2.1. Nghề đánh bắt, khai thác thủy sản

Từ năm 1976 đến năm 1993, Đồng Nai có các huyện tiếp giáp biển như: Long Đất, Châu Thành, Xuyên Mộc, thì nghề khai thác thủy sản của tỉnh có bước phát triển khá mạnh. Từ năm 1993, sau khi chia tách tỉnh, Đồng Nai không còn biển, vì thế nghề khai thác thủy sản chỉ còn trên các sông ngòi và hồ chứa nước lớn, nhưng có vai trò không kém phần quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế của tỉnh. Ngư dân các xã An Hòa, Long Hưng và một số xã dọc sông Đồng Nai đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong nghề đánh bắt cá và câu tôm càng xanh...

Sản lượng đánh bắt thủy sản toàn tỉnh hiện nay đạt 4600 tấn, trong đó sản lượng cá 3200 tấn, tôm 220 tấn và các thủy sản khác 1150 tấn. Thủy sản khai thác hầu hết tiêu thụ trong tỉnh dưới dạng tươi sống, một phần nhỏ được bán về Thành phố Hồ Chí Minh (chủ yếu là tôm, cá lóc, cá bống tượng) để chế biến xuất khẩu.

 Nghề đánh bắt, khai thác cá trên địa bàn tỉnh hiện nay thu hút trên 5700 người, đóng sửa tàu thuyền 40 người và các dịch vụ thủy sản khác 210 người. Hàng năm ngư dân bỏ vốn đầu tư hàng trăm triệu đồng vào việc đánh bắt và nuôi thủy sản. Các ngân hàng thương mại nhà nước đã cho bà con ngư dân vay hàng chục tỷ đồng vốn ngắn hạn, trung hạn để tăng cường năng lực sản xuất đối với ngành nghề truyền thống có ưu thế. Hầu hết các hộ ngư dân nghề cá (nuôi và đánh bắt thủy sản) đều có hiệu quả kinh tế khá.

Theo số liệu thống kê, năm 1996 tổng số tàu thuyền tham gia đánh bắt thủy sản trên các sông chính, hồ chứa có 1578 chiếc, trong đó số lượng thuyền máy là 1138 chiếc, với tổng công suất 8536 CV. Qua năm 1997, nghề khai thác thủy sản được tỉnh khuyến khích phát triển nên số lượng tàu tham gia đánh bắt thủy sản toàn tỉnh đã tăng lên 2680 chiếc, trong đó số lượng thuyền máy có 1401 chiếc, với tổng công suất là 9508 CV. Song các tàu thuyền đánh bắt thủy sản của Đồng Nai thuộc loại nhỏ, công suất máy thủy nhỏ, năng suất đánh bắt thấp (bình quân năng suất đánh bắt từ 300 kg/CV đến 320 kg/CV), sản lượng khai thác hàng năm không lớn.

Những năm gần đây, nghề đánh bắt, khai thác thủy sản nước lợ vùng Nhơn Trạch giảm sút lớn do bị ô nhiễm của chất thải công nghiệp. Một vùng sông nước mênh mông từ cảng Gò Dầu ra tới gần cửa biển hàng ngày không có bóng một chiếc ghe đánh bắt cá, hàng ngàn ngư dân ở đây phải bỏ nghề vì không thể nuôi sống họ và gia đình bằng nghề đánh bắt, khai thác thủy sản như trước đây.

Theo báo cáo của Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản Đồng Nai, đến cuối tháng 12 năm 1998, toàn tỉnh Đồng Nai có 2.100 tàu thuyền đánh bắt thủy sản hoạt động trong 8 nghề khác nhau, trong đó tàu thuyền có động cơ là 1.193 cái, không động cơ 1.017 cái, cụ thể như sau:

 

TT

Đ. vị

Số tàu thuyền

Ngành nghề

Tổng số

Thủ công

Động cơ

Lưới kéo

Lưới vây

Lưới rê

Lưới vó

Câu

Tôm

Cố định

Khác

1

B.Hòa

456

50

406

438

-

-

-

03

04

09

02

2

V.Cửu

166

65

101

30

-

34

51

05

46

-

-

3

Đ.Quán

386

24

362

-

-

180

73

27

99

-

07

4

T.Nhất

30

17

13

-

-

12

04

-

03

-

11

5

LThành

411

310

101

198

-

185

-

-

-

25

03

6

N.Trạch

760

550

210

52

-

359

-

-

-

300

49

7

T.Phú

01

01

-

-

-

-

-

01

-

-

-

8

T.cộng

2.210

1.017

1.193

718

-

770

128

36

152

334

72

Hình thức khai thác, đánh bắt thủy sản ở Đồng Nai khá đa dạng. Việc lựa chọn hình thức đánh bắt phụ thuộc vào mùa vụ và cỡ loại ghe, tàu. Ngư cụ thông dụng được ngư dân Đồng Nai sử dụng là: lưới kéo, lưới vó, lưới rê, câu và đăng đáy, có thể xếp vào 5 họ:

- Họ lưới kéo: chủ yếu là nghề cào te. Nghề cào dùng tàu thuyền kéo lưới dạng túi để lọc nước thu cá; nghề te dùng tàu thuyền đẩy lưới. Hiện nay do mật độ thủy sản trong các sông, hồ rất thấp nên người ta “biến tướng” hai nghề này (cào, te) thành ”cào, te điện“. Tức là ở hai mép ngư cụ người ta gắn thêm vào 2 điện cực mạnh (bình điện acquy 120A). Đây là hình thức đánh bắt cá có tính hủy diệt bị nghiêm cấm, nhưng vì cuộc sống khó khăn nên nhiều người vẫn lén lút hoạt động (vùng Nhơn Trạch và Long Thành hiện nay có khoảng 300 ghe thuyền sử dụng hình thức đánh bắt kiểu này).

 - Họ lưới vây: gồm lưới vây rút chỉlưới rùng. Nghề lưới vây rút chỉ thường đánh bắt xa bờ vào ban đêm hơn lưới rùng. Các nghề này dùng lưới quây bọc để bắt đàn cá trong vòng vây của lưới (lưới thường rất dài). Từ khi không còn biển thì họ lưới vây chỉ còn một số ít sử dụng để đánh bắt cá trên sông Đồng Nai và hồ Trị An.

- Họ lưới rê: gồm lưới quàng, lưới cán lưới tôm. Người ta dùng lưới chắn ngang đường đi của cá để bắt. Họ lưới rê hiện nay khá phổ biến ở Đồng Nai

-Họ vó: gồm mành chài và mành đèn, trước đây khá phát triển. Nghề mành chài dùng các vật “chà" đặt ở biển tạo bóng râm để dẫn dụ cá đến trú ngụ mà dùng lưới vây để đánh bắt. Nghề này hiện nay ở Đồng Nai không còn vì không còn biển. Nghề mành đèn thì dùng ánh sáng (đèn manchon thắp bằng dầu, đèn ống thắp bằng bình accu...) để dẫn dụ mực hoặc các loài cá thích ánh sáng... đến tập trung rồi kéo lưới đã bủa sẵn như cất vó... Nghề mành đèn hiện được sử dụng nhiều ở hồ Trị An để đánh bắt các loại cá con như cá sơn, cá bống... làm thức ăn cho cá bè.

- Họ đáy: là ngư cụ cố định gồm dàn lưới đan như cái túi đặt trên sông, ven bờ biển để bắt thủy sản. Hàng năm cách đánh bắt thụ động này bắt được khoảng 300 - 400 tấn. Họ đáy hiện nay ở Đồng Nai hầu như không còn vì mật độ thủy sản quá thấp, nên đánh bắt bằng hình thức này không hiệu quả.

Ngoài các hình thức đánh bắt thủy sản truyền thống chủ yếu kể trên, những năm gần đây xuất hiện một số hình thức đánh bắt thủy sản trái phép mang tính hủy diệt như: đánh mìn, rà điện, thả các loại thuốc hóa chất độc xuống nước, đánh bắt cá các cỡ (kể cả cá con), đánh bắt cả về mùa cá đẻ... Mặc dù Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản dùng nhiều biện pháp xử lý hành chính, nhưng vẫn không thể ngăn chặn một cách triệt để tình trạng đánh bắt thủy sản trái phép kể trên.

Comments