2.2. Nuôi thủy sản

Tỉnh Đồng Nai sau khi chia tách các huyện Châu Thành, Long Đất và Xuyên Mộc về tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (tháng 8 năm 1993) tuy không còn biển, nhưng 70.000 ha mặt nước hiện tại (bao gồm diện tích ao, hồ, sông, rạch...) và lực lượng lao động nuôi thủy sản khoảng 4850 người cho phép tỉnh Đồng Nai có thể phát triển mạnh nghề nuôi thủy sản trở thành một trong những nghề chính, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Câu ngạn ngữ truyền miệng từ bao đời "Muốn giầu thì nuôi cá, muốn khá thì nuôi heo, muốn nghèo thì nuôi vịt”, tuy ngày nay không hoàn toàn đúng với thực tế, nhưng dù sao nó cũng phản ánh nghề nuôi cá vẫn là nghề mang lại hiệu quả kinh tế cao, có thể làm giàu.

Nhân dân ở phường Tân Mai và phường Long Bình Tân (TP Biên Hòa) vẫn tiếp tục nghề truyền thống nuôi cá bè trên sông Đồng Nai, nguồn lợi thu được hàng năm khá lớn. Riêng hai huyện Long Thành và Nhơn Trạch là nơi hội tụ nhiều sông, rạch như suối Cả, sông Buông, sông Nhạn, sông Lòng Tàu, sông Thị Vãi, sông Đồng Nai, sông Đồng Môn, sông Đồng Tranh, sông Ông Kèo với hàng trăm rạch, tắc chằng chịt là một mạng lưới giao thông quan trọng, đồng thời là tiềm năng nguồn lợi thủy sản đáng kể. Những đặc sản nổi tiếng ở vùng này có thể kể đến tôm, bong bóng cá đường, cá chẽm là những mặt hàng xuất khẩu có giá trị, đem lại nguồn lợi kinh tế lớn cho ngư dân.

 Nuôi thủy sản ở Đồng Nai bao gồm nuôi thủy sản nước ngọt và nuôi trồng thủy sản nước lợ.

II.2.1. Nuôi thủy sản nước ngọt:

Tuy đã có từ lâu ở Đồng Nai, nhưng trước đây chỉ khai thác, tận dụng những diện tích mặt nước nhỏ (ao, hồ, đầm) và thường đạt năng suất rất thấp, nói đúng hơn là mới chỉ dừng ở mức thả cá chứ chưa phải nuôi cá (đúng theo nghĩa của nó).

a) Nghề nuôi thả cá trên các hồ chứa lớn:

Đồng Nai hiện có 7 hồ chứa nước có tổng diện tích 33.920 ha mặt nước tự nhiên. Bình quân mỗi hồ chứa có diện tích mặt nước từ 100 ha trở lên, trong đó diện tích có khả năng nuôi các loại thủy sản có hiệu quả là 24.410 ha. Riêng hồ thủy điện Trị An nằm trên địa bàn giáp ranh 3 huyện Vĩnh Cửu, Định Quán và Thống Nhất có diện tích mặt nước 23.500 ha giữ vị trí quan trọng trong việc phát triển nuôi thủy sản của tỉnh trong hiện tại và trong tương lai. UBND tỉnh Đồng Nai đã quyết định giao hồ Trị An cho Công ty thủy sản Đồng Nai quản lý và tổ chức sản xuất kinh doanh thủy sản, 6 hồ còn lại do Công ty thủy nông Đồng Nai và các huyện quản lý để khai thác thủy nông kết hợp với nuôi thủy sản.

Theo số liệu của Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, số lượng cá được thả xuống các hồ chứa mỗi năm từ 8 đến 9 triệu con. Trong đó, riêng hồ Trị An thả khoảng 5 triệu cá con các loại, chủ yếu là cá mè, cá trắm cỏ, cá trôi, cá chép có kích thước từ 6 đến 8 cm. Cá được nuôi thả trong các hồ chứa có mức tăng trưởng tương đối nhanh và tăng trọng khá. Sau một năm mỗi con cá thả đạt trọng lượng trung bình từ 1,5 đến 2 kg. Những nhà chuyên môn còn tính được: năng suất bình quân thu hoạch từ hồ chứa Trị An đạt từ 40 kg đến 100 kg/ha. Các hồ chứa còn lại đạt từ 100kg đến 200 kg/ha. Riêng hồ chứa sông Thao (huyện Thống Nhất) có thể đạt năng suất tới 1500 kg/ha.

b) Nghề nuôi thả cá trên bàu, hồ, đập nhỏ:

Tuy diện tích nuôi thả cá ở khu vực có diện tích nhỏ hơn (dưới 100 ha), nhưng năng suất thu hoạch ở các hồ, bàu, đập này có thể đạt từ 400 đến 600 kg/ha. Xã Phú Thanh (huyện Tân Phú) có 52 hộ tham gia tổ nuôi cá, với diện tích mặt nước đầm khoảng 200 ha. Người đầu tiên năm 1993 nuôi cá ở đây là các ông Phạm Thế, Phạm Văn Phúc và một vài hộ gia đình khác lên rừng lấy mun, lồ ô kết thành đăng, chia mặt hồ thành từng ô nhỏ để chia nhau sản xuất. Năm 1994, mỗi gia đình chỉ đầu tư 5 triệu đồng, cuối năm thu 27 triệu đồng. Năm 1997, ông Phúc nuôi 1,8 ha cá các loại, thu lãi trên 50 triệu đồng. Ở xã Bàu Cá, huyện Thống Nhất gần trăm hộ dân góp vốn cổ phần để nuôi cá trên bàu khoảng 70 ha, mỗi năm thu được lợi nhuận khoảng 4-5 triệu đồng/hộ

c) Nghề nuôi cá bè:

Nghề nuôi cá bè ở Đồng Nai đã có từ lâu. Trước năm 1975, tại xã Bùi Tiếng (nay là phường Tân Mai) mới xuất hiện một vài bè nuôi cá chép, cá lóc bông với quy mô nhỏ. Năm 1989, nghề nuôi cá bè thật sự trở thành một nghề mới, có sức thu hút lớn đối với người nuôi cá Đồng Nai. Hiện nay nghề nuôi cá bè hình thành ở hai vùng lớn: Làng cá bè Tân Mai nuôi chủ yếu cá chép; vùng cá bè La Ngà và lòng hồ Trị An nuôi chủ yếu cá lóc bông và cá lóc đen, ngoài ra còn có một số bè nuôi cá bống tượng, cá sấu...

Năm 1991, khu vực La Ngà - Trị An có 300 bè nuôi cá, đến năm 1996 tăng lên 720 bè và năm 1997 số lượng bè nuôi cá ở khu vực này đã tới 825 bè. Ở hạ lưu sông Đồng Nai có làng cá bè Tân Mai hiện nay có khoảng 210 bè nuôi cá. Tính chung trên địa bàn tỉnh Đồng Nai hiện nay có khoảng 1.035 bè nuôi cá. Những người nuôi cá bè trên lòng hồ Trị An - La Ngà chủ yếu là kiều dân Cămpuchia, họ đến Đồng Nai để lánh nạn thời chiến tranh biên giới Tây Nam, sau khi có hồ Trị An, họ nhanh chóng chuyển sang nghề nuôi cá bè một trong những nghề truyền thống của họ ở Biển Hồ.

 Nuôi cá bè là hình thức nuôi thâm canh: nuôi với mật độ cao, chủ động cho ăn nên cá lớn nhanh. Sản lượng nuôi bình quân đạt 700 kg/bè. Nhiều bè nuôi dưỡng tốt có thể đạt 1.000 kg/bè (mỗi bè từ 8 - 12m3). Năm 1997, tổng sản lượng cá bè đạt hơn 725 tấn, không chỉ đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho nhân dân trong tỉnh, mà còn bán cho thành phố Hồ Chí Minh và xuất khẩu.

Nghề nuôi cá bè hiện tại đang gặp khó khăn. Vùng La Ngà do không được quy hoạch cụ thể nên số lượng bè cá phát triển quá lớn làm ô nhiễm nguồn nước hồ thủy điện Trị An (nhất là về mùa khô), cá nuôi dễ nhiễm bệnh. Còn vùng cá bè Tân Mai do nguồn nước thải ở Khu công nghiệp Biên Hòa làm ô nhiễm môi sinh khiến nguồn thức ăn tự nhiên bị cạn kiệt, người nuôi phải tăng sử dụng thức ăn chế biến, làm giảm hiệu quả kinh tế.

d) Nghề nuôi cá ao, đầm, mương, rạch, ruộng trũng:

Diện tích mặt nước nuôi thả cá trong ao, đầm, mương, rạch... trên địa bàn toàn tỉnh hiện nay trên 960 ha. Ở nhiều địa phương trong tỉnh, bà con tận dụng ao, đầm, mương, rạch, trũng để thả cá theo hình thức quảng canh cải tiến và bán thâm canh. Hình thức nuôi thả trên đây có đầu tư và chăm sóc tốt, do đó cho sản lượng thu họach hàng năm trung bình đạt từ 1200 kg đến 1300 kg/ ha mặt nước. Mỗi năm cung cấp sản lượng không dưới 1200 tấn cá các loại phục vụ nhu cầu tiêu thụ trong và ngoài tỉnh. Thủy sản nuôi trong các ao, đầm, rạch chủ yếu là cá tra, cá trê vàng, cá rô phi, cá chép, cá mè, các loại cá trắng... Năm 1980 - 1981 rộ lên phong trào nuôi cá trê phi, hồi đó “nhà nhà, người người nuôi cá trê phi”. Ngay nội ô thành phố Biên Hòa hễ nhà nào có khoảng 3 - 4 m2 đất đều có thể đào ao thả cá trê phi. Lúc bấy giờ một số người làm nghề sản xuất cá giống trê phi phất lên làm giàu nhanh chóng. Ngoài ra còn “sản sinh” một đội quân đông đảo chuyên khai thác trùn chỉ để bán cho những người nuôi cá trê phi cũng phất lên khá nhanh. Chỉ sau vài năm, phong trào nuôi cá trê phi lắng xuống do có tin đồn “ăn cá trê phi sẽ bị bệnh cùi”.

e) Nghề sản xuất cá giống:

Do nhu cầu thúc đẩy nghề nuôi thủy sản nước ngọt trên địa bàn tỉnh ngày càng phát triển, tỉnh đã thành lập 3 cơ sở quốc doanh sản xuất ương cá giống: trại Bàu Cá, trại sông Mây, trại Long Bình Tân để cung cấp giống cá thả ở lòng hồ Trị An và phong trào nuôi thả cá trong dân. Các công trình nghiên cứu thức ăn cho cá, phương pháp cho cá đẻ nhân tạo, ương cá bột... ở hai cơ sở sản xuất cá giống quốc doanh nói trên đã thành công và đưa vào áp dụng rộng rãi trong các cơ sở nhân giống cá trên địa bàn.

Hiện nay, tỉnh Đồng Nai có 34 cơ sở ương nuôi cá giống, với tổng diện tích 40,8 ha. Ngoài 2 cơ sở quốc doanh đang hoạt động là Trại cá giống Bàu Cá và Trại cá giống sông Mây, với diện tích ương nuôi rộng 4,8 ha (Trại cá giống Bàu Cá do Công ty Thủy sản Đồng Nai quản lý và Trại cá giống sông Mây do Công ty khai thác công trình thủy lợi Đồng Nai quản lý, riêng Trại cá giống Long Bình Tân trước đây đã giải thể từ khi tỉnh không còn biển), 32 cơ sở còn lại do tư nhân quản lý với diện tích ương nuôi 36 ha, nhiều nhất ở phường Tân Vạn (TP. Biên Hòa).

Các trại cá giống và các cơ sở ương nuôi cá của tỉnh hàng năm sản xuất được 5 triệu cá bột, 37 triệu cá ương nước ngọt với 29 loại giống cá các loại cung cấp cho nhu cầu nuôi thả cá đang phát triển mạnh trong dân chúng. Tuy nhiên, so với nhu cầu thực tế, số lượng cá giống sản xuất hàng năm trong tỉnh vẫn còn thiếu, nên một lượng giống không nhỏ vẫn phải mua ở TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Tây.

II.2.2. Nuôi thủy sản nước lợ:

Thủy sản nước lợ là thức ăn giàu chất đạm, dễ tiêu, nên có giá trị cao trên thị trường quốc tế. Về mặt kinh tế, nuôi thủy sản nước lợ đòi hỏi vốn lớn (nuôi bán thâm canh), nhưng mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Chủ trương của tỉnh là mở rộng diện tích nuôi tôm, cá nước lợ ở hai huyện Long Thành và Nhơn Trạch, nhằm tăng sản lượng và giá trị nuôi trồng. Ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn đã phối hợp với hai huyện nói trên, bước đầu vận động mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản từ 600 ha năm 1995 lên 700 ha năm 1996, trong đó có 600 ha nuôi tôm. Tuy nhiên diện tích nuôi tôm cá nước lợ ở khu vực huyện Nhơn Trạch từ năm 1996 trở lại đây tăng giảm thất thường do ảnh hưởng của tình trạng ô nhiễm môi trường. Mặt khác hình thức nuôi phổ biến quảng canh thô sơ, nên sản lượng đạt chưa cao. Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn: tổng diện tích nuôi tôm cá trên mặt nước lợ trên địa bàn của năm 1997 giảm xuống còn 482 ha, nhưng nhờ áp dụng hình thức quảng canh cải tiến và nửa thâm canh nên nuôi trồng đạt được 242 tấn tôm và 145 tấn cá, trong đó chủ yếu là các loài tôm cá có giá trị kinh tế cao như tôm sú, tôm thẻ, tôm sắt...

Comments