ có: cá lóc, cá lóc bông, cá trê, chạch, lươn.

Thời thuộc Pháp, Địa chí Biên Hòa năm 1901 chỉ ghi: “nghề cá sông chỉ chiếm hoàn toàn ở hạ lưu tỉnh. Giá trị nghề này hàng năm khoảng 2.226 đồng. 95 người bản xứ thuộc các làng Phước An, Phước Tân, Bình Quới (một ấp của Phước An), Bình Trước, Nhị Hòa (một ấp của xã Hiệp Hòa sau này) miệt mài hành nghề ở đó. Cá đánh bắt được là: cá gốc, cá chép, cá vược, cá chẽm, cá bẹ, cá hanh, cá thu cháy, cá đường, cá mòi, cá lẹp, cá chìa vôi, cá tra, cá mao ết, cá mao lửa, cá lóc, cá trê, cá rô. Cá không xuất cảng”.

Dân tỉnh Biên Hòa hồi đó thường phải mua các loại cá khô, nước mắm, cũng như mắm cá từ miền Tây mang lên hoặc ở Bình Thuận, Bà Rịa chở vô.

Trong thời kỳ 1945 - 1954, do chiến tranh liên miên nên nghề cá tỉnh Biên Hòa suy giảm mạnh. Thời nhà Nguyễn và thời thuộc Pháp công cụ đánh bắt hoàn toàn thủ công (ghe lưới...) nên sản lượng tôm cá chắc chắn không đáng kể. Thời chế độ Sài Gòn được Mỹ viện trợ nhiều mặt quân sự, kinh tế..., vì vậy các loại máy móc nghề cá (thủy động cơ của Mỹ, Nhật, máy tìm cá sonar, các loại lưới nilon...) được đưa vào ngày càng nhiều, nhất là từ năm 1965 khi quân Mỹ và đồng minh kéo vào cứu nguy cho chế độ Sài Gòn đang ở bờ vực sụp đổ. Từ đó nghề cá Biên Hòa được cơ giới hóa dần.

Địa phương chí Long Khánh năm 1968 viết về nghề cá: “Ngoài các suối, tỉnh Long Khánh có sông La Ngà chảy qua các xã quận Định Quán và xã Bến Nôm quận Kiệm Tân là có nhiều cá tại những nơi nước nằm. Số thu hoạch hàng năm khoảng 50 tấn cá, không đủ cung ứng cho nhu cầu địa phương”.

Trong khi đó nghề cá tỉnh Biên Hòa có bước phát triển nhanh. Địa phương chí tỉnh Biên Hòa năm 1974 cho biết:

- Số ngư phủ: 174 người

- Số tàu thuyền có động cơ: 355 cái

- Số tàu thuyền không động cơ: 155 cái

 

Sản lượng đánh bắt qua các năm

1972

1973

- Thủy sản nước ngọt

400 tấn

650 tấn

- Hải sản

6600 tấn

7200 tấn

Do chưa có công nghiệp chế biến thủy sản nên phần lớn được bán sang mạn ngay trên biển cho các tàu nước ngoài chuyên mua gom với giá rẻ hơn giá thị trường thế giới (đó cũng là tình trạng chung của ngành thủy sản dưới chế độ Sài Gòn), một phần thủy sản được tiêu thụ trong tỉnh.

Năm 1976, tỉnh Đồng Nai được thành lập, gồm 3 tỉnh cũ: Biên Hòa, Long Khánh - Bà Rịa, Tân Phú (theo cách phân chia của ta), hay 3 tỉnh Biên Hòa, Long Khánh, Phước Tuy (theo cách phân định của chế độ cũ). Thời kỳ này tỉnh có bờ biển dài khoảng 70 km, với ngư trường hàng ngàn km2, tiếp giáp với vùng biển Ninh Thuận, Bình Thuận giàu tôm, cá bậc nhất cả nước. Mật độ thủy sản ở vùng biển Đồng Nai có thể đạt 4 tấn/km2 (trong khi vùng biển các tỉnh miền Trung chỉ đạt 2 - 4 tấn/km2).

Nghề đánh bắt, khai thác thủy sản ở Đồng Nai vài năm đầu sau ngày giải phóng có sự giảm sút về số tàu thuyền, ngư dân và sản lượng do nhiều nguyên nhân: máy móc, ngư cụ hư hỏng dần không được thay thế, xăng dầu khó khăn, nạn vượt biên ra nước ngoài gia tăng... Lực lượng đánh bắt chủ yếu là các hộ ngư dân cá thể, lực lượng quốc doanh đánh cá rất nhỏ bé.

 

Danh mục

Đơn vị tính

1976

1977

1978

 

 

Tổng số

QD

Tổng số

QD

Tổng số

QD

-Ngư dân

người

9.443

 

9.975

 

8.135

 

-Tàu thuyền có động cơ

cái

2.506

52

2.258

68

1.978

62

-Ghe có động cơ

cái

192

 

191

 

192

 

-Sản lượng đánh bắt

tấn

32.702

920

41.905

1.325

31.567

1.100

                           Số liệu: Cục Thống kê Đồng Nai

Từ Đại hội Đảng bộ tỉnh Đồng Nai khóa III (năm 1980), nghề cá được coi là thế mạnh thứ tư của tỉnh (sau công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp). Các phương tiện khai thác, đánh bắt được tăng cường, sản lượng thủy sản tăng lên nhanh chóng:

 

Danh mục

Đơn vị tính

1981

1982

1983

1996

Tàu ghe có động cơ

Cái

1.032

992

1.050

1.350

Công suất

CV

13.568

14.950

15.800

9.162

Ghe không gắn máy

Cái

2.100

2.136

2.100

1.255

Sản lượng đánh bắt

Tấn

8.000

12.000

12.700

4.500

(Số liệu: Ty thủy sản Đồng Nai năm 1983 và Cục Thống kê qua các năm)

Nghề nuôi thủy sản trước ngày giải phóng không đáng kể, chỉ có vài bè cá ở rạch Cát (một nhánh sông Đồng Nai) thuộc xã Bùi Tiếng. Năm 1977, toàn tỉnh mới có 75 ha nuôi tôm cá cho sản lượng 38 tấn. Từ đó việc nuôi tôm, cá phát triển nhanh:

Danh mục

ĐV T

1983

1984

1995

1996

1997

- Diện tích nuôi thủy sản.

Trong đó nuôi tôm nước lợ

ha

ha

964

534

1.643

1.028

26.904

579

25.888

485

25.960

546

- Sản lượng.

Trong đó: SL tôm nước lợ

Tấn

Tấn

90

60

1.160

160

4.870

22

5.833

238

6.615

262

(Số liệu: Ty thủy sản Đồng Nai và Cục thống kê Đồng Nai qua các năm)

Thủy sản nuôi nước ngọt gồm: cá chép, cá rô phi, cá tra, cá trê, cá lóc (lóc bông và lóc đen) và từ năm 1976 có thêm cá mè trắng,mè hoa, cá trắm cỏ đưa từ miền Bắc vào. Bốn năm trở lại đây người ta nuôi thêm cá bống tượng, một loại cá nước ngọt có giá trị thương mại rất cao (cá có trọng lượng từ 0,4 - 0,5 kg/con, giá bán từ 80.000đ - 90.000đ/kg, cá có trọng lượng từ 0,8 - 1 kg/con giá bán khoảng 120.000 đ/kg); những người nuôi và đánh bắt được cá bống tượng nhưng không bao giờ dám ăn vì “quá lãng phí đối với họ”, vì thế ngư dân nói vui “cá bống tượng là cá trung lưu”.

Ở các huyện ven biển: Châu Thành, Long Đất, Xuyên Mộc, Long Thành (sau này là Nhơn Trạch) người ta nuôi tôm nước lợ bằng cách đắp đê bao từng khoảnh từ 1 - 2 ha (dân địa phương gọi là làm đùng). Nước thủy triều lên mang theo tôm giống và thức ăn cần thiết vào các khoảnh bãi triều đó - dân trong nghề gọi là đùng chìm. Cứ khoảng 2 - 3 tháng người ta thu hoạch một lần. Nuôi tôm quảng canh theo cách làm đùng chìm thì vốn đầu tư thấp so với làm đùng nổi (đắp bờ cao hơn mức triều cường, có cống lấy tôm giống và thức ăn do nước biển mang vào) và cho năng suất thấp từ 50 - 200 kg/ha/năm. Đến năm 1984, diện tích nuôi tôm nước lợ đạt 1028 ha, thu sản lượng 160 tấn, bình quân 155 kg/ha/năm.

Từ cuối thập niên 70 đến giữa thập niên 80, tỉnh Đồng Nai tiến hành cải tạo quan hệ sản xuất nghề cá (cả nghề nuôi và đánh bắt thủy sản), các tập đoàn sản xuất nghề cá được thành lập, lực lượng quốc doanh được tăng cường, nhưng công cuộc xây dựng hợp tác hóa nghề cá chưa hoàn toàn dựa trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi..., nên nhanh chóng tan rã. Người ta trở về đánh bắt, nuôi thủy sản theo hộ gia đình là chính. Lực lượng quốc doanh đánh bắt, nuôi thủy sản suy yếu dần do không cạnh tranh nổi trong cơ chế thị trường.

 Kể từ khi tách Vũng Tàu thành lập đặc khu trực thuộc Trung ương, Đồng Nai không còn Ty thủy sản và lực lượng quốc doanh đánh bắt, nuôi thủy sản cũng được chuyển giao toàn bộ cho Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo. Đến năm 1995, sau khi có hồ thủy điện Trị An, tỉnh mới quyết định thành lập Công ty Thủy sản Trị An (tiền thân từ Ban quản lý lòng hồ Trị An). Năm 1996 thành lập Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Đồng Nai trực thuộc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn - là cơ quan quản lý nhà nước về thủy sản trên địa bàn tỉnh. Hiện nay chi cục có 3 trạm đặt tại 3 khu vực trọng điểm: Nhơn Trạch, Long Thành, Vĩnh Cửu.

Comments